giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5 6 tuổi thông qua dạy học chủ đề bản thân - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
----------------------------------

TRẦN THỊ THÙY

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO
TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA DẠY
HỌC CHỦ ĐỀ BẢN THÂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học
TS. PHẠM QUANG TIỆP

HÀ NỘI, 2014


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo
TS.Phạm Quang Tiệp người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá
trình nghiên cứu thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn BGH, các thầy giáo, cô giáo khoa GDTH Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức
cũng như kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Mặc dù em đã cố gắng hết sức để hoàn thành tốt khóa luận nhưng với
điều kiện, thời gian nghiên cứu cũng như vốn kiến thức còn hạn chế nên cũng
không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của quý thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2014
SVTH

trò vô cùng quan trọng. Nó giúp trẻ chuyển tri thức, tình cảm, niềm tin thành
giá trị xã hội, thành hoạt động thực tế mang tính tích cực xã hội, tính xây
dựng đồng thời giúp trẻ có được thành công trong hoạt động lao động, hoạt
động vui chơi và rèn luyện. Kĩ năng sống như cây cầu giúp trẻ vượt qua
những bến bờ thử thách, ứng phó với những thay đổi của cuộc sống hàng
ngày, giúp trẻ thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ đối với cá nhân, tập thể xã
hội. Nhờ có kĩ năng sống mà trẻ thích nghi với cuộc sống không ngừng biến
đổi. Chính vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô
cùng cần thiết.
Hiện nay việc giáo dục kĩ năng sống đã bắt đầu được chú ý và đưa vào
giảng dạy ở các trường phổ thông trong các hoạt động chính khóa và ngoại
khóa. Đặc biệt giáo dục kĩ năng sống đã được đưa vào trường mầm non nhằm
giúp trẻ có những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống. Nhưng trên thực tế hiện
nay việc giáo dục kĩ năng sống chỉ được thực hiện trên lý thuyết hoặc theo

1


một khuôn mẫu nào đó. Nghĩa là việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ đã được
chú ý đến nhưng nội dung giáo dục chưa được đầy đủ, chưa cụ thể. Các biện
pháp giáo dục của giáo viên còn mang tính lý thuyết, khuôn mẫu, chủ quan áp
đặt, tản mạn, không logic, gò ép trẻ. Chính vì vậy việc giáo dục kĩ năng sống
cho trẻ không đạt được hiệu quả cao.
Để nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ, giáo dục kĩ năng
sống có thể thông qua các hình thức chính như: thông qua các chủ đề, các
hoạt động (hoạt động vui chơi, học tập, lao động…).
Trẻ 5 - 6 tuổi là giai đoạn chuẩn bị bước vào trường phổ thông. Chính
vì vậy việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ là rất cần thiết. Giáo dục kĩ năng
sống cho trẻ thông qua dạy học chủ đề bản thân mang lại hiệu quả cao trong
việc cung cấp cho trẻ những kiến thức cũng như những kĩ năng sống cần thiết

cho việc nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai, nghiên
cứu thực tiễn.
6.2. Phương pháp quan sát
- Đối với giáo viên: Quan sát giáo viên về việc giáo dục kĩ năng sống
cho trẻ.
- Đối với trẻ: Quan sát kĩ năng sống của trẻ.
6.3. Phương pháp phỏng vấn
- Mục đích: Thu thập thông tin từ phía giáo viên về:
+ Tầm quan trọng của kĩ năng sống đối với trẻ mầm non.
+ Nắm bắt thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua
việc nghiên cứu.
- Tiến hành: Khảo sát, thu thập thông tin.
7. Giả thuyết khoa học
Vấn đề rèn luyện kĩ năng sống cho trẻ đã được chú trọng nhưng chưa
thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến
điều đó như: do nhận thức của giáo viên, do chương trình chưa phù hợp, do sử

3


dụng những phương pháp chưa khoa học, hình thức tổ chức còn hạn chế…
Nếu đề xuất được các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
thông qua dạy học chủ đề bản thân thì sẽ cải thiện được kĩ năng sống cho trẻ.

4


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ

Quan niệm của Nguyễn Quang Uẩn cũng phần nào khái quát hơn về kĩ
năng sống: “Kĩ năng sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kĩ
năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện các công
việc và tham gia vào cuộc sống hàng ngày đạt kết quả, trong những điều kiện
xác định của cuộc sống” (Tạp chí tâm lý học 6/2008)
1.1.1.2. Đặc điểm của kĩ năng sống
Kĩ năng sống bao gồm những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Đó là khả năng con người sống một cách phù hợp và hữu ích (từ góc
độ sức khỏe thể hiện ngay cả biết ăn thực phẩm dinh dưỡng trong một bữa).
- Đó là khả năng con người quản lý được những rủi ro, không chỉ đối
với bản thân mà còn thuyết phục được mọi người chấp nhận các biện pháp
ngăn ngừa rủi ro (từ góc độ sức khỏe thể hiện cả ở bệnh tật).
- Đó là khả năng con người quản lý một cách thích hợp bản thân, người
khác và xã hội trong cuộc sống hàng ngày, điều này có thể xem như là năng
lực tâm lý xã hội của kĩ năng sống.
- Kĩ năng sống liên quan đến tâm vận động.
Tâm vận động là một chức năng tâm - sinh lý của cá nhân, vận hành và
thể hiện sự tác động tương hỗ, phụ thuộc lẫn nhau giữa vận động của cơ thể
và tâm lý, thông qua đó thể hiện sự tác động qua lại của con người với thế
giới xung quanh, làm phát triển những khả năng con người.
- Kĩ năng sống thường gắn với một bối cảnh để người ta có thể hiểu và
thực hành một cách cụ thể. Nó thường gắn liền với một nội dung giáo dục
nhất định.

6


- Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Kĩ năng
sống mang tính cá nhân vì là năng lực của cá nhân. Kĩ năng sống còn mang
tính xã hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi

- Ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS.
- Phòng tránh rượu, thuốc lá và ma túy.
- Ngăn ngừa thiên tai, bạo lực rủi ro.
- Hòa bình và giải quyết xung đột.
- Gia đình và cộng đồng.
- Giáo dục công dân.
- Bảo vệ thiên nhiên và môi trường.
- Phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ…
1.1.2.3.Cách phân loại của tổ chức Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
(UNICEF)
Với mục đích là giúp người học có những kĩ năng ứng phó với các vấn
đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF đưa ra cách phân loại kĩ
năng sống theo các mối quan hệ như sau:
- Kĩ năng nhận biết và sống với chính mình:
+ Kĩ năng nhận thức: Mỗi người cần nhận biết và hiểu rõ về bản thân,
những tiềm năng của mình, những mặt mạnh, mặt yếu của mình. Khi con
người càng nhận thức về khả năng của mình thì càng có khả năng sử dụng các
kĩ năng sống khác một cách có hiệu quả, và càng có năng lực chọn những gì
phù hợp với các điều kiện sẵn có của bản thân, của xã hội mà họ sống và lựa
chọn cả những gì phù hợp với khả năng của bản thân.
+ Lòng tự trọng: là kĩ năng sống giúp ta cảm nhận được bản thân mình
và lòng tự trọng giúp ta làm chủ được thế giới xung quanh theo hướng của
những giá trị tích cực.
Nếu con người có lòng tự trọng cao hay tích cực:
• Người đó sẽ cảm nhận tốt về bản thân.

8


• Người đó tự tin và quý trọng bản thân.

những giá trị và niềm tin của bản thân nếu phải đương đầu với những ý nghĩ
hoặc những việc làm trái ngược của bạn bè cùng lứa tuổi hoặc của người khác.
+ Thương lượng: là một kĩ năng quan trọng trong các mối quan hệ giữa
cá nhân với nhau. Nó liên quan đến tính kiên định, sự cảm thông và mối quan
hệ giữa cá nhân với cá nhân, cũng như khả năng thỏa hiệp những vấn đề
không có tính nguyên tắc của bản thân. Nó còn liên quan đến khả năng đương
đầu với những hoàn cảnh của đe dọa hoặc rủi ro tiềm tàng trong các mối quan
hệ giữa các cá nhân với nhau kể cả sức ép của bạn bè…
+ Giao tiếp có hiệu quả: Một trong những kĩ năng quan trọng nhất là
giao tiếp một cách có hiệu quả với mọi người. Khả năng giao tiếp là kĩ năng
lắng nghe và hiểu được người khác…
- Các kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả:
+ Tư duy phê phán: Để đưa ra những quyết định phù hợp, con người
cần có khả năng phân tích một cách phê phán cái đúng, cái hợp lý và cái sai,
cái không hợp lý của thông tin, của quan điểm, cách giải quyết vấn đề… trên
cơ sở đó lựa chọn những thông tin, quan điểm, cách giải quyết thích hợp.
+ Tư duy sáng tạo: tiếp cận với các sự việc mới, phương thức mới, ý
tưởng mới, cách sắp xếp và tổ chức mới được gọi là tư duy sáng tạo. Tư duy
sáng tạo là kĩ năng sống quan trọng bởi vì chúng ta thường xuyên bị đặt vào
hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra. Khi gặp những hoàn cảnh như
vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để có thể đáp ứng lại một cách
phù hợp.
+ Ra quyết định: Hàng ngày mỗi người đều phải ra nhiều quyết định,
có những quyết định tương đối đơn giản và có thể không ảnh hưởng nghiêm
trọng đến định hướng cuộc sống, nhưng cũng có những quyết định nghiêm túc
liên quan đến các mối quan hệ, tương lai cuộc sống công việc…Do vậy, điều

10



- Từ những phân tích về kĩ năng sống và mục tiêu rèn luyện kĩ năng
sống, có thể rút ra quan niệm về kĩ năng sống như sau: “Rèn kĩ năng sống là
hình thành cuộc sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành
vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp
người học có cả kiến thức, thái độ, kĩ năng thích hợp”.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kĩ năng sống là những kĩ năng
mang tính tâm lý xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình
huống hàng ngày để tương tác một các hiệu quả với người khác và giải quyết
có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc
(UNESCO): cho rằng kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ
các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
Theo UNESSCO: Kĩ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục:
- Học để biết: kĩ năng tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán,
ra quyết định, nhận thức được hậu quả.
- Học để tự khẳng định mình: các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với
căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin.
- Học để sống với người khác: các kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương
lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông.
- Học để làm: kĩ năng thực hiện các công việc và các nhiệm vụ như kĩ
năng đặt mục tiêu, đảm bảo trách nhiệm.
Kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể cần thiết cho cuộc
sống hàng ngày của con người.
Người có kĩ năng sống là người có khả năng làm chủ bản thân, khả
năng ứng xử phù hợp và khả năng tích cực khi ứng phó.
Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội, giúp nâng cao
chất lượng cuộc sống và các mối quan hệ.

12




bản thân và các bạn và biết chấp nhận sự khác biệt đó. Có khả năng nhận thức
về giá trị, vị trí của mình trong gia đình, lớp và xa hơn là ngoài xã hội.
Ví dụ: trong chủ đề “bản thân” khi học xong bài “trò chuyện về các bộ
phận trên cơ thể bé”, trẻ phải biết trên cơ thể mình có những bộ phận nào và
tác dụng của nó là gì?
- Kĩ năng xác định giá trị: Ngay từ tuổi mầm non cần giáo dục cho trẻ
kĩ năng xác định giá trị đó là hình thành hành vi đạo đức cho trẻ. Giáo dục
hành vi đạo đức là giáo dục cho trẻ biết vâng lời, ngoan ngoãn và có ý thức
trách nhiệm trong công việc của mình. Giáo dục nề nếp trong sinh hoạt hàng
ngày, trong gia đình, ở lớp và ngoài xã hội. Giáo dục trẻ biết những việc nên
và không nên để bảo vệ môi trường. Giáo dục trẻ thái độ đối với những việc
làm sai trái hay những hoạt động sai trái. Giáo dục lòng tự trọng cho trẻ cũng
là giáo dục những hành vi đạo đức. Giáo dục trẻ kĩ năng hoạt động tích cực và
chủ động.
Ví dụ: trong một tình huống ở lớp 5 tuổi B: khi bạn Hoa đang chơi ở
góc phân vai Hoa đang bế búp bê và cho búp bê ăn thì bạn Lan đang chơi ở
góc xây dựng chạy sang giằng lấy con búp bê của bạn Hoa. Trong tình huống
này bạn Lan phải biết hành vi của bạn là sai và xin lỗi bạn Hoa.
- Kĩ năng kiểm soát cảm xúc: Đó là rèn luyện kĩ năng tự chủ ở trẻ. Dạy
trẻ kiểm soát cảm xúc của bản thân và có cách ứng xử phù hợp, đó là kiềm chế
cơn dận dữ… dạy trẻ biết xin lỗi và nhận ra hành vi sai trái của mình.
- Kĩ năng tự phục vụ: Đó là kĩ năng vệ sinh cá nhân như tự đánh răng,
tự rửa mặt, tự mặc cởi quần áo, tự đi giầy, tự đi vệ sinh …Kĩ năng phục vụ
trong ăn uống như: tự xếp bàn ghế, bát đĩa trước khi ăn, tự xúc ăn ở trường
cũng như ở nhà. Giáo dục kĩ năng vệ sinh môi trường: tự dọn dẹp phòng, tự
cất đồ chơi sau khi chơi song.
Ví dụ: Bạn Nam lớp 5 tuổi B khi chơi xong đồ chơi đã tự mình cất đồ
chơi đúng nơi quy định, bạn Tuấn khi chơi xong thì không cất đồ chơi.


15


Ví dụ: trong góc chơi “phân vai” gồm 3 bạn Hoa, Lan, Mai các bạn đã
biết phối hợp với nhau thành một nhóm chơi và chơi trò chơi “ khám bệnh”.
Hoa là bác sĩ, Lan là mẹ, Mai là con. 3 người luôn phối hợp với nhau để chữa
bệnh cho em bé.
- Giáo dục kĩ năng thể hiện sự tự tin: Giáo dục trẻ biết tự tin về bản
thân: tự tin về vóc dáng, tính cách, trí óc, tự tin thể hiện cảm xúc, tự tin đứng
trước đám đông và tự tin khi giao tiếp.
Ví dụ: khi cô gọi trẻ lên đứng trước lớp để giới thiệu về bản thân mình
cho cả lớp nghe trẻ phải tự tin, mạnh dạn giới thiệu về mình to và rõ ràng cho
cô và cả lớp cùng nghe.
1.1.3. Khái niệm giáo dục kĩ năng sống
Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình giáo dục trong đó các nhà giáo
dục giúp trẻ có những kĩ năng, dựa vào các kĩ năng đó trẻ thực hiện các kĩ
năng sống với những lời nói, thao tác, hành động thể hiện thái độ, tình cảm,
cảm xúc.
1.1.4. Cách thức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
Các hoạt động ở trường mầm non rất phong phú và đa dạng nhằm phục
vụ trẻ học tập, vui chơi, giúp trẻ phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ,hoạt
động này được tiến hành một cách có mục đích, có kế hoạch với nhiều hoạt
động giáo dục khác nhau. Để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non chúng ta
có rất nhiều con đường, cách thức thực hiện khác nhau. Để đạt được hiệu quả
giáo dục cao nhất cho trẻ về kĩ năng sống chúng ta có thể giáo dục lồng ghép
qua các hoạt động sau:
- Hoạt động học tập
- Hoạt động vui chơi
- Hoạt động lao động

thì có thể giáo dục khả năng phục vụ: tự ăn, tự mặc quần áo. Tự đi giầy, tự
tắm rửa…

17


Trí tuệ phát triển, trẻ có phản xạ nhanh và có thể nói được những câu
dài vì thế có thể tích hợp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ. Lứa tuổi này
những tác động của môi trường sống của những người xung quanh dễ tác
động đến trẻ. Chúng ta cần có những tác động tích cực vào sự phát triển của
trẻ, giáo dục kĩ năng xác định giá trị.
1.2.2. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi
1.2.2.1. Sự phát triển cảm giác, tri giác
Ở tuổi này sự phát triển về cảm giác, tri giác của trẻ phát triển mạnh
mẽ.
- Đặc điểm lĩnh hội chuẩn cảm giác của trẻ mẫu giáo: lúc đầu trẻ lĩnh
hội các biến dạng cơ bản của mỗi loại thuộc tính, sau đó trẻ học phân biệt các
biến dạng của các chuẩn.
- Sự phát triển hành động tri giác của trẻ mẫu giáo: Dần chuyển hành
động định hướng bên ngoài thành hành động tri giác và tăng khả năng định
hướng có mục đích, tính kế hoạch, có điều khiển trong quá trình tri giác.
Nhờ có sự phát triển về cảm giác, tri giác mà trẻ đã biết điều khiển các
hành động của mình, nhờ đó mà quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ trở
nên dễ dàng hơn.
1.2.2.2. Đặc điểm phát triển trí nhớ
- Các hình thức ghi nhớ và ghi nhớ có chủ định bắt đầu xuất hiện ở mẫu
giáo nhỡ và bắt đầu phát triển mạnh ở mẫu giáo lớn do hoạt động của trẻ ngày
càng phức tạp và do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao. Loại
ghi nhớ có chủ định của trẻ chủ yếu vẫn là ghi nhớ máy móc.
- Trí vận động: Trẻ có thể dần dần bỏ hình mẫu, nhưng những lời chỉ

vi phạm hiện thực.
Tưởng tượng của trẻ vẫn chủ yếu mang tính tái tạo, không chủ định.
Tưởng tượng tái tạo của trẻ mang tính có chủ định và tích cực hơn. Tưởng

19


tượng có chủ đích dần được hình thành khi trẻ tự xây dựng ý tưởng, lập kế
hoạch và thực hiện ý tưởng ấy. Trẻ có khả năng tưởng tượng thầm trong óc,
không cần chỗ dựa trực quan ở bên ngoài. Tưởng tượng sáng tạo dần được
phát triển.
1.2.2.5. Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo
Trò chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, các đặc điểm của trò
chơi (đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề) mang tính kí hiệu tượng trưng,
phải có sự tham gia bắt buộc của tưởng tượng, giàu tính cảm xúc, mang tính
tự nguyện, mang tính tự lập. Trong trò chơi, trẻ nhận cho mình một vai nào đó
phù hợp với chủ đề chơi.
Ở trẻ mẫu giáo lớn chủ đề chơi của trẻ đa dạng hơn, phản ánh cuộc
sống hiện thực xa hơn như trò chơi “bác sĩ”, “xây dựng”, “cô giáo”…Thời
gian chơi của trẻ kéo dài hàng giờ hoặc có thể duy trì trong vài ngày. Khi thực
hiện các hành động chơi, trẻ ưu tiên cho việc sử dụng các kết quả của các
hành động đó cho thành viên của trò chơi. Các hành động chơi của trẻ được
rút gọn, được khái quát hóa và mang tính ước lệ. Nội dung chơi cơ bản của trẻ
mang tính quy tắc hành vi xã hội và mối quan hệ xã hội phù hợp với vai chơi.
Trẻ thường cãi nhau cái gì giống với thực tế cái gì không giống với thực tế.
1.2.2.6. Đặc điểm giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi
- Đến cuối tuổi mẫu giáo xuất hiện hình thức giao tiếp cấp cao với
người lớn - giao tiếp nhân cách ngoài tình huống. Trẻ tập trung vào thế giới
con người chứ không phải thế giới đồ vật. Trong các cuộc trò chuyện của trẻ
các chủ đề về đời sống, về công việc của người lớn và các mối quan hệ qua lại

trở thành phương pháp giải quyết các nhiệm vụ trí tuệ. Ngôn ngữ trở thành
công cụ của tư duy và là phương tiện nhận thức.
- Chức năng điều khiển của ngôn ngữ được phát triển biểu hiện trong
sự hiểu các tác phẩm văn học, sự thực hiện hướng dẫn và yêu cầu của người
lớn. Chức năng lập kế hoạch của ngôn ngữ được hình thành khi giải quyết các
nhiệm vụ thực hành và nhiệm vụ trí tuệ.

21


Trích đoạn Dạy học chủ đề bản thân cho trẻ 5-6 tuổi 1 Mục tiêu của chủ đề bản thân Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ thông qua dạy học chủ đề bản thân Xây dựng hệ thống kĩ năng sống giáo dục cho trẻ 5-6 tuổ Thiết kế bài học tích hợp và giáo dục kĩ năng sống Tổ chức dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status