THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG VUI CHƠI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM
NON HUYỆN SƠN HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN
- Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Sơn Hoà, tỉnh Phú
Yên
- Đặc điểm kinh tế - xã hội [17]
Sơn Hòa là một huyện miền núi nằm về phía Tây của
tỉnh Phú Yên; phía Đông giáp huyện Phú Hòa và Tuy An, phía
Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp huyện Tây Hòa và Sông
Hinh. Diện tích tự nhiên 952 km2; dân số trên 57 nghìn người,
đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 34%; toàn huyện có 13 xã và
1 thị trấn, trong đó có 6 xã đặc biệt khó khăn và 4 xã vùng
cao. Huyện Sơn Hòa nằm dọc Quốc lộ 25, tuyến giao thông
huyết mạch nối liền vớicác tỉnh Duyên hải Nam-Trung bộ và
với Tây Nguyênnêntạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu
kinh tế, văn hóa giữa miền núi và đồng bằng, tạo thời cơ để
Sơn Hòa bứt phá và phát triển bền vững.
Nhìn chung, tình hình kinh tế-xã hội của huyện trong
những năm qua tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực
và tương đối toàn diệntừ sản xuất nông nghiệp đến các lĩnh
vực văn hóa – xã hội.
Một số thành tựu đã đạt được thể hiện ở các lĩnh vực
như sau:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng hàng năm từ
11 đến 13%.
- Toàn huyện có gần 300 km đường giao thông, Quốc lộ
Những ngày đầu sau khi thống nhất đất nước, hệ thống
trường lớp trên địa bàn huyện chưa phát triển, hầu như chưa
có xã nào có trường mẫu giáo.
Năm học 1975-1976, nhiều xã có lớp học mẫu giáo như:
Xã Sơn Long, Xã Cà Lúi, Xã Phước Tân…Đã có 8 đơn vị
công lập và 1 đơn vị dân lập. Từ năm 1986 nhờ đường lối đổi
mới của Đảng và kinh tế xã hội ngày càng phát triển, tất cả
các xã đều có trường mầm non. Đây cũng là nền tảng để tạo
điều kiện cho giáo dục vươn lên, mọi người có cơ hội và nhu
cầu đến trường học hơn.Có thể nói việc phát triển hệ thống
trường lớp đầy đủ cả về số lượng lẫn chất lượng ở huyện đã
tạo điều kiện khá tốt cho trẻ đến trường, cho việc hoàn thành
phổ cập giáo dục.
Sau hơn 35 năm quy mô bậc học Mầm non đã phát triển
lên thành 17 đơn vị.Trong đó có 14 đơn vị công lập và 3 đơn
vị dân lậpvà đã huy động được trên 97% trẻ 5 tuổi ra lớp. Với
mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 toàn huyện sẽ duy trì và
phát triển hệ thống các trường đạt chuẩn Quốc gia. Huy động
100% trẻ 5-6 tuổi ra lớp và đặc biệt là tạo điều kiện tốt nhất
cho các em HS các dân tộc thiểu số được thụ hưởng chất
lượng GD chuẩn Quốc gia và qua đó để phát triển chất
lượngGDcủa toàn ngành, đáp ứng mục tiêu và yêu cầu đổi
mới GD phục vụ công cuộc " Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước".
Do số lượng các trường mầm non của huyện nhiều nên
bảng số liệu dưới đây chỉ tập trung mô tả chi tiết các trường
mầm non công lập mà đề tài tiến hành khảo sát thực trạng.
L
L
Mầm non Công
Củng Sơn lập
Mầm non Công
24/3
lập
Mầm non Công
Suối Bạc
Mầm non
Sơn
Nguyên
lập
Công
lập
26
32
3
3
23 10
Trung
đẳng
cấp
S
S
L
14
23
%
53,8
5
71,8
8
L
2
1
12
50
Sơn Long lập
22
3
19 10
24
3
21
9
20
3
17 12
45,4
5
10
37,5 13
60
mầm non
Tổng
Số
lớp
Dưới 30
số
GV
S
L
Mầm non
11
26
%
Từ 30
Từ 41
đến 40
đến 50
S
Mầm non
15,6
6,2
24/3
Mầm non
Suối Bạc
Mầm non
Sơn Nguyên
Mầm non
Sơn Hà
Mầm non
Sơn Hội
Mầm non
Sơn Long
15
32
13 40,63 12 37,5
5
10
24
5
20,83 13 54,17 5
8
20
3
15
15 75
2
2
33,3
3
5
13,6
4
20,8
3
10
2
1
số
số
lớp
HS
trường
mầm non
Trẻ nhà
Trẻ 3-4
Trẻ 4-5
Trẻ 5-6
trẻ
tuổi
tuổi
tuổi
S
S
74 17,17
15
0
10
311
25 8,04 46 14,79 90
8
250
20 8
%
29,5
1
SL %
150
34,8 182
28,9
4
105
38,8
9
Mầm non
Sơn Hội
Mầm non
Sơn Long
10
8
285
235
0
0
0
0
50 17,54 90
- Đối tượng khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng KNS vàGDKNS cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở các trường mầm non
hiện nay, chúng tôi tiến hành khảo sát trên các đối tượng sau:
Chuyên viên: 2 người, CBQL: 21 người, GV: 70 người
và học sinh là 60 cháu học các lớp mẫu giáo 5-6 tuổi ở 7
trường mầm non công lập trên địa bàn huyện Sơn Hòa, tỉnh
Phú Yên đó là:
-Trường mầm non Củng Sơn;
- Trường mầm non 24/3;
- Trường mầm non Suối Bạc;
- Trường mầm non Sơn Nguyên;
- Trường mầm non Sơn Hà;
- Trường mầm non Sơn Hội;
- Trường mầm non Sơn Long.
- Nội dung khảo sát
Căn cứ vào cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu cũng như
mục đích, giới hạn của đề tài, chúng tôi tập trung khảo sát hai
nội dung chính:
- Thực trạng KNS ở trẻ 5- 6 tuổi của các trường mầm
non huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên;
- Thực trạng GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi và thực trạng
GDKNS cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động vui chơi ở các
trường mầm non huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yêncùng các yếu
tố ảnh hưởng đến thực trạng đó.
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu: chúng tôi thực hiện
phương pháp này bằng cách trao đổi trực tiếp với chuyên viên
Phần 1: Nội dung chính của bảng hỏi gồm các câu hỏi
sau:
Nhóm 1: Khảo sát GV đánh giá – xếp hạng về mức độ
phát triển KNS của trẻ từ thấp nhất (1) đến cao nhất (15). (câu
2, 3)
Nhóm 2: Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến KNS của
trẻ 5 – 6 tuổi còn thấp. (câu 5,6)
Nhóm 3: Điều tra những yếu tố hạn chế việc rèn luyện
KNS cho trẻ. (câu 6,8).
Nhóm 4: Những biện pháp rèn luyện KNS cho trẻ. (câu 7)
Ngoài ra, còn có những câu hỏi mở, câu hỏi gián tiếp về
GDKNS như (câu 1)
Kết quả thu được từ bảng hỏi này là cơ sở ban đầu để có
thể xác định thực trạng của KNS của trẻ 5 – 6 tuổi, đồng thời
tìm hiểu được phần nào về những nguyên nhân và hạn chế,
qua đó có thể xây dựng biện pháp tác động rèn luyện KNS
cho trẻ.
Phần 2: Các câu hỏi về thông tin cá nhân của GV, gồm
các câu: tên trường Đại học, Cao đẳng đã tốt nghiệp, năm tốt
nghiệp, năm vào ngành. (phụ lục số 1 và2 ).
Bên cạnh phiếu hỏi GV và CBQL, chúng tôi có xây
dựng phiếu hỏi dành cho PHHS có con 5- 6 tuổi học tại các
cơ sở GDMN được khảo sát với những nội dung liên quan
đến đánh giá thực trạng mức độ KNS của con em họ (Phụ lục
3).
- Phương pháp quan sát: Chúng tôi có tổ chức quan sát
mức độ thể hiện KNS của trẻ 5 – 6 tuổi thông quan hoạt động
vui chơi (Phụ lục số 4).
Sở
Phiếu hỏi
Phỏng vấn
số
SL
%
SL
%
2
2
100
0
0
21
21
210
150
71,43
0
0
(Nguồn khảo sát của tác giả năm học 2017 - 2018)
- Thực trạng kỹ năng sống ở trẻ 5 – 6 tuổi
-Thực trạng kỹ năng sống ở trẻ 5-6 tuổiở các trường mầm
non
Những năm học gần đây, riêng nội dung giáo dục trẻ 5
tuổi có ban hành bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi thông qua 4
lĩnh vực - 28 chuẩn- 120 chỉ số với yêu cầu GV lồng ghép các
chỉ số này vào mục tiêu từng chủ đề sao cho phù hợp để qua
đó dạy trẻ các kiến thức và KNS cần thiết, chuẩn bị về tâm thế
và thể chất cho trẻ 5 tuổi lên lớp 1.
Thực trạng KNS ở trẻ mầm non 5-6 tuổi qua đánh giá của
GV được thể hiện ở bảng sau:
- Thực trạng KNS của trẻ 5-6 tuổi theo đánh giá của GV
Stt
Tên kỹ năng
8
4
KN nhận thức về bản thân
2,13
5
5
KN tự tin và tự trọng
1,79
12
6
KN cảm nhận và thể hiện cảm xúc
1,8
11
7
KN hợp tác với người khác
10
12 KN nhận thức về môi trường xã hội
2,17
4
13 KN nhận thức về môi trường tự nhiên
2,4
1
14 KN nhận thức về nghệ thuật
2,21
2
15 KN sáng tạo
1,59
15
(Nguồn khảo sát của tác giả năm học 2017 - 2018)
Chú thích: Với 4 mức độ: Tốt: 4đ; Khá: 3đ; TB: 2đ và Yếu: 1đ.
của phụ
huynh
TB
Thứ
bậc
1
KN hiểu biết và chăm sóc sức khỏe, dinh
dưỡng
1,98
8
2
KN chăm sóc vệ sinh cá nhân
2,04
6
3
KN giữ an toàn cá nhân
1,97
2,17
1
8
KN thích ứng trong quan hệ xã hội
1,92
12
9
KN tôn trọng người khác
1,99
7
10 KN sử dụng lời nói
2,07
4
11 KN giao tiếp
1,97
các 7 trường mầm non công lập trên địa bàn huyện Sơn Hòa
chúng tôi thu được kết quả như sau: Đa số các phụ huynh đều
cho rằng con của họ thực hiện nhiều KNS còn yếu ở thời điểm
hiện tại, ít có cháu thực hiện ở mức “tốt” và “khá”. Nhìn vào
bảng 2.6 ta thấy KN được phụ huynh đánh giá cao nhất mà trẻ
thực hiện được đó là KN hợp tác với người khác với ( X =2,17)
xếp vị trí số 1, tiếp đến là KN cảm nhận và thể hiện cảm xúc (
X
=2,11) xếp vị trí thứ 2 và vị trí thứ 3 là KN nhận thức về
môi trường tự nhiên với ( X =2,1). Bên cạnh những KNS mà
phụ huynh cho rằng con họ thực hiện được tốt hơn ở thời
điểm hiện tại như đã nêu ở trên thì còn có rất nhiều KNS được
phụ huynh cho rằng con họ thực hiện còn yếu như: KN sáng
tạo( X =1,91) xếp vị trí số 13, KN thích ứng trong quan hệ xã
hội( X =1,92) xếp vị trí số 12, KN nhận thức về nghệ thuật( X
=1,93) xếp vị trí số 11…Nhìn chung theo sự đánh giá của phụ
huynh thì có 8/15 KNS có giá trị trung bình ( X
Thứ
bậc
1,97
10
2,05
8
3
KN giữ an toàn cá nhân
2,15
6
4
KN nhận thức về bản thân
2,08
7
5
9
KN tôn trọng người khác
2,03
9
10 KN sử dụng lời nói
2,17
5
11 KN giao tiếp
2,22
4
12 KN nhận thức về môi trường xã hội
2,17
5
13 KN nhận thức về môi trường tự nhiên
2,27
Như vậy, qua các ý kiến đánh giá khách quan của GV và
PHHS cũng như qua quan sát trực tiếp của chúng tôi về 15
KNS của trẻ mầm non 5-6 tuổi cho thấy có sự thống nhất
chung là các KNS hiện có ở trẻ mầm non 5- 6 tuổi là tương
đối thấp - ở mức có những chưa tốt, chưa rõ nét trong thể
hiện. Điều này đặt ra cho CBQL cũng như GV mầm non ở
huyện Sơn Hòa phải có những biện pháp kịp thời nhằm cải