VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ YẾN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ YẾN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
2.2. Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2014 đến tháng
12/2018 ...................................................................................................................... 39
2.3. Nhận xét, đánh giá về hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi............................. 51
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI ............ 58
3.1. Tình hình tội phạm hình sự và yêu cầu đối với công tác thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi ........................................................................................................ 58
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự trong thời gian tới ................................................................. 63
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
CB, CC
UBKS
Ủy ban kiểm sát
VKS
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thống kê về số liệu công bố cáo trạng/ số vụ án đã xét xử ........................5
Bảng 2.3. Thống kê số vụ án/bị can Tòa trả hồ sơ điều tra bổ sung ...........................5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một trong
những hoạt động thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được Hiến pháp
năm 2013 ghi nhận tại khoản 1 Điều 107 và khoản 2 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân năm 2014 qui định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố,
kiểm sát hoạt động tư pháp” [10]; “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện
xây dựng nền tư pháp trong sạch vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước
hiện đại hóa mà trọng tâm là hoạt động xét xử, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc cải
cách tư pháp trong thời gian tới: “Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại
phiên toà, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham
gia tố tụng khác” [3, tr.3]. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị
tiếp tục xác định trong lĩnh vực tư pháp, “Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là
hoạt động trọng tâm”; yêu cầu phải“nâng cao chất lượng tranh tụng tại tất cả các
phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…” [4, tr.9]; “...
việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên
tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên,
của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có
quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức
thuyết phục”. Đối với Viện kiểm sát nhân dân, Đảng yêu cầu phải “nâng cao chất
lượng công tố tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào
chữa và những người tham gia tố tụng khác”. Do vậy, việc nâng cao chất lượng
hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện
kiểm sát là một đòi hỏi cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Mặt khác, trước chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Việt Nam
hiện nay vẫn còn có nhiều quan điểm lý luận khác nhau về thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát nên dẫn đến có các lý giải khác nhau, đa số các quan điểm cho
rằng thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là tố tụng hình sự
nhưng cũng có quan điểm cho rằng thực hành quyền công tố được thực hiện trong
cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, kinh tế, lao
động... Thời điểm bắt đầu và kết thúc của thực hành quyền công tố cũng chưa được
2
nhận thức thống nhất. Ngay trong tố tụng hình sự cũng có quan điểm cho rằng thực
hành quyền công tố có trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; quan điểm khác
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề cập
nhiều nội dung mới, trong đó có nội dung về hoạt động xét xử sơ thẩm trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự nên luận văn được nghiên cứu theo hướng gắn chặt với yêu
cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay.
Qua nghiên cứu, học viên nhận thấy, có nhiều công trình khoa học đề cập đến
nội dung này, cụ thể là một số công trình sau:
- Luận văn thạc sỹ “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và
kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh ở
Việt Nam hiện nay”, của Vũ Hồng Điệp, năm 2010;
- Luận văn thạc sỹ“Hoạt động tranh tụng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm”, của Võ Thị Hồng Luyến, năm
2010;
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”, của
Nguyễn Hữu Phước (2016). Đề cập một số vấn đề lý luận về quyền công tố và thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nêu lên thực trạng
vấn đề này tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Luận văn thạc sỹ Luật học, “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi”, của Trương
Thị Thu Thắm (2017). Đã nêu một số vấn đề về lý luận và thực trạng về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án hình sự.
Ngoài ra còn có các nghiên cứu là sách, bài viết có liên quan đến vấn đề này
như: “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra,
gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”, của Nguyễn Hải
Phong chủ biên, NXB Tư Pháp 2013; Sách “Những nội dung mới trong Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015”, NXB Chính trị quốc gia của Lê Hữu Thể.
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập tới thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở một số địa phương
Hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
5
Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động thực hành quyền công tố trong
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi theo qui
định của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Phạm vi về không gian:
Nghiên cứu hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự tại Viện kiểm sát nhân tỉnh Quảng Ngãi.
- Phạm vi về thời gian:
Số liệu sử dụng để nghiên cứu được tổng hợp từ kết quả thống kê từ năm 2014
đến hết năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và
pháp luật, nhất là các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được kết hợp sử dụng nhiều phương pháp như: Phương pháp so sánh,
phân tích, tổng hợp kết hợp với khảo sát thực tiễn, tổng kết để làm sáng tỏ các nội
dung nghiên cứu của luận văn.
6. Ý nghiã lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp luật về hoạt động thực
hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Những vấn đề ảnh hưởng
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố, thực hành quyền công tố
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân
1.1.1. Khái niệm về quyền công tố, thực hành quyền công tố của Viện
Kiểm sát nhân dân
Quyền công tố, thực hành quyền công tố
Theo từ điển tiếng Việt thì quyền công tố là quyền của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền dùng để điều tra, truy tố và buộc tội đối tượng phạm pháp trước Tòa
án hay là quyền truy tố, buộc tội cá nhân, tổ chức trước pháp luật.
“Công tố” theo Đại từ điển tiếng Việt, “công” có nghĩa là “thuộc về Nhà
nước, tập thể, trái với tư ”, còn “tố” có nghĩa là “nói về những sai phạm, tội lỗi của
người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều
người”, “Công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát
biểu ý kiến trước Tòa án” [47, tr. 453, 459,1663].
Ở nước Việt Nam “quyền công tố”, “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên
được qui định tại Điều 138 Hiến pháp năm 1980 và được phát triển hóa trong Bộ
luật Tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Trong khoa học luật tố
tụng hình sự, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền
công tố có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn rất quan trọng. Giúp cho việc xác định vai
trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các
cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ chức năng của Viện kiểm sát, đặc biệt là
trong tố tụng hình sự.
Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố đã được đề cập nhiều
trong khoa học pháp lí nước ta với các mức độ khác nhau. Có tác giả đề cập khi giải
quyết các vấn đề chung của tố tụng hình sự [25]; có những bài viết có tính chất
tham khảo phân tích có hệ thống về quyền công tố và gần đây có một số luận văn
thạc sĩ cũng đề cập quyền công tố trong từng phạm vi khác nhau (trong giai đoạn
8
khác nhau, tuy nhiên ở góc độ thực tiễn thực hiện công tác này, tác giả đồng tình
9
với quan điểm thứ năm vì quan điểm này phù hợp với kết quả nghiên cứu về lý luận
và thực tiễn chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam. Trong
điều kiện cụ thể, quan điểm này giúp ta xác định được: Quyền công tố là quyền của
Nhà nước giao cho Viện kiểm sát; quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng
hình sự; nội dung của quyền công tố là truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội đối
với người phạm tội; quyền công tố gắn liền với một tội phạm cụ thể; nó bắt đầu từ
khi có hành vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật. Trong
thực tế quyền công tố bắt đầu từ khi tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và
kết thúc khi Tòa án tuyên bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Từ những phân tích trên, học viên đưa ra khái niệm về quyền công tố là:
“Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện
việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nhằm truy tố người phạm
tội ra trước Tòa án nhân dân để xét xử và thực hiện việc buộc tội đối với người đó
tại phiên tòa đảm bảo đúng qui định của pháp luật”.
Xuất phát từ khái niệm quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực nhà
nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nên thực
hành quyền công tố chính là thực hiện hành vi tố tụng cần thiết theo qui định của
Luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội ra xét xử
trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó. Tại Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân 2014 thì: “ Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm
tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bật trong chính sách hình sự nước
ta là Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đã bổ sung chế định
trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Trong đó quy định về cơ sở của
vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh...”[5
tr.19]. Như vậy, hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng
hình sự nhằm thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được
thực hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong
suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Theo đó, Viện kiểm sát
thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm: Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội
phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng
11
người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm
và người phạm tội...
Trên cơ sở nhận thức về quyền công tố, thực hành quyền công tố được hiểu
như thế nào? Tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
nêu khái niệm về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát như sau:
“Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội,được thực
hiện ngay từ khi giải quyết tố giác tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong
suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
1.1.3. Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của
Viện Kiểm sát nhân dân
1.1.3.1. Nhận thức về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thực hành quyền công tố
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân
- Khái niệm xét xử và xét xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo Từ điển Tiếng Việt xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất
pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lí của vụ
việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất,
mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, hành
chính,kinh doanh, thương mại, lao động...).[27]
Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án. Tòa
hình sự có tính bắt buộc; xét xử lần đầu đối với vụ án; vụ án được đưa ra xét xử
công khai; kết quả của việc xét xử là việc ban hành bằng một bản án, quyết định có
căn cứ và đúng pháp luật, góp phần vào việc giải quyết đúng đắn vụ án, bảo đảm
công lý, sự công bằng trong xã hội. Như vậy, từ những phân tích trên xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự được hiểu là: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của
tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án,
ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật”.
- Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Học viên đồng tình với một số tác giả về nội dung này tại các công trình [19,
tr.22] và [7, tr.12]. Giai đoạn xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn quan trọng nhất
trong hoạt động tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào quy
định của pháp luật tố tụng hình sự: Áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử;
đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án,
13
đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai, dân chủ của các bên (buộc tội và
bào chữa) để phán xét về vấn đề hành vi phạm tội ( có hay không), có (hay không)
tội của bị cáo và cuối cùng, tuyên một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh, đúng pháp luật và
đảm bảo sức thuyết phục.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án hình sự
( quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án của Viện kiểm sát ) do Viện kiểm sát
chuyển sang và kết thúc bằng việc Tòa án tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực
pháp luật. Giai đoạn xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng trung tâm, độc lập,
thực hiện các nhiệm vụ luật định, áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết để chuẩn
bị cho việc xét xử vụ án tại phiên tòa, còn phiên tòa sơ thẩm là nơi thể hiện rõ nhất
nội dung của hoạt động tố tụng hình sự, thông qua đó nhằm bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân trong giai đoạn xét xử của Tòa án.
- Khái niệm về thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
xét xử như sau:“ Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử
sơ thẩm những vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực; vụ án hình sự có bị cáo, bị hại,
đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;…, cán bộ
lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc
thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín
cao trong dân tộc ít người”. Như vậy, thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh chỉ giới hạn tại khoản khoản 2 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015.
Ngoài ra, Viện kiểm sát cấp tỉnh còn thực hiện việc ủy quyền thực hành
quyền công tố theo qui định của pháp luật. Tại đoạn 3 khoản 1 Điều 239 Bộ luật tố
tụng hình sự qui định: “Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền
công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố….
Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho
Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận
được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền
thực hành quyền công tố và …theo đúng quy định của Bộ luật này ” [6, tr.217].
15
1.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Chức năng của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chức năng có nhiều nghĩa khác nhau, có thể hiểu là nghĩa vụ, phạm vi hoạt
động, chức năng, vai trò hoặc có thể hiểu là loại hoạt động đặc biệt của sinh vật và
của các cơ quan, tế bào của sinh vật đó… Tùy theo ngữ cảnh cụ thể mà áp dụng cho
phù hợp, nhưng nghĩa chủ đạo của chức năng là phương diện hoạt động để thực
hiện nhiệm vụ của mình.Trong tiến trình phát triển, nhà nước giao cho mỗi cơ quan
trong bộ máy nhà nước những nhiệm vụ, chức năng, thẩm quyền khác nhau để thực
Chinh đã nói: “ Không có một cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành Kiểm
sát để sử dụng quyền công tố. Việc bắt, giam, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng hay
không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, đảm bảo cho tốt ”. Cụ thể
hoá quy định của Hiến pháp năm 2013 về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân,
Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng hình sự nói chung và trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
nói riêng. Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “ Viện kiểm sát thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự,
quyết định việc buộc tội, ...., vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp
thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, ...không để lọt tội phạm và
người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội” [5]. Chức năng
thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm của Viện kiểm sát được tập trung chủ
yếu và rõ nét nhất ở chức năng buộc tội, bảo vệ quyết định truy tố của mình. Đây là
chức năng cơ bản của Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm. Tuy nhiên, chức năng
buộc tội chỉ là một hình thức của chức năng thực hành quyền công tố. Viện kiểm sát
thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không chỉ là chủ thể
thực hiện chức năng buộc tội mà còn thực hiện các hoạt động khác. Giữa chức năng
công tố (chức năng nhà nước) và chức năng buộc tội (chức năng tố tụng) có mối
quan hệ mật thiết nhau. Chức năng công tố trong xét xử không chỉ thực hiện thông
qua chức năng buộc tội tại phiên tòa mà còn được thực hiện thông qua các hoạt
động khác như kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án.
Tóm lại, Viện kiểm sát là chủ thể trung tâm thực hành quyền công tố trong tố
tụng hình sự. Trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, chức năng thực hành quyền công
17
tố là chức năng cơ bản xuyên suốt. Nếu trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thực
hành quyền công tố chính xác, đúng pháp luật sẽ đảm bảo pháp luật được thực hiện
nghiêm chỉnh, công bằng, bảo vệ lợi ích chính đáng của công dân , nhà nước.
Viện trưởng ủy quyền tham gia phiên toà để bảo vệ cáo trạng. Bản cáo trạng truy tố
của Viện kiểm sát là kết luận của Viện kiểm sát đối với người phạm tội, dựa trên
các chứng cứ tài liệu đã được thu thập khách quan, hợp pháp trong quá trình điều tra
vụ án và là cơ sở pháp lý làm phát sinh một giai đoạn mới của tố tụng hình sự, đó là
giai đoạn xét xử do Tòa án đảm nhiệm. “Cáo trạng do Viện kiểm sát truy tố trước
Toà án không chỉ là lý do hình thức tồn tại của giai đoạn xét xử sơ thẩm mà là đối
tượng trung tâm chi phối diễn ra trong giai đoạn này” [21, tr.143]. Hiện nay Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định đầy đủ và chính xác hơn về nội dung, từ
ngữ phù hợp với qui định tại Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đó là
sử dụng thuật ngữ: “công bố cáo trạng” thay thế “đọc cáo trạng”. Tại Điều 306
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trước khi tiến hành xét hỏi kiểm
sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến .....(nếu có). Ý kiến bổ sung
không làm xấu ...của bị cáo”[6].
Đối với vụ án áp dụng theo thủ tục rút gọn được thực hiện theo thủ tục
chung quy định tại 324 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tại Điều 463 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015 qui định:” Sau phần thủ tục ... phiên tòa, kiểm sát viên công
bố ... truy tố” [6, tr.379], khi áp dụng thủ tục rút gọn thì không tiến hành nghị án.
1.2.2. Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ
1.2.2.1. Xét hỏi
Xét hỏi là hoạt động của kiểm sát viên tại phiên tòa nhằm xác định lại sự thật
khách quan của vụ án, là hoạt động điều tra công khai tại phiên tòa với sự có mặt
của đầy đủ các đương sự liên quan đến vụ án hình sự, là hoạt động trung tâm của
hoạt động xét xử để xác định sự thật khách quan của vụ án. Trong quá trình xét hỏi
tại phiên tòa các chứng cứ, tài liệu liên quan đến nội dung vụ án đều phải được xem
xét, thẩm tra công khai; những mâu thuẫn giữa các lời khai, giữa lời khai với vật
chứng…phải được làm sáng tỏ để khẳng định và chứng minh bản chất của vụ án.
Việc tham gia xét hỏi là bắt buộc đối với kiểm sát viên, để tham gia xét hỏi tại phiên
tòa đạt hiệu quả; trước khi tham gia phiên tòa, kiểm sát viên phải dự thảo đề
cương xét hỏi và những nội dung cần làm sáng tỏ, nhằm xác định sự thật khách
quan của vụ án và các tình tiết khác có liên quan đến việc định tội và đề xuất hình