VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM HỒNG ĐỨC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM HỒNG ĐỨC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN XUÂN DŨNG
động viên, giúp đỡ tôi và cùng tôi vượt qua mọi khó khăn. Và tôi xin cảm ơn
các anh chị, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn chia sẽ, giúp đỡ tôi học tập,
nghiên cứu, và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn
Phạm Hồng Đức
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ...... 8
1.1. Một số khái niệm liên quan ........................................................................ 8
1.2. Nội dung của chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình ........................... 11
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế
hộ gia đình ....................................................................................................... 16
1.4. Kinh nghiệm về thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ và bài học rút
ra có thể áp dụng cho quận Cẩm lệ, Thành phố Đà Nẵng .............................. 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH QUA THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................. 27
2.1. Khái quát về quận Cẩm lệ, thành phố Đà Nẵng....................................... 27
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa
bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ........................................................... 29
2.3. Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình
tại Quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ............................................................ 42
2.4. Đánh giá chung ........................................................................................ 45
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........................................................... 52
4
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
5
GNP
Tổng sản lượng quốc gia
6
KT-XH
Kinh tế – Xã hội
7
NXB
Nhà xuất bản
8
NHNoPTNT
Ngân hàng nông nghiệp
13
VIETGAP
Vietnamese Good
Agricultural Practices
14
WTO
World Trade Organization
15
XHCN
Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa
Foreign Direct Investment
Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Hỗ trợ phát triển chính
thức
Tổ chức thương mại thế
giới
Xã hội chủ nghĩa
đình là mô hình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
nền kinh tế vĩ mô.
Kinh tế hộ gia đình không phải là một thành phần kinh tế nhưng là một
loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác. Một trong các
thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ. Trong hoạt động kinh
tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản
xuất. Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu
trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình. Các cá nhân và nhóm kinh
doanh trong các lĩnh vực như vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ và các
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh… trên thực tế các hoạt động
kinh tế hộ gia đình và được điều chỉnh theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP
ngày 14/9/2015. Chủ hộ chịu trách nhiệm vô hạn về vốn và kết quả kinh
1
doanh của mình. Mặt khác, Nhà nước cũng có những chính sách tạo điều kiện
thuận lợi để hộ kinh doanh có số vốn phù hợp với qui mô để hộ gia đình có
thể chuyển thành doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và các hoạt động theo
Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 8 thông qua vào
ngày 26 tháng 11 năm 2014.
Mặc dù vậy, trong nhiều năm qua lĩnh vực kinh tế hộ trên địa bàn quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng - một quận vùng ven của thành phố Đà Nẵng
đang trong quá trình đô thị hóa cao, qua sự chuyển đổi từ một khu vực kinh tế
nông nghiệp là chủ yếu chuyển sang phát triển kinh tế công nghiệp, thương
mại, dịch vụ và nông nghiệp nên quy mô kinh doanh nhỏ, công nghệ còn lạc
hậu, chất lượng sản phẩm chưa có sức cạnh tranh cao, đồng thời đối mặt với
nhiều thách thức khó khăn về vốn, lao động, mặt bằng kinh doanh,… đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế thế giới, khu vực và trong nước có
nhiều biến động, sức mua giảm làm cho một số hộ kinh doanh có nguy cơ phá
sản. Nhà nước chỉ mới có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa,
triển kinh tế hộ nông dân gắn với giảm nghèo bền vững ở tỉnh Bắc Kạn trong
bối cảnh hiện nay.
- Luận án tiến sỹ năm 2017 chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp “Kinh
tế hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Thái
Nguyên” của tác giả Hồ Lương Xinh, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị
kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Hà Nội. Luận án này trình bày mô hình
Hồi quy Binary Logistic để phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ
nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Thái
Nguyên; qua đó làm cơ sở đánh giá thực trạng kinh tế hộ nông dân sau thu hồi
đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, Luận
án đề xuất quan điểm và các giải pháp giai đoạn hiện nay để phát triển kinh tế
hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp.
- Luận án tiến sỹ ngành Xã hội học năm 2018 “Vai trò của phụ nữ dân
3
tộc Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình vùng Đông Bắc Việt Nam
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái Nguyên)” của tác giả Nguyễn Đỗ Hương
Giang, Học viện KHXH - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
Ở Luận án này xuất phát từ việc hệ thống hóa khung lý thuyết và hướng tiếp
cận về vai trò phụ nữ Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình để phân tích
và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ và nam giới Sán Dìu trong phát triển
kinh tế hộ gia đình ở Thái Nguyên, những nhân tố ảnh hưởng vai trò của phụ
nữ Sán Dìu trong quá trình tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình cũng như
chỉ ra những khó khăn thách thức trong công cuộc phát triển kinh tế hộ gia
đình của người Sán Dìu ở Thái Nguyên. Qua đó, Luận án này đề xuất các
quan điểm và những nhóm giải pháp để gia tăng vai trò, vị thế của phụ nữ
người Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa phương tầm nhìn
2030.
tế hộ gia đình;
- Đánh giá thực trạng chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình qua thực
tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất giải pháp chủ yếu hoàn thiện việc thực hiện chính sách phát
triển kinh tế hộ gia đình ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong thời gian
tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đó là thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình
ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Trong đó, tập trung nghiên cứu 6 chính
sách kinh tế chủ yếu trong phát triển kinh tế hộ đó là: Chính sách phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội; Chính sách khoa học công nghệ; Chính sách thuế
và vốn tín dụng; Chính sách tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo; Chính sách
5
thị trường và hỗ trợ kinh tế hộ tiêu thụ sản phẩm; Chính sách đất và SDĐ.
- Về không gian: địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: từ năm 2013 đến năm 2023.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển
kinh tế, nhất là kinh tế hộ. Đồng thời, luận văn vận dụng các học thuyết kinh
tế hiện đại, gắn với đặc thù của địa phương theo quan điểm toàn diện, lịch sử
và cụ thể.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Một số khái niệm liên quan
- Khái niệm chính sách
Thuật ngữ “chính sách” vốn hàm ý một sự đối xử ưu đãi của nhà nước
đối với một nhóm tổ chức, cá nhân nhất định. Chính sách được hiểu chung
nhất là chủ trương và các biện pháp của một Đảng phái, một Chính phủ trong
các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội.
Có thể hệ thống hoá một số định nghĩa về “chính sách” (hay chính xác
hơn về mặt học thuật gọi là “chính sách công”) được một số học giả sử dụng
như sau:
- Theo James Anderson định nghĩa, chính sách là một quá trình hành
động có mục đích được theo đuổi do một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải
quyết những vấn đề mà họ quan tâm.[33;tr.5]
- Theo William Jenkin, chính sách công là một tập hợp những quyết
định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hoặc một nhóm các nhà
chính trị gắn liền trong việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt các
mục tiêu đó.[34]
- Với Thomas R. Dye xác định, chính sách công là cái mà Chính phủ
lựa chọn làm hay không làm.[35]
Tác giả Vũ Cao Đàm đưa ra định nghĩa: Chính sách là tập hợp biện
pháp được thể chế hóa mà một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý
nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch
ra trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.[15]
các tư liệu sản xuất khác cho hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài, hộ nông
dân (hộ gia đình) đã trở thành đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, có tư
9
cách là đơn vị kinh tế cơ sở (kinh tế hộ gia đình). Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 của Việt Nam cũng đã xác định kinh tế hộ gia
đình là một đơn vị sản xuất cơ sở, cần thiết cho quyền chuyển dịch cơ cấu nền
kinh tế vĩ mô nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước.
Kinh tế hộ gia đình là một loại hình tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu
của hộ gia đình, mà ở đó các thành viên có tài sản chung và cùng đóng góp
các nguồn lực vốn, đất đai, công sức trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do luật định.
Các cá nhân và nhóm kinh doanh trong các lĩnh vực như vận tải, xây
dựng, thương mại dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh
doanh… trên thực tế là các hoạt động kinh tế hộ gia đình và được điều chỉnh
theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ.
Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình là một loại hình để phân biệt với các
hình thức tổ chức kinh tế khác. Sự tồn tại của kinh tế hộ chủ yếu dựa vào lao
động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác để phát triển sản xuất và
làm giàu chính đáng. Kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn,
thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, ở thành thị gọi là các hộ tiểu thủ
công nghiệp. Hộ gia đình ở nông thôn phần lớn hộ sản xuất, kinh doanh đa
dạng, kết hợp giữa chăn nuôi với trồng trọt, giữa ngành tiểu thủ công nghiệp
và kinh doanh nghề phụ.
Từ các quan điểm về chính sách và kinh tế hộ gia đình, có thể xác định
khái niệm về chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình như sau: Chính sách
phát triển kinh tế hộ gia đình là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải
áp dụng phù hợp với vị trí địa lý, địa hình, thời tiết khí hậu… nhằm đảm bảo
cung cấp đầy đủ, có hiệu quả các yếu tố điều kiện phục vụ, các dịch vụ cơ sở
hạ tầng cho quá trình phát triển kinh tế ở địa phương. Nội dung của chính
sách này là hỗ trợ đầu tư các công trình thiết yếu: đường giao thông, thủy lợi,
11
cấp điện, cấp nước, viễn thông v.v... Mục tiêu của chính sách này sẽ tác động
xúc tiến đầu tư, tạo động lực thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư vào lĩnh
vực cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, tạo ra các điều kiện thuận lợi cho hoạt động
sản xuất, kinh doanh của các hộ dân hoạt động kinh tế hiện tại ở địa phương.
- Chính sách về khoa học công nghệ:
Do quá trình sản xuất kinh tế hộ gia đình chủ yếu dựa vào sức lao động
thủ công và công cụ truyền thống, nên phần lớn có năng suất lao động thấp.
Hơn nữa, trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế,
chủ yếu là phương thức truyền thống, theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại
cho đời sau. Vì vậy, nhận thức của chủ hộ về luật pháp, về kinh doanh, cũng
như về kinh tế thị trường rất hạn chế.
Nên nội dung của chính sách về khoa học công nghệ đối với kinh tế hộ
gia đình bao gồm: (i) Phổ biến, ứng dụng công nghệ mới cho sản xuất chế
biến; cung cấp dịch vụ vật tư; (ii) Chương trình đào tạo nghề, dạy nghề cho
nông dân về mặt kỹ thuật sản xuất và quản lý kinh tế, kiến thức về pháp luật,
thị trường và hội nhập quốc tế....
- Chính sách đất đai:
Vì tài nguyên đất đai là tư liệu sản xuất chính của hộ gia đình không
chỉ đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, mà còn đối với cả sản xuất phi
nông nghiệp. Do đó, việc các hộ dân có dễ tiếp cận được yếu tố đất đai là rất
quan trọng quyết định đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ.
Chính sách đất đai đối với kinh tế hộ gia đình cần tính toán khả dụng là
Trên thực tế, do quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình có đặc điểm
thường là nhỏ, vốn đầu tư ít, nên cần miễn giảm thuế ưu đãi trong sử dụng đất
và hỗ trợ về vốn vay tín dụng ưu đãi để huy động nguồn lực tài chính cho phát
triển sản xuất. Chính sách này cần tính toán khả năng hỗ trợ (hỗ trợ lãi suất tín
dụng ngân hàng; hỗ trợ lãi suất tín dụng của các tổ chức tín dụng khác) để
thực hiện mục tiêu trên cơ sở các nguồn lực (đất đai, vốn liếng, tài sản…)
13
trong nhân dân ở địa phương nhằm khuyến khích hỗ trợ đầu tư cho nông
nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh có số vốn phù hợp với qui
mô hộ gia đình, hộ có trang trại có thế chuyển thành doanh nghiệp đăng ký
kinh doanh và các hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội khóa
XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014.
- Chính sách thị trường và hỗ trợ kinh tế hộ gia đình tiêu thụ sản phẩm:
Trong bối cảnh cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế, cạnh tranh ngày
càng trở nên gay gắt. Do đó, vai trò của việc phát triển thị trường càng quan
trọng hơn bao giờ hết. Nếu phát triển sản xuất mà không gắn với phát triển thị
trường để giải quyết “đầu ra” tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ thì sẽ đối diện với
những hậu quả rủi ro khôn lường cho các chủ thể kinh tế.
Xuất phát điểm của sản xuất kinh tế hộ gia đình đại bộ phận là còn
mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu. Trong khi thị trường là nhân tố quyết định
hướng khai thác các tiềm năng của hộ; việc hướng sản xuất kinh tế hộ gia
đình vào đáp ứng nhu cầu thị trường thì khả năng mang lại lợi ích cho hộ dân
từ các hoạt động sản xuất càng lớn.
Nên việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ tìm kiếm và mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại là cần thiết và
cấp bách khi quy mô sản suất đang trên đà gia tăng. Chính sách hỗ trợ phát
với đó, nội dung chính sách xóa đói giảm nghèo cho các hộ dân gồm: ưu đãi
tín dụng cho người nghèo; hỗ trợ sản xuất, cung cấp dịch vụ khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư; hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu
lao động; hỗ trợ về nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ nghèo; trợ giúp
pháp lý cho người nghèo; trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; hỗ trợ giảm
nghèo đặc thù…
Ngoài các chính sách bảo hộ quyền và nghĩa vụ, Nhà nước còn có các
chính sách khác hướng tới: khuyến khích hỗ trợ phát triển dưới hình thức hợp
15
tác xã và các hình thức liên kết khác; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội
ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật… nhằm thực hiện phát triển một cách
hợp lý các hình thức sản xuất và kinh doanh đối với loại hình kinh tế phổ biến
này ở nước ta ở giai đoạn hiện nay; cũng như góp phần kinh tế hộ gia đình,
nhất là ở khu vực nông thôn được thực hiện quyền tự chủ và được quan tâm.
Các chính sách này đòi hỏi tiến hành đồng chiều, giải quyết đồng bộ để
kích thích và đảm bảo lợi ích cho chủ thể là các hộ dân tham gia phát triển
kinh tế hộ gia đình.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát
triển kinh tế hộ gia đình
Thực hiện chính sách nói chung và thực hiện chính sách phát triển
kinh tế hộ gia đình nói riêng luôn chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tố
về:
1.3.1. Nhóm nhân tố khách quan
- Điều kiện tự nhiên:
Địa lý tự nhiên và khả năng hiện có của địa phương về thổ nhưỡng,
nguồn nước, khí hậu, đất đai (nhất là mức độ tích tụ ruộng đất)… Nó ảnh
hưởng khách quan đến quá trình triển khai chính sách phát triển kinh tế hộ gia
kế của hộ gia đình...
Các tác động này cần được hạch toán kỹ lưỡng từ khâu chuẩn bị nhằm
giảm thiểu các bất lợi của nó gây ra trong quá trình vận hành chính sách để
đảm bảo khả năng cạnh tranh và hội nhập và phù hợp với xu thế phát triển
bền vững.
- Đối tượng thụ hưởng của chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình:
Đối tượng thụ hưởng của chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa
phương chủ yếu là hộ dân tham gia vào sản xuất, kinh doanh ở các ngành
kinh tế. Đây là yếu tố nội sinh của bản thân hộ gia đình. Sự hiểu biết của
nhóm đối tượng này (nhất là kiến thức về sự đa dạng hoá các hoạt động, vai
17
trò truyền thống của những lao động trong gia đình), thói quen tuân thủ của
họ đối với các quy định, quy tắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; cũng
như khả năng thực tế của các hộ dân tham gia thực hiện chính sách này và
năng lực của họ khi tận dụng các lợi ích mà chính sách phát triển kinh tế hộ
gia đình mang lại trong sự công bằng đối với mọi đối tượng thụ hưởng chính
sách. Cùng với nhu cầu và nguyện vọng của các hộ gia đình sở tại thường dẫn
đến nảy sinh các vấn đề chính sách này. Đây là các yếu tố khách quan không
kém phần quan trọng, nó ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả trong quá trình
thực hiện chính sách phát triển kinh tế kinh tế hộ gia đình ở địa phương.
Ở bối cảnh cạnh tranh thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày
nay, đối tượng hưởng lợi từ quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế
hộ gia đình còn có sự tham gia của nhiều đối tác là: các hiệp hội, các tổ chức
đào tạo - nghiên cứu chuyển giao công nghệ kỹ thuật và cộng đồng doanh
nghiệp (cả trong và ngoài nước) đầu tư vào lĩnh vực này theo diện thu hút môi
trường ưu đãi của chính sách.
1.3.2. Nhóm nhân tố chủ quan