MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC CƠ SỞ Y
TẾ NGOÀI CÔNG LẬP
1.1. Những vấn đề chung về y tế ngoài công lập
1.2. Quan niệm, nội dung biểu hiện vai trò của các cơ sở y
tế ngoài công lập ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Chương 2.
Trang
3
11
11
16
THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾ
NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ
ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
34
2.1. Tổng quan về các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa
bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
2.2. Kết quả, hạn chế, nguyên nhân và vấn đề đặt ra về vai
34
trò của các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến nay
Chương 3.
Để phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ đổi
mới, Đảng và Nhà nước ta đã điều chỉnh các chủ trương và các biện pháp
chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng khai thác các tiềm năng dịch vụ y tế
trong xã hội, phát huy vai trò của các cơ sở dịch vụ y tế ngoài công lập trong
hoạt động dịch vụ khám chữa bệnh cho người dân.
Sự ra đời và phát triển của các cơ sở y tế ngoài công lập đã làm tăng
khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của nhân dân, đặc biệt là dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh thông thường ở cơ sở, chia sẻ bớt gánh nặng về sự quá tải trong
các cơ sở y tế công lập, đáp ứng một phần nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh
ngày càng cao của nhân dân theo hướng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và
thành phần kinh tế trong chăm sóc sức khỏe cho người dân, …
Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi
năm 2014 được ban hành với mục tiêu chung nhằm huy động các nguồn lực
(vốn, tài sản, sức lao động, trí tuệ,…) trong toàn xã hội tham gia đóng góp,
đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân, đặc biệt là đối tượng
chính sách và người nghèo, tiếp cận được với các dịch vụ y tế cơ bản và có
chất lượng. Động thái đó đã góp phần làm cho vai trò của các cơ sở y tế
ngoài công lập được khẳng định.
Quận Hà Đông trước đây là đô thị trung tâm của một tỉnh, có một số
Bệnh viện lớn đóng trên địa bàn nên lượng người dân đến khám bệnh, chữa
bệnh rất đông làm cho các bệnh viện công lập trở nên quá tải. Nhu cầu khách
quan đó cùng với chủ trương xã hội hóa và đa dạng hoá ngành y tế của Đảng
và Nhà nước đã dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại và phát triển số lượng lớn các
cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông. Sự xuất hiện của các cơ
sở y tế ngoài công lập đã làm cho thị trường dịch vụ y tế ở quận Hà Đông có
sự phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Tạo điều kiện cho người dân tiếp
3
những tác động từ các quy luật của kinh tế thị trường và các chế định của nhà
nước đối với khu vực y tế ngoài công lập. Với nhiều quốc gia trên thế giới, y
tế ngoài công lập đã xuất hiện từ lâu, thậm chí từ rất lâu, do vậy nó là vấn đề
không mới. Với nước ta, tuy y tế ngoài công lập cũng không còn là vấn đề
mới lạ như hai chục năm về trước, nhưng cũng còn khá nhiều vấn đề cần
được nghiên cứu thấu đáo, vì đây là lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến sự phát
triển của nòi giống của một dân tộc, việc trị bệnh cứu người mang bản chất
của chủ nghĩa nhân văn, nhưng khi đã chịu sự chi phối của cơ chế thị trường
nó sẽ như thế nào, trên thực tế vai trò của khu vực này đến đâu, cần có thêm
những chính sách, chế tài nào.... Do vậy, có khá nhiều công trình bài viết, đề
tài của các tác giả nghiên cứu có liên quan tới vấn đề này.
- Phùng Kim Bảng, Lê Quang Hoành (chủ biên), Hồ Hữu Anh (1997),
Y tế công cộng và chăm sóc sức khoẻ ban đầu, Nxb Y học [5], cuốn sách
trình bày lý luận chung của y học xã hội và tổ chức y tế, y tế cộng đồng và
chăm sóc sức khoẻ ban đầu...Lịch sử y học, tâm lý học, đạo đức học. Y tế
công cộng và công tác y tế. Thống kê y tế. Chăm sóc sức khoẻ ban đầu và
giáo dục sức khoẻ. Pháp luật trong ngành y tế. Tổ chức và hoạt động của
ngành y tế. Quản lý y tế - kinh tế y tế.
- Nguyễn Nguyệt Nga (1997), Sự phát triển của khu vực y tế và cải
cách kinh tế trong một nền kinh tế đang chuyển đổi: Việt Nam 1989-1997
[27]: Luận án PTS KH Kinh tế. Luận án trình bày vấn đề các chính sách thu
viện phí, chính sách bảo hiểm y tế và sự phát triển của khu vực y tế tư nhân
và ảnh hưởng của nó đến việc sử dụng các dịch vụ y tế và hoạt động của
ngành y tế.
- Nguyễn Trung sưu tầm (2001), Những quy định về chính sách xã hội
hoá các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, Nxb Lao
động [39], công trình tập hợp những văn bản pháp luật về chính sách xã hội
hoá các hoạt động giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao, các chính sách khuyến
- Nguyễn Hoàng Long (2007) và nhóm đồng tác giả trong chương trình
hợp tác y tế Việt Nam – Thụy điển [25] “Thực trạng, vai trò và tiềm năng
6
của y tế tư nhân” Báo cáo nghiên cứu thực trạng hành nghề y dược tư nhân ở
Việt Nam, đánh giá vai trò và tiềm năng của y tế tư nhân trong cung ứng dịch
vụ y tế, đáp ứng nhu cầu bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của
nhân dân.
- Trần Văn Tiến (2009), “Y tế tư nhân và kỳ vọng về khả năng đáp ứng
của y tế tư nhân cho mục tiêu hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân”
[38], Viện Chiến lược và Chính sách y tế. Bài viết đã làm rõ mặt trái của hệ
thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh tư nhân vì lợi nhuận trong chăm sóc
sức khỏe nhân dân.
- Lê Thị Hồng Minh (2011), “Phát triển dịch vụ y tế tư nhân ở Việt
Nam” [26], Luận văn Thạc sĩ nghiên cứu vai trò của y tế tư nhân trong cung
cấp dịch vụ y tế, làm rõ bản chất của kinh tế tư nhân trong việc cung cấp dịch
vụ công từ đó đưa ra những giải pháp để thúc đẩy y tế tư nhân phát triển vì
lợi ích của người dân và xã hội.
- Bùi Thị Hằng (2011) “Đẩy mạnh phát triển dịch vụ y tế tư nhân trên
địa bàn tỉnh Bình Định” [21], Luận văn Thạc sĩ tại Đại học Đà Nẵng nghiên
cứu ý nghĩa của y tế tư nhân trong hệ thống y tế nói riêng, phát triển kinh tế xã hội nói chung, từ đó đề xuất các giải pháp để phát triển dịch vụ y tế tư nhân.
- Võ Quốc Trường (2011), “Áp dung mô hình hợp tác công tư trong xã
hội hóa lĩnh vực y tế tại thành phố Hà Chí Minh” [40], Công ty đầu tư tài chính
Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn Thạc sĩ của tác giả nghiên cứu mô
hình hợp tác công tư lĩnh vực y tế trong quá trình xã hội hóa, nhà nước và tư
nhân cùng nhau góp vốn trên cơ sở nhân đôi lợi ích và chia sẻ rủi ro với nhau,
góp phần nâng cao chất lượng trong lĩnh vực y tế, an sinh và phúc lợi xã hội.
- Đặng Thị Lệ Xuân (2011) “Xã hội hóa y tế ở Việt Nam: Lý luận - thực
bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong những năm tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận về vai trò của các cơ sở y tế ngoài công lập
trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong các hoạt động dịch vụ
khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân.
8
- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của các cơ sở y tế ngoài công
lập trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong các hoạt động dịch
vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân thời gian qua.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của các cơ sở
y tế ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong các
hoạt động dịch vụ khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân
trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: vai trò của các cơ sở y tế ngoài công lập.
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: nghiên cứu vai trò của các cơ sở y tế
ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tại các cơ sở cung
cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tư nhân và đầu tư nước ngoài (cả đông và tây
y). Không nghiên cứu các cơ sở cung ứng thuốc chữa bệnh và thiết bị y tế
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2010
đến năm 2015.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Địa bàn quận Hà Đông, thành
phố Hà Nội.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾ NGOÀI CÔNG
LẬP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Những vấn đề chung về y tế ngoài công lập
1.1.1. Quan niệm, bản chất và đặc điểm của y tế ngoài công lập
* Quan niệm về y tế ngoài công lập
Theo quan điểm macxits, trong đời sống của mình, dù với tư cách cá
nhân hay với tư cách cộng đồng, con người trước khi tiến hành các hoạt động
chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo...người ta cần phải ăn, vì vậy con người
phải tiến hành các hoạt động sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất để nuôi
sống chính mình [7]. Thế nhưng để có thể tiến hành các hoạt động sản xuất
của cải vật chất xã hội, trong mỗi cá thể người cũng như trong các cộng đồng
do những cá thể đó tập hợp nhau lại mà thành, mỗi con người cũng như cả
cộng đồng đều cần phải có một trạng thái thể lực cần thiết để đáp ứng. Nghĩa
là mỗi con người và cả cộng đồng đều phải có một trạng thái sức khỏe cần
thiết nhất định. Vì vậy mà trong đời sống của con người xuất hiện nhu cầu
được chăm sóc sức khỏe. Các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho con người –
hoạt động y tế, những hoạt động được tiến hành nhằm chăm sóc về mặt y tế
cho con người vì thế khách quan xuất hiện.
Có hai hình thức hoạt động chăm sóc sức khỏe cho con người đã tồn
tại song hành cùng với nhau trong mỗi cộng đồng dân tộc, hoặc mỗi quốc
gia: hoạt động y tế công, do các cộng đồng hoặc nhà nước tổ chức ra (y tế
công lập) và hoạt động y tế ngoài hệ thống y tế công đó, do các cá nhân hoặc
nhóm những cá nhân tổ chức ra, đó là y tế ngoài công lập. Như vậy: Y tế
ngoài công lập là hình thức y tế được tiến hành bởi các cơ sở y tế ngoài hệ
thị trường.
Ở nước ta, do những vấn đề của lịch sử, các cơ sở y tế ngoài công lập do
tư nhân lập ra, thuộc quyền điều khiển của các chủ cơ sở thuộc kinh tế tư nhân
như đã nói, trước đây (1986) chưa được thừa nhận và vì vậy các cơ sở y tế kiểu
dạng thức đó không tồn tại trong đời sống xã hội. Sau đổi mới, loại hình tổ chức
12
y tế ngoài công lập mới bắt đầu phát triển, tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân
khác nhau, sự phát triển loại dạng cơ sở y tế này vẫn còn chưa mạnh mẽ, tương
xứng với tiềm năng hiện có trong đời sống xã hội.
Theo Hội hành nghề y tư nhân Việt Nam, ở thời điểm tháng 11/2015,
cả nước hiện có 178 bệnh viện đa khoa tư nhân và hơn 30 nghìn phòng khám
tư nhân, mỗi năm khám, chữa bệnh cho khoảng 2 triệu lượt người; phẫu
thuật, thủ thuật cho 50 nghìn bệnh nhân; Ngoài việc cung cấp các dịch vụ
khám chữa bệnh có thu tiền, các cơ sở y tế ngoài công lập trên cả nước còn
điều trị miễn phí cho người bệnh với kinh phí khoảng 5 tỷ đồng/năm.… góp
phần cùng các cơ sở y tế công lập thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe của người dân [57].
Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của các cơ sở y tế ngoài công lập đã làm
cho dịch vụ khám chữa bệnh được đa dạng hóa, là sự bổ sung đáng kể cho hệ
thống y tế công cộng. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay, y tế ngoài công
lập có môi trường thuận lợi hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây để phát triển và
phát huy vai trò của mình khi Đảng ta coi, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành
quan trọng và là động lực quan trọng của nền kinh tế [19 tr.32].
Trong tương lai gần, khi những chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân nói chung, khu vực y tế ngoài công
lập nói riêng được thể chế hóa đồng bộ, khu vực y tế ngoài công lập ở nước
ta trong đó có quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tuy vẫn là bộ phận bổ sung,
tình huống bất thường, hoặc những đợt tiến hành các hoạt động thiện nguyện).
* Đặc điểm của y tế ngoài công lập
Y tế ngoài công lập có các đặc điểm sau:
Về quy mô, các cơ sở y tế ngoài công lập ít cơ sở lớn, nên thường nằm ở
phân khúc thị trường chăm sóc sức khỏe người bệnh (thường tiến hành các dịch
vụ khám bệnh, ít có cơ sở vừa khám bệnh vừa trực tiếp thu dung điều trị).
Về tính chất, các cơ sở y tế ngoài công lập hoạt động khá năng động,
đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng. Mặc dù vẫn mang tính nhân
văn (trị bệnh cứu người) nhưng bị chi phối trực tiếp bởi cơ chế lợi nhuận.
14
Về cấu trúc, với tính cách là một hệ thống, các cơ sở y tế ngoài công lập
thường có dạng thức tổ chức gồm: Bệnh viện đa khoa; Bệnh viện chuyên khoa;
phòng khám đa khoa; phòng khám chuyên khoa; phòng khám cận lâm sàng
(phòng xét nghiệm, phòng chẩn đoán hình ảnh siêu âm - X.Quang); phòng chẩn
phòng trị y học cổ truyền; nhà hộ sinh; cơ sở giám định y khoa; cơ sở dịch vụ
tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; cơ sở dịch vụ làm
răng giả; cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ
sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh. Nhìn từ góc độ các thành
phần kinh tế thì các cơ sở y tế ngoài công lập gồm: kinh tế tư nhân, kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế cá thể. Và loại hình này chủ yếu là các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh tư nhân có quy mô nhỏ và của hộ cá thể.
1.1.2. Đặc điểm của các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội
Các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội có các đặc điểm sau:
Một là, về quy mô: Các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn quận Hà
Đông, thành phố Hà Nội chủ yếu là các phòng khám chuyên khoa của các hộ
mô từng phòng khám.
Hà Đông là quận nội thành Hà Nội, gần trung tâm của Thủ đô, nơi có
nhiều Bệnh viện lớn tuyến Trung ương (cả trong và ngoài quân đội) và các
Bệnh viện tuyến tỉnh nên số lượng Bác sĩ mở phòng khám tư, làm thêm giờ
tại quận Hà Đông rất nhiều, người dân quận Hà Đông và các địa phương lân
cận được sử dụng dịch vụ y tế với chất lượng cao.
1.2. Quan niệm, nội dung biểu hiện vai trò của các cơ sở y tế ngoài
công lập ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
1.2.1. Quan niệm về vai trò của các cơ sở y tế ngoài công lập ở quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội
* Quan niệm về các cơ sở y tế ngoài công lập ở quận Hà Đông, thành
phố Hà Nội.
Các cơ sở y tế ngoài công lập ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội là
các cơ sở dịch vụ y tế được UBND quận Hà Đông (đối với hộ kinh doanh)
16
hoặc Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội (đối với doanh nghiệp) cấp
Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh. Được Sở Y tế Hà Nội cấp Giấy phép
hoạt động trên cơ sở bảo đảm các điều kiện về nhân lực và cơ sở vật chất
theo quy định của pháp luật bao gồm các cơ sở hành nghề khám, chữa bệnh
đa khoa, chuyên khoa (lâm sàng, cận lâm sàng, nội, ngoại, sản, nhi...) và các
cơ sở khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền (không bao gồm các cơ sở hành
nghề dịch vụ cung ứng thuốc chữa bệnh). Các hoạt động khám chữa bệnh đó,
diễn ra dưới hình thức các hoạt động dịch vụ có thu tiền (không mang hình
thái dịch vụ công ích).
Đến hết năm 2015, toàn quận Hà Đông có 204 cơ sở hành nghề khám
bệnh, chữa bệnh (bao gồm cả các phòng chẩn trị y học cổ truyền). Về phân
loại cụ thể xem phụ lục số 3.
- Do phụ thuộc quá nhiều yếu tố: Không gian, thời gian, trạng thái tâm
lý, hoàn cảnh của các bên tham gia... nên chất lượng dịch vụ mang tính chất
không đồng đều.
- Do tính chất không thể dự trữ và không đồng đều nên gặp khó khăn
trong việc tiêu chuẩn hoá dịch vụ. Tuy nhiên vẫn có thể xác định được một
mức độ phục vụ nhất định nào đó.
- Dịch vụ không thể tồn tại độc lập mà gắn liền với người tạo dịch vụ.
Khác với hàng hoá, dịch vụ là sự gắn chặt song hành giữa dịch vụ với người
tạo ra dịch vụ.
- Chính từ sự yêu cầu của người sử dụng mà dịch vụ hình thành và quá
trình tạo ra dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng dịch vụ. Đó là sự ảnh
hưởng mật thiết của người tiêu dùng tới sự tồn tại của dịch vụ.
Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác, dịch vụ y tế có một số
đặc điểm riêng, đó là:
- Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở
các mức độ khác nhau. Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh
nên thường người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường
trước được.
18
- Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh)
thường không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở
y tế) quyết định. Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết
định cung” trong dịch vụ y tế “Cung quyết định cầu”. Cụ thể, người bệnh
có nhu cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời
gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định. Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa
chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác sĩ điều trị chứ không được
chủ động lựa chọn phương pháp điều trị.
khỏe cho người dân trên địa bàn ngày một tốt hơn, thuận tiện hơn.
Trên cơ sở quan niệm về các cơ sở y tế ngoài công lập, dịch vụ khám
chữa bệnh và hàm nghĩa của thuật ngữ vai trò đã trình bày, có thể hiểu vai trò
của các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội là bằng sự hiện diện và những kết quả cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh
cho người dân, các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn quận đã đóng góp
thiết thực vào việc chăm sóc sức khỏe cho người dân bằng các dịch vụ y tế có
chất lượng cao; khai thác tối đa các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động
chăm sóc sức khỏe nhân dân, có tác dụng thúc đẩy thiết lập môi trường cạnh
tranh bình đẳng với các cơ sở y tế công lập và giảm sự quá tải cho các cơ sở
y tế công lập; đồng thời góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước.
Nội hàm của quan niệm trên chỉ rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, nói đến vai trò của các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn
quận Hà Đông, thành phố Hà Nội là nói đến việc các cơ sở y tế đó tạo ra sự
đóng góp cho các hoạt động khám chữa bệnh dưới hình thức cung ứng dịch
vụ y tế với chất lượng cao trên cơ sở toàn dụng nguồn lực xã hội và trang
thiết bị y tế hiện đại. Góp phần tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa
các chủ thể cung ứng dịch vụ cả trong và ngoài công lập; là tác nhân bổ sung
cho y tế công lập; mục tiêu hướng tới là lợi nhuận.
Thứ hai, nội dung của sự biểu hiện đó là những kết quả cụ thể, biểu
hiện sự đóng góp của các cơ sở y tế ngoài công lập đối với việc chăm sóc sức
khỏe cho người dân trên địa bàn quân Hà Đông thông qua các hoạt dộng
20
cung ứng các dịch vụ khám chữa bệnh cụ thể.
Thứ ba, chủ thể cung ứng các dịch vụ khám chữa bệnh là các thể nhân
và pháp nhân hành nghề theo quy định của pháp luật, việc hành nghề trên cơ
sở được chính quyền cấp phép, có nghĩa vụ đóng thuế tạo nguồn thu cho
Tiếp cận tầm quan trọng của vai trò đó từ góc độ của lĩnh vực kinh tế
có thể thấy vai trò của các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn quận Hà
Đông, thành phố Hà Nội, đó là các vấn đề sau:
Thứ nhất, khu vực y tế ngoài công lập góp phần huy động nguồn vốn
nhàn rỗi tham gia vào lĩnh vực y tế, góp phần chia sẻ gánh nặng tài chính với
khu vực y tế công. Tạo thêm nhiều việc làm đồng thời làm gia tăng nguồn thu
cho ngân sách nhà nước.
Thứ hai, khu vực y tế ngoài công lập làm tăng cầu về bác sỹ, điều
dưỡng, y tá…, vì vậy đã tạo động lực kích thích nguồn cung các lực lượng
này. Đồng thời toàn dụng được nguồn nhân lực chuyên môn hành nghề y, đặc
biệt là những người có trình độ chuyên môn cao đã từng công tác ở những
Bệnh viện lớn nay đã nghỉ hưu.
Thứ ba, khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế đầu tư nước ngoài tham gia
thị trường dịch vụ y tế đã làm tăng thêm sự lựa chọn cho người có nhu cầu
khám chữa bệnh, tạo môi trường cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ y tế. Góp
phần khắc phục tình trạng quá tải tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập,
người dân được thụ hưởng dịch vụ theo đúng nghĩa với chi phí phù hợp.
1.2.2. Nội dung biểu hiện vai trò của các cơ sở y tế ngoài công lập
trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Trong đời sống xã hội nước ta hiện nay, trong đó có quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội, chăm sóc sức khỏe cho người dân luôn là mục tiêu hướng
tới của xã hội, được định hướng bởi quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là
hướng tới sự phát triển của con người, nòi giống; coi con người vừa là động
lực vừa là nguồn gốc, là trung tâm và mục tiêu của sự phát triển [8]. Do đó,
cung cấp các dịch vụ y tế kịp thời và có chất lượng cho người dân là trách
nhiệm và nghĩa vụ cao quý, thiêng liêng của ngành y tế. Dưới ánh sáng của
22
hưởng từ GE trị giá 26 tỷ đồng, máy GE này có nhiều tính năng đặc biệt,
chụp cho kết quả nhanh chóng do có sử dụng một nam châm với từ trường
cực mạnh cộng hưởng với các xung tần số radio kết hợp với máy điện toán
nên có thể chỉ định chụp chẩn đoán cho thai phụ nhằm sớm phát hiện dị tật
bẩm sinh của thai nhi; những bệnh về thần kinh mà không tìm ra nguyên
nhân; các bệnh về xương khớp, hệ tiêu hóa, tuyến vú, tuyến tiền liệt, các
động mạch máu, những rối loạn về trí nhớ v.v…). Máy còn chụp phát hiện
sỏi trong gan và mật, bệnh lý tim mạch. Máy có nhiều phần mềm hiện đại
cho phép tạo ảnh nhanh, rõ, đa dạng giúp chẩn đoán được một số bệnh lý đặc
biệt mà các phương pháp chụp cắt lớp thông thường trước đây bị hạn chế.
Ngoài máy chụp cộng hưởng từ, các cơ sở y tế trên còn được trang bị
máy siêu âm màu 4D R7 thế hệ mới trị giá trên 600 triệu; máy xét nghiệm
sinh hóa tự động AU 5400 trị giá 2,6 tỷ đồng …máy chụp cắt lớp điện toán
(CT scan), máy xét nghiệm sinh hóa, huyết học tự động, bán tự động, máy
siêu âm màu 3D, 4D, máy chụp XQ kỹ thuật số …
Chất lượng nguồn nhân lực:
Bệnh nhân đến khám và điều trị luôn hài lòng với phong cách phục vụ
của các nhân viên y tế, được các Giáo sư, Tiến sĩ có trình độ chuyên môn cao
trực tiếp khám, tư vấn, kê đơn điều trị.
Với cơ chế thông thoáng trong tuyển dụng, đào tạo và sử dụng, với
nhiều chế độ đãi ngộ xứng đáng, các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn
quận Hà Đông thu hút được rất nhiều các y bác sĩ có chuyên môn cao tham
gia làm việc, tạo cơ chế cạnh tranh ngay chính trong lực lượng này nhằm sử
dụng hợp lý nguồn nhân lực chất lượng cao và đào thải những người có
chuyên môn, y đức kém, không đáp ứng được với yêu cầu của công việc. Đây
là vấn đề rất lớn mà các cơ sở y tế công lập đang gặp mà chưa có hướng giải
quyết triệt để.
lại cho họ sự rèn luyện trong chuyên môn đồng thời mang về cho họ nguồn
25
thu nhập cao, chính đáng mà không phải ngành dịch vụ nào cũng có. Bởi vậy,
hơn ai hết, họ là những người ngoại đạo trong hoạt động kinh doanh nhưng
họ luôn hiểu được điều gì làm nên sự thành công.
Với sự thể hiện vai trò của các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn
quận Hà Đông hiện nay, đặc biệt là phong cách, thái độ phục vụ, chất lượng
điều trị đang là những đối thủ cạnh tranh đáng phải quan tâm của các cơ sở y
tế công lập. Y tế ngoài công lập có tính năng động, uyển chuyển, tự cân đối,
tự điều chỉnh, luôn tạo ra cơ hội cho sáng tạo, tìm cách cải tiến lề lối làm
việc, rút kinh nghiệm thành công hay thất bại để không ngừng nâng cao chất
lượng dịch vụ. Tạo sự cạnh tranh là một động lực quan trọng trong nâng cao
chất lượng dịch vụ, đảm bảo cho người bệnh giữ vị trí trung tâm.
Hai là, vai trò của các cơ sở y tế ngoài công lập biểu hiện ở những kết
quả trên lĩnh vực kinh tế. Theo đó chúng bao gồm:
- Góp phần toàn dụng lao động của ngành y tế.
Các cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn quận Hà Đông góp phần thu
hút được thêm nhiều nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn lực có chất lượng cao,
vừa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh đa dạng phong phú của người dân, vừa
tạo thêm nhiều việc làm, toàn dụng được nguồn nhân lực chuyên môn hành
nghề y, đồng thời làm gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Y tế ngoài công lập là đơn vị kinh tế dịch vụ, giá trị sản phẩm phụ
thuộc vào trình độ đáp ứng yêu cầu của người sử dụng dịch vụ (bệnh nhân),
mà nhu cầu phong phú, đa dạng, cấp độ của dịch vụ không có giới hạn cuối
cùng. Do những đặc điểm đó ngay cả các nước phát triển cũng chỉ có nguồn
tài chính nhất định cho chăm sóc sức khỏe, cho nên nguồn tài chính từ hệ
thống y tế tư nhân góp phần tăng thêm nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe.