VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ KIỀU TRINH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN – TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ KIỀU TRINH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN – TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8 34 04 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BÙI VĂN HUYỀN
Bàn, giai đoạn từ năm 2011 – 2017 ..........................................................................50
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030
...................................................................................................................................56
3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ............................................................56
3.2. Quan điểm phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam ................................................................................................68
3.3. Phương hướng, mục tiêu phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn
thị xã Điện Bàn trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030 ....................................................................................................69
3.4. Các nhóm giải pháp chủ yếu ..............................................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
STT
Nghĩa đầy đủ
1
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
3.1
Dự báo phát triển nguồn nhân lực đến năm 2025 và 2030
66
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (tháng 01/2016) tiếp tục
khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình
đô thị hóa một cách hợp lý, nâng cao chất lượng dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, thu hẹp khoảng cách về phát triển giữa đô thị và nông thôn, tăng cường kết
nối giữa nông thôn với đô thị, phối hợp các chương trình phát triển nông nghiệp,
nông thôn với phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị.
Từ nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp, Việt Nam chuyển sang nền kinh
tế thị trường nên trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) phải lấy phát triển nông nghiệp nông thôn làm tiền đề. Mục tiêu chính của
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản
xuất hàng hóa lớn, đẩy mạnh cơ cấu nghành nông nghiệp, xây dựng nền nông
nghiệp sinh thái, phát triển toàn diện, đáp ứng các chuẩn mực hiện đại và bền vững.
Hiện nay, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam còn chậm; nền
kinh tế vẫn còn phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều
vào nhiều yếu tố như: vốn, tài nguyên, trình độ lao động, chưa đưa các thành tựu
khoa học và công nghệ vào hoạt động sản xuất, nguồn lao động có kỹ năng chưa
cao. Năng suất lao động chưa được cải thiện, chưa cạnh tranh được với một số nước
trong khu vực. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn còn nhiều mặt bất cập… Do
vậy nội dung trong giai đoạn phát triển tiếp theo là đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, đặc biệt tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn theo hướng CNH, HĐH, tăng tỷ trọng giá trị hàng hóa, gắn công nghiệp chế
thể là đầu tàu, động lực mạnh để tạo sức lan tỏa, dẫn dắt các vùng, miền khác phát
triển. Trước thực trạng trên, các tác giả cũng đề ra định hướng cơ bản và những giải
pháp chủ yếu như: đổi mới và hoàn thiện công tác quy hoạch nhằm khai thác tốt
tiềm năng, thế mạnh của ngành, vùng, lãnh thổ và thành phần kinh tế; huy động và
sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư; đổi mới và hoàn thiện các chính sách điều tiết
vĩ mô…
Gần đây cũng có một số công trình nghiên cứu thực tiễn về cơ cấu kinh tế cả
2
nước và cơ cấu kinh tế các vùng kinh tế - lãnh thổ. Cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng- Thực trạng và triển vọng”,
NXB Chính trị Quốc gia, năm 2003, đã phác họa quá trình chuyển dịch cơ cấu
công- nông nghiệp, phân tích thực trạng quá trình chuyển dịch này, đồng thời kiến
nghị những giải pháp thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp
vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về chủ đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đã phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau nên còn nhiều ý kiến chưa thống nhất. Nhìn
chung, các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn một số hạn chế
sau đây:
+ Hầu hết các tác giả mới dừng lại ở việc dựa trên số liệu thống kê và một số
tài liệu để phân tích và lập luận cho các luận điểm khoa học của mình, có ít công
trình đi sâu nghiên cứu, khảo sát thực tế nhất là khảo sát các mô hình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế tại các địa phương để từ đó phát hiện các vấn đề.
+ Chưa phân tích một cách sâu sắc vấn đề hội nhập kinh tế tác động như thế
nào đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
+ Chưa phân tích mối tương quan giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tăng
trưởng kinh tế.
trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
mối quan hệ của những tác động trong quá trình CNH, HĐH.
+ Phạm vi về không gian: thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
+ Phạm vi về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong bối cảnh CNH, HĐH trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam,
tập trung vào giai đoạn từ năm 2011 – 2017. Đề xuất giải pháp, góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh CNH, HĐH trong thời gian đến.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Theo đó, việc đánh giá,
4
nhận xét các vấn đề kinh tế - xã hội được xem xét trong mối quan hệ hữu cơ, tác
động qua lại và ràng buộc lẫn nhau. Luận văn nghiên cứu cơ cấu kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nghiên cứu các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế trên địa
bàn nghiên cứu, theo dõi quá trình thay đổi và tác động với nhau như thế nào trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó tìm ra một cơ cấu hợp lý, phù hợp với
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê kinh tế: bằng phương pháp điều tra, thu thập số liệu,
trên cơ sở quan sát số lớn hiện tượng; xử lý, hệ thống hóa tài liệu thu thập được trên
cơ sở phân tổ thống kê; tiến hành phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế và tình hình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ đó đưa ra kết luận.
- Phương pháp xử lý số liệu, thông tin: Hệ thống hóa các dữ liệu, thông tin
thu thập được, sau đó tiến hành xử lý, phân tích, tính toán các chỉ tiêu liên quan đến
bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn từ năm 2011 – 2017.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
tại thị xã Điện Bàn trong quá trình đô thị hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Khái niệm cơ bản và vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1. Khái niệm về cơ cấu kinh tế
`
Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan, do sự phát triển của
lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cơ cấu kinh tế luôn luôn biến đổi
theo hướng chuyên môn hóa, kết hợp với đa dạng hóa sản xuất hàng hóa. Đây chính
là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội. Do sự
phân công lao động xã hội, các ngành kinh tế được hình thành và phát triển tương
đối độc lập với nhau, nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau. Trong từng ngành lại
phân thành lại phân thành những phân ngành. Việc hình thành các mối quan hệ và
tỷ lệ giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng
trọng việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế và xã hội.
Từ nhiều góc độ khác nhau, cơ cấu các ngành kinh tế được đánh giá thông
qua các chỉ tiêu như: Cơ cấu giá trị sản lượng, cơ cấu sản phẩm cuối cùng, cơ cấu
theo quy mô vốn đầu tư và cơ cấu lao động... Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu ngành
chỉ mang tính thời điểm, vì cơ cấu ngành luôn thay đổi để phù hợp với sự phát triển
của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội; đó là quá trình chuyển dịch cơ
Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là đòi hỏi khách quan của sự phát triển
lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội của mỗi đất nước. Đây là biện pháp
cơ bản để giải quyết việc làm, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, nâng cao thu nhập
góp phần cải thiện đời sống nhân dân, làm tăng thêm giá trị hàng hóa xuất khẩu,
đồng thời qua đó góp phần đẩy nhanh CNH – HĐH Đất nước.
Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển, bởi các yếu tố hợp
thành cơ cấu ngành kinh tế không cố định. Đó là sự biến đổi về số lượng các ngành,
hay sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, do sự xuất hiện hoặc biến mất của
một số ngành, tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không
đồng đều. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác theo
xu hướng phù hợp với môi trường, điều kiện phát triển được gọi là sự chuyển dịch
8
cơ cấu ngành kinh tế. Đây không chỉ đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự thay
đổi cả về chất lẫn về lượng trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
phải được dựa trên cơ cở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ
cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hay chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu kinh tế mới
tiên tiến hơn, hoàn thiện hơn, bổ sung cho cơ cấu cũ, nhằm biến đổi cơ cấu cũ thành
cơ cấu mới hiện đại và phù hợp. Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là
sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt gồm: Cơ cấu các ngành, thành phần, vùng; nhằm
hướng tới sự phát triển của nền kinh tế theo mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định
cho từng thời kỳ phát triển.
Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghĩa là sự biến đổi cả về số lượng lẫn
chất lượng của các ngành hay sự thay đổi về quan hệ giữa các ngành, sự thay đổi về
tốc độ tăng trưởng giữa các ngành kinh tế, theo xu hướng phù hợp với môi trường
và điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.4. Sự cần thiết và vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.4.1. Sự cần thiết của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả
các yếu tố lợi thế của nền kinh tế, vùng hay địa phương. Các yếu tố đó như: nguồn
lực tài nguyên, nguồn lao động; các yếu tố lợi thế so sánh như chi phí sản xuất.
Thông qua quá trình tổ chức khai thác có hiệu quả các yếu tố lợi thế, trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh thế sẽ tìm ra các ngành kinh tế mũi nhọn, tạo khả năng
tăng trưởng mạnh cho đất nước, vùng hay địa phương; đồng thời giải quyết mỗi
quan hệ tác động lẫn nhau giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên, cùng với phát triển nguồn nhân lực.
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh
tế. Trước hết, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao vai trò, thiết lập mối quan
hệ chặt chẽ giữa các ngành với nhau, tạo đà cho sự tăng trưởng và phát triển của các
ngành.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo ddiều kiện cho các ngành có điều kiện áp
dụng những thành tựu khoa học công nghệ, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH.
Đồng thời, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ nâng cao tính hiệu quả, mở rộng
10
quá trình hợp tác kinh tế giữa những vùng trong nước, cũng như với thị trường quốc
tế.
Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu xã hội.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ tác động đến cơ cấu dân cư, mà còn
tạo điều kiện để nâng cao trình độ cho người lao động, mức sống của người dân, từ
đó góp phần làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng trong nhân dân.
Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng từng bước tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông
nghiệp. Việc phát triển mạnh các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như:
sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may, chế biến nông – lâm – thủy sản…đã, đang và
sẽ thu hút lực lượng lao động lớn từ các khu vực nông nghiệp và nông thôn. Bên
biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp.
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại, về
công nghiệp hoá vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, Đảng ta nêu ra
quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên
tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ,
tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước
ta phải kết hợp chặt chẽ giữa nội dung công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong quá
trình phát triển. Quá trình ấy, không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp, mà còn
phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực, toàn bộ nền
kinh tế quốc dân theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Quá trình ấy không chỉ
tuần tự trải qua những bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, mà còn sử dụng
kết hợp kỹ thuật thủ công truyền thống, với công nghệ hiện đại, tranh thủ tiến nhanh
vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định.
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới cùng với điều kiện cụ thể của đất
nước. Qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta có những đặc điểm chủ
yếu sau đây:
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện
12
mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với sự phát triển nền kinh tế tri thức.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện cơ chế thị trường chịu sự
điều tiết của Nhà nước.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và Việt
Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, một
quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Đối với các nước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, dù đã có
công nghiệp, có cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản tiến bộ đến đâu cũng
chỉ là những tiền đề vật chất chứ chưa phải là cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội. Muốn có cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, các nước này
phải thực hiện quy luật nói trên bằng cách tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa về
quan hệ sản xuất; tiếp thu vận dụng và phát triển cao hơn những thành tựu khoa học
và công nghệ vào sản xuất; hình thành cơ cấu kinh tế mới xã hội chủ nghĩa có trình
độ cao và tổ chức, sắp xếp lại nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa một cách hợp
lý, hiệu quả hơn.
Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực hiện đúng đắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ có những tác
dụng to lớn về nhiều mặt trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước:
- Tạo điều kiện thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động,
tăng sức chế ngự của con người đối với thiên nhiên, tăng trưởng và phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần
quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
- Tạo điều kiện cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước về
vật chất; nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích luỹ và phát triển sản xuất, nhằm
giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần vào sự phát triển tự do, toàn diện
của con người trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học và công nghệ phát triển, nhằm đạt
trình độ tiên tiến hiện đại. Tăng cường lực lượng vật chất và kỹ thuật cho quốc
phòng an ninh; đảm baỏ ngày càng cải thiện đời sống kinh tế, chính trị - xã hội của
14
15
kinh tế.
Đây không chỉ là sự thay đổi về vị trí, mà còn là sự thay đổi cả về lượng lẫn
về chất trong nội bộ cơ cấu. Chuyển dịch cơ cấu thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu,
nhằm làm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển hướng theo mục tiêu kinh tế - xã hội đã
định cho từng thời kỳ.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là “biến đổi cơ cấu bao gồm sự tích lũy vốn, vật
chất, con người và sự biến đổi về nhu cầu, sản xuất, buôn bán và việc làm. Ngoài ra,
còn có sự thay đổi về các quá trình kinh tế xã hội kèm theo như đô thị hóa, thay đổi
dân số, thay đổi về phân phối thu nhập” và thông thường người ta hiểu sự thay đổi
cơ cấu là các sự thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần cho sự tăng trưởng GDP.
Các bộ phận đó gắn bó, tương tác chặt chẽ với nhau; nhằm đạt được hiệu quả cao
nhất; biểu hiện ở các mối quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong
những không gian - thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã
hội. Đặc trưng của cơ cấu là không cố định mà luôn vận động, thay đổi. Sự tồn tại
của nó mang tính khách quan, phụ thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất và
phân công lao động trong xã hội. Ở mỗi nơi và mỗi giai đoạn cụ thể thì xu thế
chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội
và các thể chế khác nhau. Quá trình CNH,HĐH liên kết với quá trình đô thị hóa là
quá trình phát triển mạnh của lực lượng sản xuất, là quá trình tạo ra những công
nghệ mới, những tiến bộ kỹ thuật mới, giúp làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy
sự tăng trưởng. Vì thế CNH, HĐH là qúa trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế,
mối quan hệ của việc chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế; CNH - HĐH mang tính
nhân quả, không tách rời nhau.
Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cơ cấu theo cả chỉ tiêu
tuyệt đối và chỉ tiêu tương đối, qua thời gian. Phân tích ảnh hướng kết cấu là phân
tích ảnh hưởng của sự thay đổi kết cấu đến các chỉ tiêu khác như: các chỉ tiêu bình
trong quá trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
1.2.2.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
Công nghiệp là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế quốc dân, đồng thời
đây cũng là một bộ phận cấu thành kinh tế của các vùng lãnh thổ. Việc mở rộng các
ngành nghề, các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp có tính chất công nghiệp là
phát triển công nghiệp. Tóm lại, công nghiệp bao gồm: hoạt động của các thợ thủ
17
công chuyên nghiệp - không chuyên nghiệp, các doanh nghiệp tư nhân, các công ty
trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã và tổ hợp, tổ sản xuất công nghiệp và thủ công
nghiệp, các xí nghiệp vừa và nhỏ nhưng hoạt động trực tiếp gắn với phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn. Một đòi hỏi khách quan, một quá trình có tính quy luật để
phát triển kinh tế - xã hội là sự phát triển của công nghiệp.
Ngành công nghiệp được phân thành ba nhóm ngành gồm công nghiệp khai
thác, công nghiệp chế tạo – chế biến và công nghiệp điện – khí – nước; sự phân chia
này dựa theo tính chất của sản phẩm. Trong đó, ngành công nghiệp khai thác có
nhiệm vụ khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sản xuất và đời sống, bao
gồm khai thác các nguồn năng lượng như dầu mỏ, khí đót, than, khai thác quặng
kim loại như sắt, thiếc, bô xít,… khai thác vật liệu xây dựng (đá, cát, sỏi..). Sản
phẩm của công nghiệp khai thác cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho công nghiệp
chế biến. Công nghiệp chế biến cũng bao gồm ba nhóm ngành: một là, công nghiệp
chế tạo công cụ sản xuất gồm có: cơ khí chế tạo máy, kỹ thuật điện, điện tử; xét
theo công dụng của sản phẩm đầu ra. Những ngành sản xuất này có vai trò quan
trọng hàng đầu. Hai là, công nghiệp hóa chất, hóa dầu, luyện kim và vật liệu xây
dựng. Ba là, công nghiệp sản xuất vật phẩm tiêu dùng như sản phẩm dệt may, da
giày, chế biến thực phẩm, đồ uống, chế biến gỗ, giấy, chế biến thủy tinh, sành,
sứ…Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, ngành công nghiệp có vai trò chủ đạo.
Vai trò đó thể hiện ở chỗ nó là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh
Có thể định nghĩa một cách chung nhất, dịch vụ là những hoạt động lao động
mang tính chất xã hội, nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình
thái vật thể, kịp thời thỏa mãn, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu sản xuất và
đời sống của con người. Đây là lĩnh vực “mở”, biến đổi, phát triển tùy thuộc vào sự
phát triển, phân bố sâu rộng của phân công lao động xã hội, của những thành tựu
khoa học, công nghệ phục vụ cho sản xuất và đời sống của con người. Dịch vụ là
hình thức không bao gồm những hoạt động nhằm mục đích tự phục vụ cho quá trình
sản xuất của chủ thể sản xuất hay tự phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của một người
nào đó.
Dịch vụ bao gồm rất nhiều loại: ngân hàng, tín dụng, bưu điện, thông tin liên
lạc, vận tải, cung cấp điện, thủy lợi, sửa chữa máy móc, công cụ sản xuất, xây dựng
nhà ở, xây dựng các công trình công cộng, các hoạt động dịch vụ du lịch, dịch vụ
19