V11 rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi ngữ văn - Pdf 60

HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN
KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

CHUYÊN ĐỀ DUYÊN HẢI 2019
RÈN KĨ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG
TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
DÀNH CHO HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN

NĂM 2019


MỤC LỤC

A. PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................1
2. Mục đích của đề tài...........................................................................................2
B. PHẦN NỘI DUNG...........................................................................................4
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT.........................................................................................4
1. Đề nghị luận văn học của học sinh giỏi môn Ngữ văn......................................4
2. Dẫn chứng trong bài nghị luận văn học của học sinh giỏi................................6
môn Ngữ văn.........................................................................................................6
2.1. Hiểu về “Dẫn chứng” và “Dẫn chứng trong bài văn nghị luận của học sinh
giỏi môn Ngữ văn”...............................................................................................6
2.2. Vai trò của dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học của học sinh giỏi.....8
2.3. Yêu cầu khi sử dụng dẫn chứng trong bài văn nghị luận...............................8
II. KĨ NĂNG CHỌN DẪN CHỨNG TRONG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
DÀNH CHO HSG MÔN NGỮ VĂN.................................................................10
1. Chọn dẫn chứng đúng......................................................................................10
2.Chọn dẫn chứng phù hợp..................................................................................11
3. Chọn dẫn chứng tối ưu nhất............................................................................12
4. Chọn dẫn chứng toàn diện...............................................................................13

giáo viên dạy giỏi môn Văn THPT-HN 09/2002). Công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi quốc gia là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các trường THPT
chuyên. Học sinh giỏi nói đúng nghĩa là học sinh có năng khiếu và năng lực văn
chương.
Từ việc xác định rõ mục tiêu đối với học sinh chuyên Văn trong đội tuyển
học sinh giỏi. Bồi dưỡng học sinh giỏi không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến
thức, hay lắp ghép kiến thức lý luận văn học và kiến thức tác phẩm. Mà nó là sự
tỏng hòa của cả năng lực, năng khiếu của học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn. Kiến
thức lí luận văn học giữ một vai trò quan trọng như những kết luận có tính khoa
học. Nhưng nói như N.Séc-nư-sép-xki: “Những kết luận khoa học như những
thỏi vàng, chỉ lưu hành trong phạm vi nhỏ hẹp, còn tri thức từ tác phẩm văn học
như những đồng tiền nhỏ”, có nghĩa kiến thức về tác giả, tác phẩm để soi sáng
vào tác phẩm cũng rất quan trọng trong đề văn thi chọn HSG quốc gia.
Thực tế trong các cuộc thi chọn HSG từ cấp tỉnh, khu vực đến cấp quốc gia,
chúng ta đều nhận thấy trong trong đáp án, biểu điểm thường thang điểm của
1


phần chứng minh chiếm số điểm nhiều nhất (thường là 6/12 điểm phần chứng
minh). Và thực tế dạy học, nhiều học sinh rất chắc kiến thức lý luận văn học,
phần bàn luận rất sâu, song đến phần chứng minh thì “muôn nẻo lỗi”, từ những
lỗi không nhận thấy mối quan hệ giữa lý luận và dẫn chứng không khớp nhau,
không soi tỏ cho nhau, cho đến lỗi chọn dẫn chứng không hay, không tiêu biểu.
GS. TS. Trần Nho Thìn trong nhiều cuộc trao đổi ở Hội thảo dành cho giáo viên
chuyên Văn THPT cũng đã nhấn mạnh: “Quan trọng nhất trong bài làm văn của
học sinh giỏi là học sinh phải biết chọn và phân tích dẫn chứng”. Như thế, đủ
thấy tầm quan trọng của dẫn chứng trong bài làm văn của HSG. Việc rèn kĩ năng
lựa chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh
giỏi là một nhu cầu thiết thực và mối quan tâm với nhiều GV đang trực tiếp bồi
dưỡng HSG quốc gia.



B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Đề nghị luận văn học của học sinh giỏi môn Ngữ văn
Đọc một số đề văn nghị luận văn học những năm gần đây trong kĩ thi
chọn HSG quốc gia.
Năm

Một số đề thi học sinh giỏi quốc gia

2001

Nhà văn Bùi Hiển đã phát biểu khẳng định ý nghĩa đặc biệt của
tiếng nói tri âm trong văn chương: Ở nước nào cũng thế thôi, sự
cảm thông, sẻ chia giữa người đọc và người viết là trên hết" (báo
Văn nghệ, 10-2-2011)
Anh (chị) có suy nghĩ gì về vấn đề này? Hãy phân tích hai bài
thơ Độc Tiểu Thanh kí của thi hào Nguyễn Du và Kính gửi cụ
Nguyễn Du của nhà thơ Tố Hữu để làm rõ tiếng nói tri âm ở mỗi
bài.

2007

Có ý kiến cho rằng: khi tác phẩm kết thúc, ấy là lúc cuộc sống
của nó mới thực sự bắt đầu.
Anh (chị) hãy bình luận ý kiến đó.

2010


lên đôi cánh của tư tưởng để lại tác động vào lòng người còn sâu
mạnh hơn cả sự sống.
Bằng những hiểu biết về văn học, anh chị hãy bình luận những
quan niệm trên.

2019

“Rồi đây có thể xuất hiện những cỗ máy biết viết văn, làm thơ. Lúc
đó, sáng tạo văn học có còn là độc quyền của con người”?
Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy trình bày quan điểm
của mình.

Qua khảo sát các đề thi HSG quốc gia của những năm gần đây, chúng tôi
nhận thấy, đề bài lí luận văn học dành cho đối tượng học sinh giỏi thường có hai
phần: phần ý kiến lý luận và phần yêu cầu phạm vi dẫn chứng chứng minh.
- Dạng bài thứ nhất là ngay trong đề bài đã giới hạn tác phẩm văn học cụ
thể cần phân tích chứng minh để làm sáng tỏ vấn đề lí luận văn học

5


- Dạng bài thứ hai, đề bài không chỉ định tác phẩm cụ thể, học sinh phải tự
lựa chọn tác phẩm để phân tích chứng minh.
2. Dẫn chứng trong bài nghị luận văn học của học sinh giỏi
môn Ngữ văn
2.1. Hiểu về “Dẫn chứng” và “Dẫn chứng trong bài văn nghị luận của học
sinh giỏi môn Ngữ văn”
Đã có rất nhiều cuốn sách tham khảo, hướng dẫn làm văn nghị luận bàn
về dẫn chứng trong bài văn nghị luận, cụ thể hơn là trong bài văn nghị luận xã
hội và nghị luận văn học, như Làm văn 10 , 11, 12, Trần Thanh Đạm chủ biên,

nên bởi những lý lẽ và dẫn chứng cả hai cùng có một mục đích là làm sáng tỏ
vấn đề cần nghị luận. Tuy nhiên, “nếu như lý lẽ nghiêng về làm cho người đọc
hiểu thì dẫn chứng thiên về phía làm người ta tin. Một khi đã hiểu và tin tức là
đã bị thuyết phục”2. Như vậy cả hai đều có tầm quan trọng như nhau, một bài
văn của học sinh giỏi không thể chỉ chú ý tới vấn đề lý luận văn học, tới lý lẽ,
mà còn phải chú ý tới dẫn chứng trong quá trình hành văn.
2.3. Yêu cầu khi sử dụng dẫn chứng trong bài văn nghị luận.
Thứ nhất: Yêu cầu dẫn chứng phải đúng: Là kiến thức đảm bảo làm sáng
rõ vấn đề lý luận mà đề bài đặt ra. Khi sử dụng kiến thức văn học cần chú ý
chọn kiến thức thực tiễn về tác giả, tác phẩm để minh chứng cho phù hợp với
vấn đề lí luận văn học trong đề bài, xác định những kiến thức văn học trọng tâm,
kiến thức văn học phụ trợ. Để yêu cầu có được những dẫn chứng đúng: Tác
phẩm được lựa chọn phải là tiêu biểu, phải là minh chứng thuyết phục nhất cho
vấn đề lí luận được bàn tới; khi chứng tích, dễ rơi vào liệt kê tác mà chưa chạm
được tới vấn đề; Tác phẩm được lựa chọn nhất thiết phải có mối liên hệ đến vấn
đề lí luận văn học;
Thứ hai: Yêu cầu để có được dẫn chứng cần hay, phù hợp nhất: Không chỉ
là kiến thức đảm bảo làm sáng rõ vấn đề lý luận mà đề bài đặt ra, mà kiến thức
dẫn chứng tác giả tác phẩm đó phải hay, phù hợp, tối ưu nhất.

2 Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) – Đỗ Ngọc Thống – Lưu Đức Hạnh, sđd, tr.138

8


Thứ ba: Xác định được đúng tỉ lệ:, tỉ lệ giữa dẫn chứng và lý lẽ, tỉ lệ giữa
các loại dẫn chứng. Nếu phần bình luận giúp người viết có cơ sở để nhìn vấn đề
ở chiều sâu thì phần chứng minh giúp người viết soi sáng vấn đề ở chiều rộng,
tạo cho người đọc tin vào vấn đề đang nghị luận. GS. Đỗ Ngọc Thống đã phân
biệt hai dẫn chứng là dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng. Từ đó, đặt ra

nếu học sinh chỉ chọ dẫn chứng để làm rõ một đặc trưng nào đó của thơ ca hiểu
theo nghĩa hẹp thì dẫn chứng đó gọi là chưa được hiểu đúng. Khái niệm đúng
của dẫn chứng ở đây còn hiểu là học sinh khi đọc đề cần chọn cho mình được
dẫn chứng có khả năng làm rõ được vấn đề lý luận.
Ví dụ
Đề văn: Nhà văn Nga K. Pauxtôpxki đã từng phát biểu:
“Chỉ có người nào nói được với mọi người những điều mới mẻ, có ý
nghĩa và thú vị, nhìn thấy những gì mà những người khác không nhận ra, người
đó mới có thể là nhà văn”.
(K.Pauxtôpxki – “Bông hồng vàng và Bình minh mưa”, NXB Văn học, 2003, tr.
46)
Ý kiến của anh/ chị về nhận định trên. Bằng việc chọn phân tích một tác
phẩm trong chương trình Ngữ văn THPT, hãy làm sáng tỏ.
Khi đọc đề văn này, học sinh thường xác định được vấn đề nghị luận bàn
về phong cách, sáng tạo. Có học sinh đã chọn dẫn chứng là phong cách nghệ
thuật của nhà văn Nam Cao thông qua truyện ngắn “Lang Rận”, thực chất chọn
hướng chứng minh thông qua phong cách của nhà văn Nam Cao là phù hợp,
nhưng “Lang Rận” chưa phải đặc sắc nhất trong nhiều truyện ngắn của Nam
Cao như “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Đời thừa”.
Ví dụ
Đề văn: Bêilimxki đã cho rằng: “Một nhà văn chân chính là nhà văn nhân đạo
từ trong cốt tủy”. Anh/ chị hãy làm sáng tỏ điều đó qua trải nghiệm văn học của
bản thân.
10


Học sinh đã chọn tác phẩm Chí Phèo, đây là một cách chọn tác phẩm
đúng, phù hợp để làm rõ nội dung vấn đề lý luận:
Truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao đã thể hiện một giá trị
nhân đạo sâu sắc và mới mẻ. Không chỉ là tiếng nói tố cáo xã hội thực dân nửa

3. Chọn dẫn chứng tối ưu nhất
Tức là dẫn chứng không chỉ đúng mà còn phải hay, còn làm nổi rõ vấn đề
lý luận nhất. “Phải có trong đầu hàng trăm câu thơ thì may ra mới trích trong
một bài viết nào đó được vài ba câu phù hợp, đúng và trúng”. Câu thơ trúng kia
chính là câu thơ tối ưu. Nhà phê bình Hoài Thanh sở dĩ gọi tên rất “trúng” hồn
cốt, đặc điểm bản chất nhất của từng phong cách nhà thơ chỉ bằng vài ba câu,
vài ba chữ ngắn gọn, bởi vì bên cạnh năng khiếu thẩm thơ tinh nhạy trời cho,
ông còn là một tấm gương lao động cần cù, đọc nhiều, nhớ nhiều nên có tầm bao
quát rộng lớn.
Để có kĩ năng chọn dẫn chứng hay, trúng vấn đề khi chứng minh, cần vận
dụng chúng một cách linh hoạt và huy động nhanh. Vì thế mà học sinh giỏi văn
cũng cần tích lũy cho mình kiến thức dẫn chứng tác phẩm phong phú đa dạng,
theo hệ thống và cách thức của riêng mình.
Ví dụ:
Đề văn - Nhà văn Nga K. Pauxtôpxki đã từng phát biểu:
“Chỉ có người nào nói được với mọi người những điều mới mẻ, có ý
nghĩa và thú vị, nhìn thấy những gì mà những người khác không nhận ra, người
đó mới có thể là nhà văn”.
(K.Pauxtôpxki – “Bông hồng vàng và Bình minh mưa”, NXB Văn học, 2003, tr.
46)
Ý kiến của anh/ chị về nhận định trên. Bằng việc chọn phân tích một tác
phẩm trong chương trình Ngữ văn THPT, hãy làm sáng tỏ.
Học sinh có thể lựa chọn, phân tích một tác phẩm bất kỳ (thơ hoặc văn
xuôi) trong chương trình Ngữ văn THPT mà mình tâm đắc, hiểu biết sâu sắc để
làm sáng tỏ. Tuy nhiên, khi lựa chọn, phải là những tác giả lớn, những tác phẩm
tiêu biểu thì sẽ là dẫn chứng tối ưu; Hơn nữa, học sinh phải đảm bảo được yêu
cầu cơ bản sau: Không phân tích lan man toàn bộ tác phẩm mà phân tích tác
12




bằng cái nhìn đầy tính phát hiện,

luyến ái, với “Vội vàng”, Xuân

cách khám phá mới mẻ về mảnh đất

Diệu đã đem đến cho mùa xuân vốn

hiện thực đã in dấu chân của nhiều

đã xuất hiện trong thơ của Nguyễn

người đi trước. Nhìn cuộc đời bằng

Du, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử,
13


Nguyễn Bính,... một vẻ đẹp riêng.

tộc. Đó là những hình ảnh ước lệ,

Nếu mùa xuân của Chế Lan Viên là

biểu tượng thường thấy của văn học

nỗi sầu: “Tôi có chờ đâu có đợi

dân gian như “bến” – “đò”, “hoa”


mang tình quê thiết tha sâu thẳm.

thân của luyến ái […]

[…] Nam Cao là nhà văn luôn nhìn

[…]Trong “Ba đỉnh cao Thơ

đời bằng đôi mắt của tình thương,

mới”, nếu Xuân Diệu và Hàn Mặc

chính bởi vậy, vẫn là hình ảnh người

Tử ảnh hưởng nhiều từ thơ ca

nông dân trước Cách mạng tháng

phương Tây thì Nguyễn Bính lại

Tám, nhưng Chí Phèo trong tác

ngả về phía âm hưởng của văn học

phẩm cùng tên của nhà văn không

dân gian. Đó là cách khám phá hiện

giống với chị Dậu trong “Tắt đèn”


và phát hiện ra những bi kịch tinh

những mối tình đơn phương lỡ dở

thần vô cùng đau đớn. Đó là bi kịch

trong những áng thơ ca của ông. Đó

bị tha hóa và bị cự tuyệt quyền làm

là thể thơ lục bát mang điệu hồn dân

người […]
14


Để có dẫn chứng toàn diện, cần trang bị cho mình một mảng kiến thức về
tác giả tác phẩm của các giai đoạn khác nhau, các tác giả tác phẩm theo các thể
loại khác nhau, các giai đoạn văn học; các trào lưu, trường phái; kiến thức về tác
giả, tác phẩm của các nền văn học khác nhau, văn học hay của văn học Việt
Nam và văn học nước ngoài đã được tuyển chọn vào chương trình sách giáo
khoa THCS, THPT cần phải nắm vững. Ngoài ra cần đọc, suy nghĩ thêm về một
số tác phẩm ngoài chương trình học nhưng có giá trị lớn về nội dung và nghệ
thuật, là những tác phẩm kinh điển, nổi tiếng thế giới.

III. KĨ NĂNG PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG DÀNH TRONG ĐỀ NGHỊ
LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO HSG MÔN NGỮ VĂN
1. Yêu cầu tổ chức, phân tích dẫn chứng
Dẫn chứng phải được phân tích cho hay và gắn nó với lý lẽ mà nó đang

Vẻ đẹp riêng trong đôi mắt

miêu tả tâm lí tinh tế, sắc sảo của

Nam Cao còn nằm ở một hình thức

ông đã soi tỏ vào đời sống bên trong

sáng tạo, một “dấu vân tay không

của nhân vật. Bởi vậy, quá trình thức

trộn lẫn” (Lê Đạt) của nhà văn. Xây

tỉnh của Chí Phèo đã được tái hiện

dựng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao

vô cùng tự nhiên, sinh động và hợp lí

đã dựng lên một chân dung điển

với logic của thực tại. Kết cấu của

hình, sắc nét, tiêu biểu cho số phận

tác phẩm không theo trình tự thời

của những người nông dân trước




độc thoại nội tâm. Giọng điệu của

hùng tráng, nó thành thật dâng sẵn,

nhà văn vừa tỉnh táo sắc lạnh lại vừa

đón chờ” (Phạm Văn Đồng), chỉ khi

trữ tình thắm thiết. “Bản thân hiện

nào đi qua con mới mới của nhà văn

thực là sự hướng dẫn, bản thân nó

nó mới trở thành một thế giới nghệ

là tác phẩm, bản thân nó là bài ca

thuật riêng.

17


2. Kĩ năng tổ chức, phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học
của HSG
2. 1. Kĩ năng tổ chức, phân tích dẫn chứng theo lối hạt nhân, vòng tròn
a. Mô tả kĩ năng tổ chức, phân tích dẫn chứng theo lối hạt nhân, vòng
tròn

[…]. Văn chương là tình yêu của người nghệ sĩ dành cho cuộc đời này, là yếu
tố quan trọng nhất mà như Nguyễn Du nói “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
Thật vậy, chính cái tâm hồn đáng quý kia, cái tấm lòng luôn trăn trở, đau nỗi
đau nhân thế, buồn nỗi buồn của con người, một tấc lòng nặng trĩu vì đời của
thi hào Nguyễn Du mới khiến cho văn chương tồn tại, thăng hoa và bất diệt.
Cái sức mạnh cứu chuộc thế giới của nghệ thuật và văn chương, không nằm
trong những thứ kiểu cách, giáo điều mà nằm trong trái tim nồng nàn máu nóng
mà những tác giả văn học đặt vào trong từng câu chữ, từng nét mực và trang
giấy viết. […]. Thế chẳng phải, văn chương mà được tạo ra từ trong những bộ
óc và trái tim sắt thép kia sẽ chỉ là những con chữ thẳng ngay đơ trên trang
giấy, những gì ào ào tuôn ra bằng sự vận hành của một cái “click” chuột để
huy động những gì có sẵn trong bộ nhớ, những điều vốn chẳng thể nào tiến gần
được đến lòng người sâu thẳm?
b. Phân tích ngữ liệu
Mô hình khái quát:

19


Kiến thức lý luận
kiến thức lý luận
Kiến thức tác giả, tác
phẩm để chứng minh
Kiến thức tác giả, tác
phẩm để chứng minh
Phân tích ngữ liệu ví dụ:
Kiến

thức



ý tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Thật vậy, trong những bộ óc

thức, […] là lời chính cái tâm hồn đáng quý kia, cái tấm và trái tim […]


hào,

phát lòng luôn trăn trở, đau nỗi đau nhân những điều vốn

động khuôn khổ thế, buồn nỗi buồn của con người, một chẳng thể nào tiến
và cứng nhắc

tấc lòng nặng trĩu vì đời của thi hào gần

được

đến

Nguyễn Du mới khiến cho văn chương lòng người sâu
tồn tại, thăng hoa và bất diệt.
c. Các bước tiến hành
20

thẳm?”


Bước 1. Chọn dẫn chứng chuẩn, đúng và hình dung là dẫn chứng phù hợp nhất.
Bước 2. Viết ý lý luận mở đoạn (từ 1 đến 2 ý)
Bước 3. Phân tích dẫn chứng có mạch liên kết với ý lý luận vừa dẫn.

gió thoảng qua, làm sao chẳng ngân rung một nhịp riêng […]
[…] Đọc thơ Hồ Xuân Hương, người đọc như bị cuốn vào tâm xoáy
của bão táp cảm xúc, dẫu là tiếng thơ trào lộng hay lắng vào tâm tình thì vẫn
nổi lên một cá tính ngang tàng, mãnh mẽ. Ngôn ngữ tho gai góc, gập ghềnh như
cái đứt gãy tự bên trong trái tim thi sĩ. Nếu thơ Bà Huyện Thanh Quan cổ
kính, trang nhã như một tòa thành, thì thơ Hồ Xuân Hương cựa mình trong
rêu đá, ruộng đồng, đời thường,[…]
[…] Vậy mà đến năm 1971, đến với chương V trường ca Mặt đường khát
vọng của Nguyễn Khoa Điềm, đất nước một lần nữa sống dậy, gần gũi mà
thiêng liêng, quá khứ trong hiện tại, vô hình trong hữu hình. Đất nước đâu có gì
xa xôi, đất nước gần gũi xung quanh mỗi người hiện hữu từ “miếng trầu bây
giờ bà ăn” […]
[…] Cả hai bài thơ đều cùng đề tài mùa thu, tuy nhiên thu của cụ Tam
Nguyên là thu của nông thôn, đượm vẻ buồn đồng ruộng, còn thu của Xuân Diệu
lại bâng khuâng cái cảm xúc thị thành. Một bên là mùa thu đã hoàn tất, còn một
bên là mùa thu vừa mới chớm […]
[…] Cùng viết đề tài người nông dân, nhưng, Thạch Lam thì quan tâm tới
miếng vá trong chiếc áo rách của hiện thực, còn Nam Cao quan tâm cả chiếc
áo rách đó. Nhưng ngay Nam Cao và Kim Lân cũng khác, một Chí Phèo bước
tới con đường cùng bi kịch, Tràng của Kim Lân trong “Vợ nhặt” lại nắm lấy
hy vọng về sự sống ngay bên bờ vực của cái chết. Cả hai nhà văn đều đang đề

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status