CHUYÊN ĐỀ HỘI THẢO KHOA HỌC
DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
LẦN XII NĂM 2019
Tên chuyên đề:
“RÈN KĨ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG
TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO
HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN”
1
Mục lục:
A.MỞ ĐẦU………………………………………………………………………...4
I.LÍ DO CHỌN ĐỀ
TÀI.............................................................................................4
II.NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN
CỨU................................................................5
1.Nhiệm vụ…………………………………………………………………..5
2.Phạm vi nghiên
cứu………………………………………………………...6
III.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………………………………6
IV.CẤU TRÚC CỦA CHUYÊN ĐỀ………………………………………………6
B.NỘI DUNG……………………………………………………………………...7
I.VAI TRÒ CỦA DẪN CHỨNG TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC…7
1.Đặc điểm kiểu bài nghị luận văn học……………………………………...7
2.Vai trò của dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học…………………...8
3.Các lỗi thường gặp khi lựa chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị
luận văn học của học sinh giỏi……………………………………………..10
3.1.Lỗi khi chọn dẫn chứng………………………………………….10
3.2.Lỗi khi phân tích dẫn
3.3.Kiến thức khoa học………………………………………………38
4.Sử dụng linh hoạt các thao tác phân
tích………………………………….39
4.1.Thao tác bình giảng…………………………………………...…
41
4.2.Thao tác so sánh
………………………………………………...43
III.BÀI TẬP VẬN DỤNG………………………………………………………..48
BÀI TẬP 1………………………………………………………………………...48
3
BÀI TẬP 2………………………………………………………………………...60
BÀI TẬP 3………………………………………………………………………...68
C.KẾT LUẬN…………………………………………………………………….78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………….80
A.MỞ ĐẦU
I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Việc rèn kĩ năng làm văn cho học sinh là một trong những đòi hỏi tiên quyết
của quá trình dạy-học, nhất là trong bối cảnh Bộ GD&ĐT chủ trương đổi mới
phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá các môn khoa học xã hội (trong
đó có Ngữ văn) theo tinh thần “... nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương đất nước để học
sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội”
[Theo công văn Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH, năm 2013].
Với học sinh giỏi văn, yêu cầu được trang bị hệ thống kĩ năng cơ bản đối với
các kiểu bài lại càng trở nên cần thiết và quan trọng hơn. Để viết được những bài
4
những vấn đề cụ thể khiến cho học sinh rất khó hình dung. Trong các sách và tài
liệu tham khảo dành cho học sinh giỏi văn, phần hướng dẫn về cách chọn phân tích
dẫn chứng cũng chỉ được nêu một cách rất khái quát sơ lược, chưa có tính hệ
thống, thiên về lí thuyết hàn lâm, chưa có nhiều ví dụ minh họa cụ thể.
Chính vì tầm quan trọng và thực tế đó mà người viết đã xây dựng chuyên đề:
“Rèn kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành
cho học sinh giỏi Ngữ Văn” với hi vọng đóng góp một vài kinh nghiệm nhỏ có
tính ứng dụng cụ thể đối với giáo viên và học sinh; cùng nhau trao đổi, chia sẻ,
thảo luận để hoàn thiện nâng cao hơn nữa phương pháp giảng dạy trong quá trình
bồi dưỡng cho học sinh giỏi văn kĩ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài văn
nghị luận văn học.
II.NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1.Nhiệm vụ
Chuyên đề nhằm hệ thống hóa những kĩ năng cơ bản cần bồi dưỡng cho học
sinh giỏi trong việc chọn, phân tích dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học, thể
hiện qua các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, rèn luyện bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng chọn dẫn chứng sao cho
chính xác, tiêu biểu, sáng tạo. (thông qua ví dụ cụ thể).
Hai là, rèn luyện bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng phân tích dẫn chứng sao
cho bám sát vấn đề, có trọng tâm (thông qua các ví dụ cụ thể).
Ba là, hệ thống một số đề vận dụng để giúp học sinh nắm chắc kiến thức lí
thuyết và nâng cao kĩ năng trong việc chọn và phân tích dẫn chứng.
2.Phạm vi nghiên cứu
Kiểu bài nghị luận văn học bao gồm nhiều dạng bài khác nhau. Ở phạm
vi một chuyên đề nhỏ, chúng tôi tập trung khảo sát và nghiên cứu về kĩ năng
chọn và phân tích dẫn chứng trong các dạng bài nghị luận văn học cơ bản,
thường xuất hiện trong đề thi học sinh giỏi các cấp.
6
Nghị luận văn học. Trong phạm vi của chuyên đề này, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu
kiểu bài Nghị luận văn học.
Nghị luận văn học là kiểu bài nghị luận dùng những lí lẽ, lập luận, dẫn
chứng của mình để bàn bạc, thuyết phục người khác về một vấn đề liên quan đến
văn học. Nghị luận văn học là để thuyết phục người khác nghe theo quan điểm, ý
kiến cá nhân của mình và từ đó nhận ra những vấn đề nào là đúng và vấn đề nào là
sai. Trong văn nghị luận ta sẽ gọi thái độ là tình, còn ý kiến là lý. Để thuyết phục
được ý kiến của mình thì chúng ta cần có phải có cả tình và lí, tức là có lập luận
sắc bén, dẫn chứng đắc địa, có cảm xúc lay động tâm tư người đọc, có như vậy
người đọc mới cảm thấy bị chinh phục và hoàn toàn đồng ý với quan điểm của
mình.
Dựa trên đối tượng cần nghị luận có các kiểu bài nghị luận văn học như sau:
Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; Nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn
xuôi (tình huống, nhân vật, chi tiết…); Nghị luận so sánh, đối chiếu; Nghị luận về
ý kiến bàn về văn học; Nghị luận tổng hợp (tích hợp nghị luận xã hội)… Bài nghị
luận xã hội của học sinh giỏi thường xoay quanh các vấn đề lí luận văn học, được
đẩy lên ở một cấp độ cao hơn, đòi hỏi học sinh không chỉ có kiến thức phong phú
mà còn phải có kĩ năng sắc bén, thuần thục. Luận điểm trong bài văn nghị luận văn
học của học sinh giỏi cần phải thể hiện rõ tư tưởng, quan điểm, được diễn đạt dễ
hiểu, sáng tỏ và nhất quán. Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó phải thống nhất
các đoạn văn thành một khối. Để có sức thuyết phục, luận điểm cần phải đúng đắn,
chân thực và đáp ứng nhu cầu thực tế. Trong một bài nghị luận văn học, luận điểm
có thể có các cấp độ khác nhau. Tùy nội dung vấn đề và cách lập luận của người
viết mà bài văn có thể có một luận điểm chính, luận điểm trung tâm và các luận
điểm phụ. Việc xác định được hệ thống, các cấp độ của luận điểm trong văn bản là
một yêu cầu cấp thiết chứng tỏ khả năng thâu tóm, hiểu sâu vấn đề và kỹ năng tư
duy logic của người viết. Luận cứ cũng là một yếu tố không thể thiếu trong bài văn
8
những giải thích, cắt nghĩa để hiểu vấn đề thì dẫn chứng là đưa ra chứng cứ để
chứng minh cho vấn đề. Một bài văn nghị luận mà không hoặc thiếu dẫn chứng thì
sẽ không hoặc thiếu sức thuyết phục, người đọc sẽ không tin vào lí lẽ suông vì
thiếu minh chứng.
Trong bài văn nghị luận văn học, dẫn chứng là những tác phẩm văn học,
những yếu tố trong tác phẩm văn học hoặc những ý kiến về văn học được đưa ra
nhằm làm sáng tỏ vấn đề văn học đang bàn luận. Dựa trên yêu cầu của bài nghị
luận văn học, có ba loại dẫn chứng cơ bản: Dẫn chứng bắt buộc (là loại dẫn chứng
mà đề yêu cầu), dẫn chứng tự chọn (là những dẫn chứng người viết được phép
chọn lọc trong phạm vi yêu cầu của đề), dẫn chứng mở rộng (là những dẫn chứng
nằm ngoài phạm vi yêu cầu của đề mà người viết đưa vào bài để liên hệ, so sánh,
đối chiếu nhằm làm sáng tỏ thêm ý đang được bàn bạc).
VD: Đề bài “Có ý kiến cho rằng: Phong cách văn học biểu hiện trước hết ở
cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá ở giọng điệu riêng biệt của tác giả.
Bằng việc phân tích tùy bút Người lái đò Sông Đà, hãy chứng minh nhận định
trên”.
=> Dẫn chứng bắt buộc: Tác phẩm “Người lái đò Sông Đà”. Dẫn chứng mở rộng:
Các tác phẩm khác của Nguyễn Tuân hoặc của các tác giả khác có cùng phương
diện để liên hệ, so sánh.
VD: Đề bài “Có ý kiến cho rằng: Với Thơ mới, thi ca Việt Nam bước vào
một thời đại mới. Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm rõ điều làm nên
dấu ấn của “thời đại mới” qua một số bài Thơ mới giai đoạn 1930 - 1945.
=> Dẫn chứng bắt buộc: Các tác phẩm thuộc phong trào Thơ mới giai đoạn 1930 –
1945. Dẫn chứng tự chọn: Nằm trong phạm vi bắt buộc nêu trên, người viết có thể
tự chọn một vài tác phẩm mình tâm đắc, cho là tiêu biểu.
10
Dẫn chứng có vai trò vô cùng quan trọng đối với bài nghị luận văn học. Dẫn
chứng thể hiện vốn kiến văn phong phú, mới mẻ, sâu rộng, khả năng tích lũy kiến
(Tràng giang – Huy Cận)
“những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la-li-la-li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn”
(Đàn ghi-ta của Lor-ca – Thanh Thảo)
“Nhưng nói như thế không có nghĩa là Thạch Lam hoàn toàn chối bỏ các
biến cố, sự kiện, hành động, xung đột. Trái lại, nhà văn rất chú ý săn sóc đến
những hành động, sự kiện khi chúng có thể trở thành tình huống khơi mở hoặc phô
diễn những trạng thái sống mơ hồ của con người. Yếu tố nghệ thuật này đã phát
huy được hiệu quả lớn trong rất nhiều truyện ngắn Thạch Lam như: Đứa con đầu
lòng, Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén, Hai lần chết, Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầu mùa, Dưới
bóng tường lan…”
“Trong hệ thống những bài thơ mang chứa tâm sự của Hồ Quỳnh Hương,
“Tự tình” là một trong những bài thơ hay nhất. Bài thơ thể hiện nỗi buồn, nỗi cô
đơn thấm thía của người yêu đời, tràn đầy sức sống nhưng gặp cảnh ngộ éo le,
một con người luôn khao khát tình yêu nhưng chỉ gặp toàn dang dở, bất hạnh. Đó
còn là sự bất hạnh của một mơ ước không thành”
Đây là những lỗi thường xuyên bắt gặp trong bài viết của các em, do sự bất
cẩn, lơ đễnh; do chưa có sự chú ý, tinh tế trong quan sát, nhìn nhận văn bản.
- Dẫn chứng mờ nhạt: Dẫn chứng không đặc sắc, không tiêu biểu sẽ không
làm sáng rõ được vấn đề cần nghị luận. Với những đề bài mà phạm vi dẫn chứng
12
rộng mở, học sinh càng phải tinh trong khâu chọn dẫn chứng, để dẫn chứng không
vụn vặt, làm giảm sự thuyết phục của tất cả những lập luận, lí lẽ đi kèm.
- Dẫn chứng không có tính mới: Dẫn chứng đã quá quen thuộc, đã nhàm,
Hàn đau đớn đến quằn quại: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?. Có chăng còn là lời
thi nhân tự nói với mình, tự mình tưởng tượng ra, để rồi lại tự mình xát muối vào
tất cả những vết thương từ tâm hồn đến thể xác? Rồi:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Có phải không, là hình ảnh Hàn đứng bên rìa cuộc sống mà lặng nhìn, mà
thơ thẩn mà mặc cảm, không dám đến gần?
Quá nhiều câu hỏi, quá nhiều lời dội vào tâm trí thi nhân… Nhưng đến khi
nỗi đau đẩy lùi cả hiện thực, thi sĩ trở lại với nỗi đau khắc khoải không thôi:
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mặc cảm chia lìa, tan tác nhuốm kín cả khổ thơ. Gió mây không còn đi cùng
nhau nữa. Gió – lối gió, mây – đường mây, giống như thôn Vĩ, Huế, Hoàng Cúc và
Hàn Mặc Tử lúc này không còn là một thể. Nỗi đau đậm đặc cả thiên nhiên – dòng
nước buồn thiu hoa bắp lay. Dòng nước buồn hay chính tâm trạng nhà thơ đang
đau đớn, bàng hoàng. Hoa bắp lay vỗ về mà bất lực. Hay hoa bắp cũng không nằm
ngoài quy luật của tình cảm thi nhân? “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”
(Nguyễn Du). Nỗi buồn của Hàn đến cả cây cỏ cũng sầu theo…”.
=> Nhận xét: Ở phần bài làm trên, học sinh phân tích lan man, rời rạc, không bám
vào các tín hiệu nghệ thuật của văn bản, đơn thuần chỉ là diễn xuôi ý thơ, thậm chí
còn suy diễn, phân tích dẫn chứng mà không gắn với vấn đề lí luận.
- Phân tích kiểu diễn xuôi, không thẩm bình: chỉ kể lại dẫn chứng, nêu lại
dẫn chứng, hoặc đưa dẫn chứng ra rồi bỏ đấy, không cho người đọc thấy lí do xuất
14
hiện của dẫn chứng ấy trong bài là gì. Không có sự thẩm bình, dẫn chứng sẽ chỉ
như một sự kể, khiến bài văn không có màu sắc, không giá trị.
VD, cũng ở đề bài (*), một em học sinh khác lại viết:
để biểu hiện nó” (Mô-pát-xăng). Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm
sáng tỏ bằng một số tác phẩm trong chương trình ngữ văn 10.
Bài viết học sinh có đoạn: “Nhắc đến bậc thầy ngôn ngữ thì không thể bỏ
qua Đỗ Phủ. Từ ngữ ông dùng chính xác đến tột cùng của cái đẹp trong nghệ thuật,
đến độ Thẩm Đức Tiềm phải thốt lên: “Người xưa không bỏ phép luyện chữ nhưng
lấy cái hơn về ý, không lấy cái hơn về lời. Cho nên chữ bình dị mà thấy lạ, chữ
thường mà thấy hiếm, chữ cũ mà thấy mới, chữ mộc mạc mà thấy màu sắc”. Ta có
thể lấy ví dụ trong thi phẩm “Thu hứng”, khi ông đang ôm ấp nỗi nhớ về quê
hương:
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm
Hai câu thơ trên được xem là danh cú xét về mặt tiêu biểu cho thi pháp
Đường thi. Ở đây, tác giả đã đồng nhất nhiều sự vật, hiện tượng, giữa tình và cảnh,
hiện tại và quá khứ, sự vật và con người. Chữ “tha nhật” được một số người hiểu là
“ngày sau”, những ngày sắp tới song hầu hết đều cho là chỉ ngày trước, những
ngày đã qua. Trước cảnh thu buồn, hồi ức về những nỗi đau trong quá khứ đã kết tụ
lại, đọng trên những nhành cúc, bưởi vậy dòng lệ với hiện tại cũng chỉ là sự lặp lại,
chồng lên những dòng lệ cũ. Nỗi đau vì thế mà càng thêm tê tái. Từ “cô” (một
mình) được đảo lên đầu câu thơ cho thấy sự bơ vơ! Chữ “hệ” (buộc, nối, bó) không
đơn giản, nó được viết ra từ chính hoàn cảnh thực tế của nhà thơ, phải sống trên
thuyền và chết cũng trên thuyền! Nỗi nhớ quê càng bội phần day dứt, dai dẳng. và
cùng chính nỗi nhớ đó, khát vọng trở về càng được bộc lộ mãnh liệt hơn bao giờ
hết, tình yêu, sự gắn bó với quê hương càng đáng được trân trọng, tôn vinh”.
=>Nhận xét: Hành văn lưu loát, nắm chắc văn bản, tuy nhiên khai thác dẫn chứng
chưa tới, chưa có độ sâu và tinh. Đây là hai câu thơ rất hay của Đỗ Phủ song học
sinh chưa làm rõ được hết cái hay, cái đẹp của những từ ngữ mà Đỗ Phủ sử dụng
như ba từ: “tha nhật”, “cô”, “hệ”. Học sinh chỉ bình chữ “cô” trong một câu (Từ
16
mới lựa chọn được những dẫn chứng tiêu biểu “đích đáng”. Phải có trong đầu hàng
trăm câu thơ thì may ra mới trích trong một bài viết nào đó được vài ba câu phù
hợp, “đúng” và “trúng” với vấn đề đang bàn bạc”.
=> Để sự tích lũy của học sinh trở nên bài bản, phát huy tác dụng khi cần,
các em nên có phương pháp ghi nhớ để khi chạm đến vấn đề cần giải quyết, các em
có thể hình dung ngay những dẫn chứng nào mình có thể lấy ra, khai triển. Giáo
viên nên rèn cho học sinh thói quen sắp xếp sách vở, tài liệu theo bố cụ nhất định
để ngay từ khâu trực quan các em cũng đã hệ thống được kiến thức của mình. Các
em có thể sắp xếp sách vở, những tài liệu ghi chép, tích lũy của mình theo các mục
như: Lí luận văn học, Văn học dân gian, Văn học trung đại, Văn học hiện đại, Văn
học nước ngoài, với mỗi mục lại chia ra các phần nhỏ theo kiến thức giai đoạn, thể
loại, học phần. Khi đó, sự sắp xếp trong não bộ của các em cũng sẽ có hệ thống, có
sự “đánh dấu” vấn đề để lấy dẫn chứng ra một cách chính xác, hợp lí, không bị lộn
xộn, rối rắm, bỏ sót. Theo tôi, với mỗi tác phẩm mà các em tâm đắc, các em nên tự
mình làm thành một tài liệu về tác phẩm ấy theo các vấn đề lí luận cơ bản như:
+ Quan niệm, phong cách tác giả
+ Đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm
+ Nhân vật và tính cách
+ Cốt truyện và kết cấu
+ Ngôn ngữ, hình ảnh
+ Nhạc tính
+ Phương pháp sáng tác…
Khi các em “ghim” được dẫn chứng trên bàn học của mình và trong đầu
mình theo những mục nhất định như thế, sự tích lũy của các em mới thực sự khoa
học và có tính ứng dụng, vận dụng cao.
2.Chuẩn hóa dẫn chứng
18
luyện kĩ năng chọn lọc dẫn chứng để đưa vào bài viết những dẫn chứng phù hợp,
có giá trị. Nếu như tích lũy, chuẩn hóa là là khâu chuẩn bị nguyên vật liệu thì chọn
lọc dẫn chứng là khâu xử lí nguyên vật liệu đầu tiên cho bài viết. Theo tôi, để rèn
kĩ năng chọn lọc dẫn chứng, sao cho sự lựa chọn của học sinh trở nên khoa học,
thông minh, cần rèn luyện cho các em kĩ năng chọn dẫn chứng theo 3 mục tiêu:
Tiêu biểu, tính mới, sở trường.
3.1.Tiêu biểu
Từ vốn dẫn chứng phong phú của mình, học sinh cần biết định lượng dẫn
chứng cho bài viết, biết lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu, xác đáng để phục vụ một
cách tốt nhất cho yêu cầu đề ra. Dẫn chứng tiêu biểu là thường là những ý kiến/
nhận định/ chi tiết/ hình ảnh… đắt giá từ các nhà văn, các tác phẩm văn học, được
nhiều người biết đến, giá trị đã được khẳng định, đề cao. Dẫn chứng tiêu biểu cho
một đề bài nghị luận văn học là những dẫn chứng “đo ni đóng giày” cho vấn đề đặt
ra, mà có lẽ khi vấn đề được đưa ra, ai cũng nghĩ phải lấy những dẫn chứng này
mới làm sáng tỏ được vấn đề.
VD: “Bàn về văn học, Leptonxtoi cho rằng: “Tôi không thể nào phân biệt
được thơ và truyện ngắn”, còn Pauxtopxki lại nói: “Truyện hay đến mức nào đó thì
thành thơ”. Bàn luận về những ý kiến trên bằng những trải nghiệm văn học của
anh/chị”. Với đề bài này, dẫn chứng tiêu biểu sẽ là những truyện ngắn của Thạch
Lam, của Pauxtopxki… bởi tác phẩm của hai nhà văn này nổi tiếng với nghệ thuật
phi cốt truyện, mờ hóa biến cố, sự kiện, chỉ mải miết chảy trôi theo những tình
cảm, tâm trạng của các nhân vật trữ tình, đến cả giọng điệu, ngôn ngữ cũng mượt
mà, êm dịu, đầy nhạc tính giống như những câu thơ.
=> Để chọn được dẫn chứng tiêu biểu, học sinh cần nắm rõ đặc trưng, thành
tựu nổi bật của mỗi nhà văn và tác phẩm của họ. Xác định được dẫn chứng tiêu
20
biểu, học sinh như có trong tay những nguyên liệu vững chắc nhất để xây dựng bài
viết của mình.
Lê Minh Khuê, "Mưa đỏ" của nhà văn Chu Lai, "Tổ Quốc nhìn từ biển" của nhà
thơ Nguyễn Việt Chiến, tập thơ song ngữ Việt-Tày "Vũ khúc Tày" của Y
Phương…), tác phẩm của tác giả đạt giải Nobel văn học (Mạc Ngôn, Alice Ann
Munro, Svetlana Alexievich…).
- Tích cực tìm tòi, phát hiện để tích lũy kiến thức mới cho những dẫn
chứng quen thuộc: Nếu chọn những tác giả, tác phẩm kinh điển làm dẫn chứng mà
các em không nêu được điều gì mới mẻ thì dẫn chứng của các em sẽ hiện lên rất tẻ
nhạt, nhàm chán, để rồi sự phân tích của các em sau đó chỉ như một lối mòn, dẫm
lại bước chân mà nhiều người đã đi trong hành trình khám phá thế giới nghệ thuật
của tác phẩm ấy. Bởi vậy, khi lựa chọn những dẫn chứng quen thuộc, kinh điển,
các em cần nêu lên được những phát hiện thú vị, mới mẻ, làm mới lạ hơn dẫn
chứng ấy đối với người đọc. Tất nhiên, ở tầm của học sinh phổ thông, các em chưa
thể có những kiến giải như các nhà lí luận, phê bình, bởi vậy những phát hiện của
các em thường đến từ công trình nghiên cứu của những nhà phê bình tên tuổi. Điều
quan trọng là các em tự mình chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, vận dụng kiến thức
nghiên cứu đó một cách thông minh, sáng tạo trong xử lí vấn đề văn học mà mình
đang gặp phải. VD, khi đọc được bài viết “Một cách giải mã bài thơ Độc Tiểu
Thanh kí của Nguyễn Du” của tác giả Bùi Minh Ngọc (Theo trang
vanhoanghean.com.vn ngày 17/11/2011), học sinh của tôi đã tích lũy được một vấn
đề rất hay để vận dụng “làm mới” được dẫn chứng “Độc Tiểu Thanh kí” ở phần
phân tích sau này:
“Còn nhớ Hêghen, nhà triết học Đức thế kỉ XIX có nhận xét rằng : trong văn
học hiện tượng định mệnh là hiện tượng bi kịch của người tốt. Với Nguyễn Du,
những bậc kì tài tuyệt sắc luôn luôn phải chịu cái gọi là cổ kim hận sự, phong vận
kì oan mà ông không tìm thấy lời giải đáp hữu hiệu trong triết lí thiên mệnh của
22
Nho giáo, duyên nghiệp quả báo của Phật giáo, tướng số của Đạo giáo triết lí ở
hiền gặp lành trong dân gian... Dường như, nhà thơ của chúng ta đã linh cảm
Tuy nhiên, dẫn chứng mà các em chọn để phân tích trong bài văn nghị luận
sẽ không bao giờ là tất cả, cũng không nên ồ ạt, tràn lan như trên đã nói. Những
dẫn chứng được lựa chọn ngoài việc đáp ứng các yêu cầu đúng, đủ, có tính mới, thì
nên thêm một tiêu chí nữa, đó là dẫn chứng sở trường. Tức là những dẫn chứng mà
các em có sự say mê, đã tìm hiểu về nó một cách sâu sắc, có thể viết về nó hay
nhất, thấu đáo nhất. Bởi vậy, bên cạnh nền tảng kiến thức chung, các em nên chuẩn
bị cho bản thân mình những dẫn chứng “đinh”, những dẫn chứng “mũi nhọn” như
thế, triển khai phân tích dẫn chứng ấy ở tất cả các bình diện lí luận, để khi làm bài,
chạm đến vấn đề lí luận nào các em cũng tự tin lấy dẫn chứng đó ra để hăng say
thể hiện quan điểm của mình.
Trước một đề văn, lựa chọn giữa dẫn chứng tiêu biểu và dẫn chứng sở
trường cũng là một thách thức đối với học sinh. Dẫn chứng tiêu biểu là những dẫn
chứng phù hợp nhất đối với đề bài đó, mà khi đọc đề người ta có thể nghĩ đến
những dẫn chứng này đầu tiên để minh chứng cho vấn đề. Dẫn chứng tiêu biểu này
có khi không trùng khớp với dẫn chứng sở trường. Khi đó, nếu như xác định được
dẫn chứng sở trường của mình hoàn toàn có khả năng làm minh chứng cho yêu cầu
của đề thì học sinh nên chọn dẫn chứng sở trường hơn là dẫn chứng tiêu biểu.
VD: Với đề bài “Có ý kiến cho rằng: Với thơ mới thi ca Việt Nam bước vào
giai đoạn mới, thơ mới đã làm nên một cuộc cách mạng thơ ca, nó đã thay đổi từ
“xác” đến “hồn”. Anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên? Chọn phân tích
một bài thơ mới để làm rõ quan điểm của mình về vấn đề này”, dẫn chứng tiêu
biểu mà chúng ta nghĩ ngay tới sau khi đọc đề bài có thể là “Vội vàng”, “Thơ
duyên”, “Đây mùa thu tới”, “Tràng giang”, “Đây thôn Vĩ Dạ”… Nhưng dẫn chứng
sở trường của học sinh có thể là một thi phẩm thơ mới không nằm trong những thi
phẩm tiêu biểu ấy, như “Những giọt lệ”, “Màu thời gian”, “Thu rừng”… Khi đó
24
các em nên chọn dẫn chứng sở trường để thực hiện bài viết hơn là dẫn chứng tiêu
biểu, các em sẽ thăng hoa hơn với một tác phẩm mà mình thực sự yêu thích, thấu