A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1- Cơ sở lý luận:
Tạo được một văn bản hoàn chỉnh, hấp dẫn là mục đích phấn đấu của
những người dạy văn và học văn. Mục đích này đặc biệt có ý nghĩa với lứa tuổi
học sinh bậc THCS. Qua văn bản người đọc có thể thấy được khả năng, trình độ
học vấn của người viết. Và cũng qua văn bản người viết có điều kiện thể hiện
những kỹ năng, những kiến thức trong quá trình học văn như kiến thức về tiếng
việt, về tác phẩm văn học, về cách tạo lập văn bản Một văn bản được đánh
giá là hoàn chỉnh khi nó truyền tải trọn vẹn một vấn đề và được coi là một văn
bản hay khi nó có sức hấp dẫn người đọc. Để có được sức hấp dẫn này thì phần
mở bài có một vai trò rất quan trọng. Phần mở bài được ví như lời chào đầu tiên
trong một buổi gặp gỡ. Một phần mở bài hấp dẫn sẽ chiếm được tình cảm của
người đọc, sẽ tạo được bầu không khí tâm lý thuận lợi cho việc tiếp xúc các
phần sau.
2- Cơ sở thực tiễn:
- Qua quá trình giảng dạy và theo dõi việc làm bài văn nghị luận của học
sinh lớp 8, 9 từ những năm chưa thay sách giáo khoa, một vấn đề dễ nhận thấy
ở đối tượng học sinh trung bình - yếu là các em rất chật vật, mất nhiều thời gian
vào việc viết phần mở bài. Qua quá tình chấm bài cũng nhận thấy phần mở bài
của đối tượng học sinh này chưa đạt yêu cầu: Hoặc còn thiếu ý, hoặc chưa nêu
được vấn đề; dẫn dắt vấn đề một cách vòng vo, rườm rà, vu vơ không liên quan
đến vấn đề cần giải quyết mà đề bài yêu cầu. Mặc dù đến năm học 2003- 2004
chương trình sách giáo khoa mới đã đưa kiểu bài nghị luận xuống học từ lớp 7,
điều này có nghĩa là học sinh đã được làm quen với kiểu bài này sớm hơn 1
năm so với chương trình sách giáo khoa cũng như đến năm lớp 9 các em mới
bắt đầu làm quen với phần nghị luận văn học. Chính vì vậy khi học phần văn
bản này chúng tôi đã phát phiếu thăm dò tình hình học sinh đối tượng trung
1
bình - yếu về vấn đề: Khi viết bài nghị luận văn học (nghị luận tác phẩm truyện,
tác phẩm thơ) em thấy khó nhất phần nào? Kết quả thu được như sau:
sáng tạo của học sinh lại khơi dậy trong các em một nội lực có giá trị không
kém. Nếu phát huy khai thác được sự chủ động sáng tạo của học sinh sẽ tạo
điều kiện thuận lợi để nội lực cộng hưởng với ngoại lực thì từ đó chất lượng dạy
và học sẽ được nâng cao. Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học
sinh thì một vài bài tập trong sách giáo khoa rõ ràng là chưa đủ.
- Từ nhận thức ấy trong quá trình dạy kiểu bài nghị luận văn học ở lớp 9
chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu làm như thế nào để giúp các em thoát khỏi tình
trạng lúng túng khi bắt đầu viết một bài nghị luận văn học. Nếu giải quyết được
tình trạng này thì các em sẽ vững vàng chủ động hơn khi bước vào những kỳ thi
quan trọng và cả khi học văn ở những năm tiếp theo của chương trình THPT.
Qua quá trình giảng dạy chúng tôi đã nghiên cứu và áp dụng một số dạng bài
tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn mở bài trong bài nghị luận văn học cho học sinh
lớp 9 (đối tượng trung bình - yếu).
II- PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
- Với học sinh nói chung văn bản nghị luận là kiểu văn bản khó. Còn với
đối tượng học sinh diện trung bình - yếu thì kiểu văn bản này càng khó khăn
hơn. Chính vì vậy mà ở đề tài này chúng tôi chỉ dừng ở phạm vi: Rèn luyện kỹ
năng viết đoạn theo chức năng mở bài trong bài nghị luận văn học cho đối
tượng học sinh TB - yếu lớp 9.
- Mục đích của đề tài: Rèn luyện cho học sinh viết đúng, viết nhanh và tiến
tới viết hay phần mở bài, tránh được một số lỗi thường gặp trong quá trình viết
đoạn mở bài;.
III- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Khảo sát (chương trình sách giáo khoa lớp 7, 8 đặc biệt là lớp 9).
- Tham khảo tài liệu, tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá một số vấn đề lý luận
có liên quan.
3
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I- CUNG CẤP LÝ THUYẾT VỀ ĐOẠN MỞ BÀI CHO HỌC SINH.
1- Khái niệm đoạn văn và đoạn văn mở bài:
Có thể rút ra công thức viết đoạn mở bài như sau:
Câu 1 Câu 2 Câu 3
Dẫn dắt vấn đề Nêu tác giả, tác phẩm Nêu vấn đề nghị luận
* Tuy nhiên không phải bất cứ mở bài nào cũng bắt buộc phải đủ cả 3 phần
như đã nêu. Nếu đủ thì ta sẽ có mở bài gián tiếp, còn nếu chỉ có 2 phần sau thì
có mở bài học tiếp.
II- CUNG CẤP HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT ĐOẠN
MỞ BÀI TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC:
Như chúng ta đã trình bày ở trên, khi phải viết bài nghị luận văn học học
sinh lớp 9 (đối tượng trung bình- yếu) cảm thấy rất lúng túng không biết làm thế
nào để đưa được vấn đề nghị luận vào phần mở bài. Chương trình sách giáo
khoa mới dành cho phần nghị luận văn học 10 tiết trên lớp (bao gồm cả học lý
thuyết + viết bài + trả bài) mà thực tế thì chúng tôi nhận thấy rằng đây là một
phần rất quan trọng và cần thiết với học sinh ở lớp cuối cấp. Chính vì vậy mà
chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu và đưa ra một số nội dung bài tập nhằm giúp học
sinh phát triển theo tác tư duy độc lập để có thể dễ dàng hơn khi viết một văn
bản nghị luận văn học.
* Cách thực hiện:
Trên thực tế sách giáo khoa Ngữ văn mới không có tiết rèn luyện kỹ năng
xây dựng đoạn văn theo chức năng. Chính vì vậy trong các tiết học lý thuyết
chúng tôi đã cố gắng xen lồng từng dạng bài tập dựng đoạn mở bài. Mặt khác
trong những tiết trả bài chúng tôi cũng tranh thủ đưa thêm các bài tập chữa lỗi
mà học sinh hay mắc phải để các em rút kinh nghiệm: Chữa lỗi dùng từ, đặt
câu Từ đó hướng các em đến cách mở bài vừa đúng, vừa gây được ấn tượng
với người đọc.
5
Bên cạnh đó chúng ta cũng thấy rằng số lượng tác phẩm thơ, tác phẩm
truyện mà học sinh được học trong chương trình lớp 9 là kháo nhiều nên sau khi
học xong một tác phẩm chúng tôi cũng cố gắng hướng dẫn học sinh rèn luyện
cách giới thiệu về tác phẩm mình vừa học. Giới thiệu về tác giả, về hoàn cảnh
tiêng liêng của anh bộ đội thời chống Pháp.
* Yêu cầu học sinh căn cứ vào cấu tạo của đoạn văn mở bài để thấy được
đoạn 1-3 là đoạn mở bài, đoạn 2 không có vai trò mở bài vì:
- Đoạn 1 là cách mở bài trực tiếp:
Câu 1: Giới thiệu tác giả tác phẩm.
Câu 2: Nêu nhận xét đánh giá về tác phẩm. Đây chính là vấn đề sẽ
được bàn luận ở phần thân bài.
- Đoạn 2 là đoạn văn phân tích 2 câu đầu của bài thơ. Đâu là đoạn văn
thuộc phần thân bài.
- Đoạn 3 là cách mở bài gián tiếp.
Câu 1, 2 dẫn dắt vấn đề: Khái quát cảm hứng sáng tác của tác giả.
Câu 3: Giới thiệu tác phẩm được nghị luận.
Câu 4: Giới thiệu vấn đề sẽ bàn luận ở phần thân bài.
Dạng 2: Bài tập chữa lỗi để hoàn chỉnh đoạn mở bài.
Bài tập 1: Cho đề bài sau:
Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn "Làng"
của Kim Lân. Với đề bài trên có một bạn học sinh đã viết phần mở bài như sau:
"ông Hai đã dành cho ngôi làng của mình một tình cảm thật sâu sắc. Sau cách
mạng tháng Tám, tình yêu làng của ông đã hoà quện trong lòng yêu nước. Đó
là sự chuyển biến mới trong tư tưởng của người nông dân".
Yêu cầu với bài tập 1: Căn cứ vào cấu tạo của đoạn mở bài em hãy nhận
xét cách mở bài nêu trên?
=> Hướng dẫn để học sinh thấy được đây là đoạn mở bài chưa hoàn chỉnh.
Đoạn mở bài này chưa nêu được giới hạn của vấn đề nghị luận đó là tác giả
7
nào? Tác phẩm nào? Đọc đoạn mở bài như vậy người đọc sẽ băn khoăn không
biết được nhân vật ông Hai ở đây là nhân vật trong tác phẩm nào của tác giả nào
vì trong văn học có rất nhiều tác giả trùng tên và nhân vật cũng trùng tên.
Vậy cần bổ sung vào đoạn mở bài trên như sau: "Làng" của Kim Lân là
một tác phẩm tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam thời chống Pháp. Nhân vật
Yêu quê hương bản làng, tự hào và gắn bó với dân tộc mình. Qua bài thơ này
của Y Phương đã cho ta thấy tình cảm cha con da thịt gắn bó sâu sắc. Tình cảm
ấy thật chân thành mộc mạc và xúc động.
-> Qua sự gợi ý dẫn dắt giáo viên giúp học sinh nhận ra một số vấn đề ở
đoạn mở bài này như sau:
- Về nội dung: Đoạn mở bài đã giới thiệu được tác giả, tác phẩm và vấn đề
nghị luận. Như vậy đoạn văn đã đạt yêu cầu về nội dung.
- Về hình thức diễn đạt thì chưa đạt yêu cầu:
+ Đoạn văn đã sử dụng 3 câu liên tiếp sai ngữ pháp. Câu 1 chập cấu trúc;
câu 2 và 3 đều là các câu thiếu chủ ngữ.
+ Sử dụng một số từ ngữ không phù hợp: Từ "của" ở câu 1; Từ "da thịt" ở
câu 3. Chính bởi những lỗi này nên tuy đoạn văn đã đảm bảo nội dung nhưng
chưa thể coi đây là một đoạn mở bài hoàn chỉnh. Cần phải sửa các lỗi đã chỉ ra
bằng cách:
- Câu 1: Bỏ đi từ "là"; thay từ "của" bằng từ "người".
- Câu 2: Bỏ đi từ "Qua"; thêm vào cụm từ "là bài thơ" vào sau chủ ngữ.
- Câu 3: Bỏ đi từ "của"; thay từ "da thịt" bằng từ "ruột thịt".
Và đoạn mở bài ấy được viết lại như sau: Y Phương - nhà thơ người dân
tộc Tày có một hồn thơ mạnh mẽ, chân thật và trong sáng. Bài thơ "Nói với
con" là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ của ông: Yêu quê hương làng bản, tự hào
và gắn bó với dân tộc mình. Qua bài thơ này tác giả đã cho thấy tình cảm cha
con ruột thịt gắn bó sâu sắc. Tình cảm ấy thật chân thành, mộc mạc và xúc
động.
9
(Bài chữa của học sinh)
Những lỗi ở bài tập 3 là những lỗi rất hay gặp nhất là ở đối tượng học sinh
trung bình - yếu. Phần mở bài được coi như là lời chào đầu tiên trong buổi gặp
gỡ vậy mà ngay từ đầu đã mắc lỗi ngữ pháp dẫn đến cách diễn đạt không rành
mạch, rõ ràng. Những phần mở bài như vậy không những không gây được ấn
tượng cho người đọc mà còn có tác động ngược trở lại. Đây quả là một lỗi nguy
(Bài làm của học sinh khá)
Bài tập 2: Hãy quan sát một cách mở bài khác cho đề bài trên.
Chúng ta đã từng biết đến hình ảnh những chiến sĩ lái xe Trường Sơn qua
tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật. Họ là những
chiến sĩ trẻ trung sôi nổi can trường mang trong mình khát vọng thống nhất non
sông. Và một lần nữa chúng ta lại được gặp hình ảnh những con người gan dạ
trẻ trung trên tuyến đường Trường Sơn qua tác phẩm "Những ngôi sao xa xôi"
của Lê Minh Khuê. Đó là ba cô gái nhỏ nhắn xinh xắn trong một tổ trinh sát mặt
đường. Nhân vật chính trong tác phẩm và cũng là người kể chuyện là Phương
Định - một cô gái Hà Nội. Nhân vật đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng đông
đảo bạn đọc.
(Bài làm của học sinh đã chữa)
Chúng tôi cũng nhận thấy rằng dạng bài tập này là khó với đối tượng học
sinh trung bình - yếu. Nhưng với hy vọng là các em sẽ yêu thích môn văn hơn,
sẽ khám phá thêm ở môn văn những điều hay và từ đó sẽ có cách học văn phù
hợp hơn nên chúng tôi cũng mạnh dạn đưa thêm dạng bài tập này. Qua các dạng
bài tập này học sinh không chỉ làm quen và biết thực hành hai kiểu mở bài trực
tiếp và gián tiếp mà còn nhận thấy sự khác nhau cơ bản của hai cách mở bài ấy
trong quá trình dẫn dắt vấn đề. Còn phần giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề
nghị luận là bắt buộc phải có trong phần mở bài của bài nghị luận văn học. Từ
đây các em sẽ có định hướng rõ hơn, đúng hơn và tự tin hơn khi bắt tay vào viết
một bài nghị luận văn học.
11
III- KẾT QUẢ THỰC HIỆN.
Sau một vài năm tiến hành áp dụng cách rèn luyện kỹ năng viết đoạn mở
bài (đặc biệt là cách mở bài gián tiếp) cho học sinh đối tượng trung bình - yếu
bằng những bài tập đã nêu chúng tôi nhận thấy có một sự tiến bộ đáng kể. Từ
chỗ các em còn khó khăn lúng túng mất nhiều thời gian vào việc viết đoạn mở
bài thì nay các em đã viết nhanh hơn, đúng hơn. Đặc biệt còn có một số phần
mở bài hấp dẫn hơn khơi gợi được tình cảm của người đọc như một số bài đã
Được xây dựng theo một cốt truyện dân gian "Chuyện người con gái Nam
Xương" của Nguyễn Dữ có thể coi là một tác phẩm hay nhất trong cuốn
"Truyền kỳ mạn lục". Nhân vật chính của tác phẩm là Vũ Thị Thiết (Vũ Nương)
- một người con gái quê ở Nam Xương đẹp người đẹp nết. Không chỉ có vậy,
khi nhắc đến nhân vật này người đọc không thể quên được nỗi oan khổ vô bờ
mà nàng phải chịu vì người chồng đa nghi thô bạo.
=> Đây là cách mở bài gián tiếp: Dẫn dắt vấn đề kèm theo sự đánh giá của
người viết.
Kết quả kiểm tra bài viết số 6 và 7 lớp 9.
Thời gian
Tỉ lệ
Dưới TB TB Khá Giỏi
Khi chưa chú trọng 42% 47% 11% 2%
Khi đã chú trọng 20% 53% 21% 6%
C- MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Là những người trực tiếp giảng dạy nên kết quả học tập của học sinh là vấn
đề mà chúng tôi rất quan tâm. Chúng tôi luôn cố gắng để tìm ra những phương
pháp dạy cho phù hợp với từng đối tượng học sinh với mong muốn học sinh
ngày càng yêu thích môn Ngữ văn. Để làm được điều này bên cạnh sự nỗ lực
của bản thân chúng tôi rất mong nhận được các thông tin về đổi mới phương
pháp ở từng phân môn đặc biệt là những chuyên đề đổi mới ở từng dạng bài,
từng tiết học cụ thể. Nếu có điều kiện chúng tôi cũng mong muốn được áp dụng
13
và phổ biến cách làm này trong các khối lớp để có thể từng bước nâng cao kết
quả học tập của học sinh.
Về phía sách giáo khoa chúng tôi cũng mong muốn có được sự chỉnh sửa
bổ sung những tiết học rèn luyện kỹ năng nhận diện và dựng đoạn để học sinh
có thời gian luyện tập tốt hơn. Cần tiếp tục điều chỉnh bổ sung chương trình phù
hợp với việc học hai buổi trên ngày để việc dạy và học đạt kết quả tốt hơn.
D- KẾT LUẬN
15
MỤC LỤC
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I- Lý do chọn đề tài.
II- Phạm vi, đối tượng và mục đích đề tài.
III- Phương pháp nghiên cứu.
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I- Cung cấp lý thuyết về đoạn mở bài cho học sinh.
II- Cung cấp các dạng bài tập rèn luyện
III- Kết quả thực hiện.
C- MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
D- KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
16