CHUYÊN ĐỀ
RÈN KĨ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG
TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO
HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………….........
I. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………..
II. Mục đích của đề tài…………………………………………………………..
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………......
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN…………………………..
1. Cơ sở lí luận ………………………………………………………………..
1.1. Văn nghị luận………………………………………………………………
1.2. Nghị luận văn học………………………………………………………….
1.3. Các thao tác làm văn nghị luận……………………………………………
1.4. Dẫn chứng trong văn nghị luận……………………………………………
2. Cơ sở thực tiễn……………………………………………............................
2.1. Người dạy………………………………………………………..................
2.2. Người học………………………………………………………..................
CHƯƠNG II: MỘT SỐ KĨ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG
1. Kĩ năng chọn dẫn chứng. ……………………………………………………
1.1. Lựa chọn dẫn chứng phù hợp với vấn đề nghị luận………………………...
1.2. Lựa chọn dẫn chứng dựa theo phạm vi, yêu cầu của đề…………………..
1.3.Lựa chọn ngữ liệu dựa theo hiểu biết, sở trường của người viết…………….
1.4. Lựa chọn dẫn chứng mới mẻ phát huy tính sáng tạo……………………..
2. Kĩ năng phân tích dẫn chứng ……………………………………………….
Trang
1
1
2
CHƯƠNG III: VÂN DỤNG KIẾN THỨC……………………………………
25
39
40
PHẦN KẾT LUẬN...............................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................
CHUYÊN ĐỀ
RÈN KĨ NĂNG CHỌN VÀ PHÂN TÍCH DẪN CHỨNG TRONG BÀI
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC DÀNH CHO HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1. Văn nghị luận là loại văn được viết nhằm xác lập cho người đọc, người nghe
một tư tưởng, quan điểm nào đó. Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị
luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề đặt trong cuộc sống mới có ý nghĩa.
Muốn thuyết phục người đọc, người nghe hiểu, tin và đồng tình với quan điểm,
tư tưởng được nêu, một bài nghị luận không chỉ cần có hệ thống luận điểm rõ ràng,
lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén mà còn phải có những dẫn chứng xác đáng, hùng hồn.
Vì vậy, việc chọn và phân tích dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận có một vai
trò quan trọng trong bài văn nghị luận.
2. Để nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi văn cần
có sự kết hợp đồng bộ của nhiều giải pháp. Vể phía người dạy, cần xác định việc
cung cấp kiến thức văn học và rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh đều có vai trò
quan trọng và có tác động qua lại với nhau. Từ những kiến thức mà học sinh tiếp
nhận qua quá trình học tập, nghiên cứu đến một bài nghị luận văn học hoàn chỉnh,
chất lượng đòi hỏi học sinh cần có kĩ năng làm bài. Vì vậy, việc rèn kĩ năng làm văn
cho học sinh là một công việc quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn cao.
nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi Văn
2. Vận dụng lí thuyết, hình thành và định hướng hệ thống đề luyện tập, thực
hành viết, sửa lỗi phần chọn và phân tích dẫn chứng trong đề văn đáp ứng yêu cầu
thi học sinh giỏi các cấp.
2
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
1.1. Văn nghị luận
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghị luận: Bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề
nào đó. Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ và dẫn chứng để phân tích giải quyết
một vấn đề”.
Sách giáo khoa Ngữ văn 10 – tập 2 (nâng cao) tr96 cũng viết: Văn nghị luận là
bài văn trình bày tư tưởng, quan điểm của người viết về một vấn đề.
Đặc trưng của văn nghị luận đó là người viết sử dụng các luận điểm, luận cứ và
lập luận để thể hiện quan điểm, chính kiến của bản thân, đồng thời thuyết phục
người đọc, người nghe đồng tình với quan điểm của mình.
Như vậy, có thể hiểu: Văn nghị luận là một loại văn bản nhằm phát biểu tư
tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về các vấn đề
văn học, chính trị, đạo đức, lối sống... và được trình bày bằng những lập luận chặt
chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục. Đây là loại văn phổ biến trong nhà trường,
thường được lấy làm yêu cầu của phần làm văn trong các đề thi hiện nay. Vì văn
nghị luận thể hiện năng lực tư duy, lo-gic của người viết; vừa cho thấy khả năng
diễn đạt, trình bày quan điểm riêng một cách thuyết phục. Nội dung và cấu trúc của
một văn bản nghị luận được hình thành từ các yếu tố cơ bản là: Vấn đề cần nghị
luận (luận đề), luận điểm, luận cứ (dẫn chứng, lí lẽ) và lập luận.
+ Phân tích để làm rõ đối tượng
+ Phân tích để chứng minh
1.4. Dẫn chứng trong văn nghị luận
a. Khái niệm
Dẫn chứng là “Đưa tài liệu, sự kiện ra làm bằng cớ” (Từ điển Tiếng Việt).
Trong nghị luận văn học, dẫn chứng là những tác giả, tác phẩm, hiện tượng văn học
cụ thể được đưa ra nhằm làm sáng tỏ vấn đề, giúp bài nghị luận có sức thuyết phục hơn.
b. Yêu cầu của dẫn chứng
Dẫn chứng có vai trò quan trọng. Tuy nhiên khi đưa dẫn chứng vào bài văn
nghị luận, học sinh cần lưu ý những vấn đề sau:
Thứ nhất: Dẫn chứng phải chính xác
4
Nếu không đảm bảo được yếu tố chính xác, dẫn chứng sẽ không làm sáng rõ
được luận điểm. Đối với dẫn chứng là thơ, người viết cần trích dẫn đúng nguyên
văn. Đối với văn xuôi thì tóm lược ý nhưng cần đảm bảo tính chính xác về nội dung,
tác giả, tác phẩm. Có không ít trường hợp trích dẫn sai dẫn chứng, chẳng hạn như
trường hợp trích dẫn ngữ liệu từ bài thơ “Tây Tiến” của tác giả Quang Dũng: Trôi
dòng nước lũ hoa đung đưa (Đúng phải là Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa); hoặc
trích dẫn thiếu chi tiết quan trọng dẫn tới hiểu sai vấn đề như trong “Hai đứa trẻ”
của nhà văn Thạch Lam. Lý do An và Liên cố thức để đợi tàu là vì An và Liên đã
buồn ngủ ríu cả mắt nhưng vẫn gượng thức đến khi tàu xuống để bán hàng theo lời
mẹ dặn ( Đúng phải là Liên không trông mong còn ai đến mua nữa và em cố thức là
vì cớ khác, vì muốn được nhìn thấy chuyến tàu đó là sự hoạt động cuối cùng của
đêm khuya)
Những sai sót này ảnh hưởng không nhỏ đến tính thuyết phục của bài văn nghị
luận. Do đó, lấy dẫn chứng trong văn nghị luận phải đảm bảo sự chính xác
Thứ hai: Dẫn chứng phải cần và đủ
Trước hết, người viết cần xác định dẫn chứng bắt buộc cần phải có căn cứ vào
…. hoặc ngược lại). Tính hệ thống sẽ giúp cho người viết tránh được tình trạng đưa
dẫn chứng một cách tràn lan và mất kiểm soát.
Thứ năm: dẫn chứng phải được phân tích.
Khi đưa dẫn chứng vào bài, cần kết hợp với việc phân tích, đánh giá dẫn
chứng. Thao tác này sẽ khiến cho dẫn chứng phát huy hết vai trò, hiệu quả. Nếu
không phân tích, đánh giá, bài văn sẽ trở nên hời hợt, sáo rỗng, không sâu sắc và
không đủ sức thuyết phục người đọc. Để làm được điều này, người viết cần hiểu
đúng, đánh giá đúng và cảm thụ đúng về giá trị của dẫn chứng. Khi phân tích, chỉ
lựa chọn nội dung phù hợp, có tác dụng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận chứ không
phân tích tỉ mỉ, chi tiết toàn bộ dẫn chứng ở tất cả các phương diện.
c. Phân loại dẫn chứng
Dẫn chứng có vai trò quan trọng trong văn nghị luận. Trong bài văn nghị luận
có hai loại dẫn chứng là dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng.
Dẫn chứng bắt buộc là dẫn chứng nằm trong phạm vi giới hạn yêu cầu của đề.
Còn dẫn chứng mở rộng là loại dẫn chứng nằm ngoài phạm vi trên do người viết
đưa ra để liên hệ, đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ thêm vấn đề nghị luận.
6
Ví dụ 1: Có ý kiến cho rằng: cảm xúc trong thơ trữ tình vừa tươi mới vừa đầy
tính chiêm nghiệm.
Anh, chị hãy bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ ý kiến đó qua bài thơ Vội
vàng của Xuân Diệu.
Ở đề này, bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu là dẫn chứng bắt buộc mà người
viết phải trích dẫn, phân tích.
Nhưng trong quá trình viết bài, người viết có thể so sánh với các bài thơ khác
của Xuân Diệu, của nhiều nhà thơ cùng thời khác để làm nổi bật sự tươi mới và tính
chiêm nghiệm trong cảm xúc của Xuân Diệu trong Vội vàng. Tất cả những tác phẩm
trích dẫn ngoài bài thơ Vội vàng đều là những dẫn chứng mở rộng.
nhận định trên.
Để làm sáng tỏ vấn đề trong đề bài trên thì người viết phải tự mình xác định và
lựa chọn dẫn chứng cho phù hợp, tiêu biểu. Học sinh có thể triển khai trên nhiều
trục giao thoa như phương pháp sáng tác, thể loại, tư tưởng ...trên những tác giả tiêu
biểu trong chương trình là Tú Xương (trào phúng – trữ tình); Thạch Lam, Quang
Dũng (hiện thực – lãng mạn); Xuân Diệu (truyện – thơ); Thanh Thảo (tượng trưng –
siêu thực)...Học sinh có thể dùng dẫn chứng ngoài chương trình, văn học nước
ngoài...miễn sao phân tích được giá trị của sự giao thoa ấy tạo nên cái hay, cái đẹp
cho tác phẩm.
Ở kiểu đề này, không yêu cầu quá nặng về kiến thức lí luận mà đánh giá cao
sự thông minh và sắc sảo của học sinh trong việc lựa chọn và phân tích dẫn chứng.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Người dạy
Trong quá trình dạy học môn Ngữ văn, không ít giáo viên chỉ chú trọng vào
việc hướng dẫn học sinh khám phá, cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học
ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật mà coi nhẹ việc dạy kĩ năng làm văn.
Như vậy, những giáo viên này đã không quan tâm tới một cái đích quan trọng khác
của việc học văn là dạy kĩ năng diễn đạt, lập luận và tạo lập văn bản, năng lực vận
dụng kiến thức giải quyết vấn đề cụ thể.
Sở dĩ, giáo viên ngại dạy kĩ năng làm văn vì đây là một công việc khó, đòi hỏi
người dạy phải kiên trì, đầu tư nhiều thời gian, công sức. Giờ dạy kĩ năng viết
không có những giây phút thăng hoa trong cảm xúc văn chương, khô khan nên khó
tạo hứng thú cho học sinh.
8
2.2. Người học
Đa số học sinh không có nhiều hứng thú trong giờ học viết vì khô khan, thực
hành nhiều, khổ công luyện rèn, thay đổi kết quả không tức thì. Lười viết, ngại chữa
bài là tâm lí chung của các em. Chính vì thế, nhiều em thích học văn, kiến thức văn
đánh giá về một hay vài mảng nội dung liên quan đến vấn đề lí luận văn học như:
Đặc trưng; chức năng văn học, thể loại (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch); phong
cách nghệ thuật; nhà văn và quá trình sáng tác; tiếp nhận văn học … Học sinh phải
xác định chính xác vấn đề nghị luận, phạm vi giới hạn kiến thức để lựa chọn, phân
tích dẫn chứng nhằmm làm sáng tỏ vấn đề.
Ví dụ: một số đề thi Học sinh giỏi Quốc gia những năm gần đây
1. Mỗi hình tượng nhân vật phụ nữ thực sự thành công bao giờ cũng là kết quả
của sự phát hiện sâu sắc về nữ tính. Bằng việc phân tích một số nhân vật phụ nữ
tiêu biểu trong các tác phẩm đã học từ văn học dân gian đến văn học hiện đại,
anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên. (Năm 2011)
2. Văn học chân chính ngay cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng chỉ nhằm thể
hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện. Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên (Năm 2014)
3. Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự
sống bằng tâm trí của người đọc. Bằng tri thức và trải nghiệm văn học của mình,
bạn hãy bình luận ý kiến trên (Năm 2015)
4. Marcel Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà
mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Tô
Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Bằng trải
nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận những nhận định trên. (Năm
2016)
Yêu cầu đặt ra với phần giải thích của dạng đề này là học sinh phải khám phá
những từ ngữ quan trọng trong nhận định, để từ đó nhận ra vấn đề cần nghị luận.
10
- Với đề thi năm 2011:
Học sinh cần nhận thức về đề như sau: Nhận định nêu trong đề bài nhấn mạnh
việc phát hiện phương diện nữ tính của người phụ nữ trong quá trình sáng tạo là
nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành công của hình tượng nhân vật phụ nữ trong
tác phẩm. Đồng thời thấy được, nhận định cũng gián tiếp đề cập đến một yêu cầu
đọc” tầm quan trọng và giá trị biểu hiện của hình tượng nhân vật trong tác phẩm. Đó
cũng là cơ sở để đánh giá tư tưởng nhà văn và giá trị của toàn bộ tác phẩm.
Ở đề này, người viết có thể chọn các hình tượng Từ Hải (Truyện Kiều), Huấn
Cao (Chữ người tử tù), Mị (Vợ chồng A Phủ)…Trương Ba (Hồn Trương Ba, da hàng thịt)
- Đề thi năm 2016:
Có hai ý kiến khác nhau nhưng cùng bàn về sự sáng tạo của người nghệ sĩ vừa
mang dấu ấn cá nhân độc đáo, lại vừa in dấu ấn của thời đại. Đó là quy luật của sáng
tạo nghệ thuật.
Các dẫn chứng có thể lựa chọn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Số đỏ (Vũ Trọng
Phụng), Tây Tiến (Quang Dũng), Vợ nhặt (Kim Lân), Đất nước (Nguyễn Đình Thi),
Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)…
Phần giải thích trong nghị luận văn học đòi hỏi người viết phải nắm vững
những kiến thức lí luận văn học, bởi nó là nền tảng cho mọi sự giải thích, cắt nghĩa,
lí giải. Tất cả các nhận định được đưa ra bàn bạc trong đề thi đều hướng đến một
vấn đề nào đó của lí luận văn học. Để xác định đúng vấn đề nghị luận, thông thường
người viết cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: Giải thích khái niệm, từ khóa, các vế câu (nếu có) trong nhận định.
Bước 2: Khái quát nội dung nhận định, rút ra vấn đề cần bàn luận
Bước 3: Vận dụng cơ sở lí luận để lí giải vấn đề.
Trên cơ sở đó, lựa chọn dẫn chứng phù hợp, tiêu biểu và phân tích dẫn chứng
để làm sáng tỏ vấn đề.
1.2. Lựa chọn dẫn chứng dựa theo phạm vi, yêu cầu của đề
Mỗi đề thi sẽ có một yêu cầu về phạm vi tư liệu riêng. Có đề thi có phạm vi
hẹp: về một tác phẩm, tác giả cụ thể. Có đề thi rộng hơn, yêu cầu dẫn chứng trong
chương trình Ngữ văn THPT. Kiểu đề thi có giới hạn phạm vi rộng nhất là bằng trải
nghiệm văn học của bản thân hoặc không có giới hạn… Người viết cần đọc kĩ và
tuân thủ những yêu cầu này.
12
Cao), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)…
Ví dụ 4: “Thơ ca là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tinh thần, do
đó không đơn giản mà cũng không thần bí, thiêng liêng…Thơ ca chân chính phải là
13
nguồn thức ăn tinh thần, nuôi tâm hồn phát triển, nó không được là thứ thuốc phiện
tinh thần êm ái mà nhỏ nhen, độc hại…” (Phương Lựu)
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua một số bài thơ
trong phong trào Thơ Mới.
Học sinh tự lựa chọn một số bài Thơ Mới (trong hoặc ngoài chương trình) để
chứng minh song yêu cầu tác phẩm phải tiêu biểu, phù hợp vấn đề lý luận và biết
thông qua tác phẩm để làm sáng tỏ vấn đề lý luận.
Ví dụ 5: Người vẫn còn mang vết thương đã toan đi chữa vết thương cho
người khác. Tôi nghĩ nghề viết và người viết cũng đơn giản vậy, chữa lành, an ủi
những vết thương của người đời để làm dịu vết thương của chính mình. (Nguyễn
Ngọc Tư)
Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.
Học sinh có thể lựa chọn một số những tác phẩm tiêu biểu, phù hợp với năng
lực, sở thích của bản thân để làm dẫn chứng. Gợi ý: Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du,
Đời thừa của Nam Cao, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử…
1.3 Lựa chọn ngữ liệu dựa theo hiểu biết, sở trường của bản thân người viết
Sau khi đã liệt kê tất cả các ngữ liệu đảm bảo các yêu cầu về kiến thức LLVH,
hạn định của đề, học sinh lựa chọn những ngữ liệu dựa theo năng lực văn chương
của bản thân. Lựa chọn các tác phẩm, các tác giả, vấn đề mà mình hiểu biết nhất,
tâm đắc nhất, mới mẻ nhất. Điều đó giúp học sinh thể hiện hết hiểu biết, khả năng
cảm thụ và tạo được sự sáng tạo nhất.
1.4 Lựa chọn dẫn chứng mới mẻ phát huy tính sáng tạo.
Với những đề mở, để “đất” cho học sinh chọn dẫn chứng, các em có thể chọn
của Tú Xương là một minh chứng khá đầy đủ cho điều này.
2.2. Phân tích dẫn chứng
2.2.1. Phân tích theo diện
Phân tích theo diện là cách phân tích bao quát các tác phẩm, vấn đề văn học
tiêu biểu nhất có thể làm sáng tỏ cho vấn đề, nhắc lướt qua theo kiểu liệt kê, hoặc
mỗi dẫn chứng viết phân tích 1 đến 2 câu văn.
Ví dụ 1: Với Đề HSG Quốc gia năm 2019,
Đoạn phân tích diện, có thể viết:
Với sự phát triển của khoa học công nghệ, trong tương lai không xa, có thể một
cỗ máy hay người máy, robot sẽ thay thế nhà văn viết một tác phẩm văn chương
hoàn chỉnh. Nhưng robot có thể miêu tả phong cảnh thiên nhiên, nhưng chỉ có ngòi
bút của nhà văn mới lột tả được cảnh mang niềm vui hay cảnh đeo sầu. Và cũng chỉ
ngòi bút nhà văn mới ghi lại được thế giới cảm xúc lúc mãnh liệt tuôn trào, lúc dịu
16
dàng, đằm thắm, lúc mơ hồ mong manh, lúc day dứt khôn nguôi…của con người.
Cỗ máy có thể chứng kiến, miêu tả cảnh Thúy Kiều trao duyên cho Thúy Vân nhưng
chỉ có Nguyễn Du mới ghi lại đến tận cùng sự đau khổ đến chết đi sống lại của nàng
Duyên này thì giữ, vật này của chung…Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây. Hay
như robot thì có thể miêu tả cảnh Huấn Cao cho chữ quản ngục trong trại giam tỉnh
Sơn nhưng chỉ có nhà văn Nguyễn Tuân mới diễn tả được sự tỏa sáng của thiên
lương; sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao cả trong chốn tù ngục ấy…
Ví dụ 2: Nhà phê bình Nga Bêlinxki viết: "Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó
miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca
tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó."
Bằng sự hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên.
Đoạn phân tích diện, có thể viết:
Các nhà văn, nhà thơ nhờ sự soi sáng của lí tưởng Đảng, nhờ giác ngộ cách
mạng đã giải quyết những câu hỏi về con người, cuộc đời trực tiếp hơn. Nhà văn
Đoạn phân tích diện, có thể viết:
Sống trong giai đoạn lịch sử đầy biến động của thế kỉ XVII, Nguyễn Du đã
nếm trải cơn dâu bể cuộc đời. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình đại quý tộc
nhưng sớm mồ côi cha mẹ. Cơn lốc lịch sử đã hất đổ hết lầu son gác tía, đẩy
Nguyễn Du vào cuộc sống lay lắt, tha hương, tận cùng khổ cực của dân đen. Con
người đã từng khao khát một sự nghiệp vẫy vùng cho phỉ chí ấy rút cục phải chấp
nhận cuộc đời triền miên buồn chán, không có lấy một hoạt động say sưa và nhất
quán vì lí tưởng nào cả. Tố Như đã sống như một người dân thường giữa thế gian,
nhìn đời bằng con mắt của người đứng giữa dông tố cuộc đời. Từ chính những điều
trông thấy mà đau đớn lòng, nhà thơ đã cầm bút viết lên những vần thơ huyết lệ,
thấm quyện nỗi đau của Người, và của mình; khóc cho người và cho mình. Chính
điều đó khiến các tác phẩm của ông hàm chứa chiều sâu chưa từng có trong thơ văn
dân tộc. Hiện thực bể dâu cuộc đời được phản chiếu chân thực, cụ thể qua từng phận
người nhỏ nhoi mà nỗi đau đớn, oan khuất đã lay động đến tận trời xanh. Đó là
những hài nhi Lỗi giờ sinh lìa mẹ, lìa cha; những người buôn thúng bán bưng Đòn
gánh tre chín rạn hai vai; những người đàn bà màn lan trướng huệ Gặp cơn thay đổi
sơn hà/ mảnh thân chiếc lá biết là về đâu (Văn tế thập loại chúng sinh); những
khách má hồng truân chuyên như Thúy Kiều (Đoạn trường tân thanh); người ca nữ
18
đất Long Thành (Long Thành cầm giả ca) hay nàng Tiểu Thanh trong bài thơ Độc
Tiểu Thanh kí.
Ví dụ 5: Với đề văn: Có ý kiến cho rằng: cảm xúc trong thơ trữ tình vừa tươi
mới vừa đầy tính chiêm nghiệm.
Anh, chị hãy bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ ý kiến đó qua bài thơ Vội
vàng của Xuân Diệu.
Đoạn phân tích diện, có thể viết:
Thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu vẫn được khám phá, cảm nhận theo một cách
Bên cạnh việc hiểu, đồng cảm với những gì bình thường nhất, thậm chí hèn yếu
nhất của con người, Bảo Ninh nhờ máu trong tim đã hiểu được giá trị tình yêu – thứ
mà không cuộc dâu bể nào có thể nhấn chìm. Dù không nhiều, dù bị nỗi sợ, nỗi lo
của chiến tranh lấn át, sức mạnh tình yêu vẫn len lỏi đâu đó, nở thành đóa hoa
xương rồng giữa sa mạc nhuốm máu. Từ Hạnh, người đã cho Kiên những rối loạn
cảm xúc đầu đời; đến Hòa, người giao liên hi sinh trên chiến trường để đồng đội
được sống sót; rồi Hiền, người chiến binh tàn tật sống vội vã với Kiên một đêm dư
âm cuối cùng, dư âm muộn màng của những ngày giã từ cuộc chiến; đến người đàn
bà câm là hầm trú ẩn của Kiên trong giây phút hoang mang, cô độc nhất của tâm
hồn thời hậu chiến. Và sau cùng là Phương, người đàn bà hữu hình hay vô hình đã
lôi Kiên khỏi bàn tay thần chết và trói anh mãi mãi với tình yêu. Những người phụ
nữ đó đã không nắm vận mệnh một ai, họ là vận mệnh, họ là định mệnh.
Ví dụ 2: Với đề văn: Có ý kiến cho rằng: cảm xúc trong thơ trữ tình vừa tươi
mới vừa đầy tính chiêm nghiệm.
Anh, chị hãy bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ ý kiến đó qua bài thơ Vội
vàng của Xuân Diệu.
Khu vườn xuân trong Vội vàng quả thực đã được nhìn bằng cảm xúc tươi mới.
Vì vậy, cái thiên đường ấy lên hương, lên nhạc, lên sắc và lên cả tình nữa. Toàn bộ
cảnh vật như một bàn tiệc của tạo hóa, tươi mới, hấp dẫn và quyến rũ như một người
tình khêu gợi, đắm say. Và thi sĩ của chúng ta cũng hưởng thụ thiên nhiên như
hưởng thụ ái tình, yêu thiên nhiên hay thực chất là tình tự với thiên nhiên (Nguyễn
Đăng Mạnh). Có lẽ trước Xuân Diệu và trong thơ Việt Nam sau này, người yêu thơ
chưa bao giờ được biết đến cảm giác Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Nhưng câu thơ đã khiến mỗi người đọc dâng trào cảm xúc của tình yêu lứa đôi. Tình
yêu với những cảm xúc ái ân, tình tự mà có lẽ trong những năm 30 của thế kỉ XX
20
nhiều độc giả còn đỏ mặt, e thẹn nhưng trái tim lại rạo rực đập những nhịp gấp gáp
đến cuồng say, si mê. Là con người với đúng nghĩa nhân bản nhất làm sao chống lại
này, chính Nguyễn Du cũng quặn đau, nát vai chín thịt như người gánh. Hai chữ đắc
địa như Xuân Diệu từng nói:“có thể làm gãy lưng các nhà nghiên cứu”. Nó oằn
nặng cái nhọc nhằn của kiếp mưu sinh bao nhiêu thì nặng sâu bấy nhiêu tấm lòng
của nhà thơ. Hai chữ hòa trộn mồ hôi và nước mắt của người viết và người được viết.
Nghĩ về những con người bình thường, bất hạnh, nhà thơ đã dành tấc lòng ưu
ái nhất cho người phụ nữ, đặc biệt là những kẻ “Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán
hoa”. Định kiến xã hội xưa luôn ném cái nhìn khinh miệt đối với chuyện tà dâm, trút
hết tội lỗi vào thân phận người phụ nữ lỡ làng. Trong Văn chiêu hồn, Nguyễn Du đã
viết những dòng thơ rung cảm nhất về kiếp người này. Nhìn họ đang thời xuân sắc,
nhà thơ giật mình nghĩ đến ngày mai, thời gian nghiệt ngã sẽ cuốn xô họ vào những
bãi bờ cô độc, hẩm hiu:
“Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá, biết là cậy ai”
Cảm thương người kỹ nữ đến dường ấy, trước và cùng thời Nguyễn Du có
được bao người? Thế rồi, từ những mảnh đời riêng lẻ, nhà thơ nhìn ra nỗi đau chung
của phận đàn bà: “Đau đớn thay, phận đàn bà? Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu?”
Lời thơ trĩu nặng nhân tình như còn ám ảnh đến hôm nay, khi đâu đó vẫn còn phân
biệt đối xử với người phụ nữ. Chính tinh thần nhân văn đã đưa tư tưởng Nguyễn Du
băng qua nhiều thế kỷ. Lời thơ ông cất lên tiếng kêu khẩn thiết: hãy thấu hiểu và
quan tâm đến những thiệt thòi, bất hạnh của người phụ nữ. Họ vẫn mãi là những
người đáng thương trong những kiếp người bình thường, bất hạnh.
Không dừng ở hồi chuông giải oan cho người phụ nữ, ông còn gióng thêm hồi
chuông cứu vớt linh hồn những hài nhi xấu số:
“Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh, lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế vào ra,
U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng”.
Quan tâm tới đối tượng này, Nguyễn Du càng khẳng định thêm tinh thần nhân
văn của mình. Trong tâm thức con người thời phong kiến, chưa bao giờ hài nhi được
người phụ nữ lam lũ, tảo tần, lặng thầm nuôi cái cùng con, làm nên hồn sắc dân tộc
đậm đà cho ca dao. Trong đó có “máu và mồ hôi, nước mắt và nụ cười”. Vị đậm đà
của ca dao, ấy là chất đời được chưng cất qua thời gian. Nó trở thành món ăn tinh
thần quý giá, là phương thuốc hữu hiệu chia sẻ, an ủi, chữa lành vết thương trong
tâm hồn những kẻ khổ đau; khích lệ động viên họ đứng lên. Chính điều ấy đã làm
nên sức sống mãnh liệt của ca dao, để nó vượt qua thời gian những mấy ngàn năm
lịch sử; trở thành di sản văn hóa quý giá và tự hào của dân tộc Việt Nam.
24