ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________
VŨ THỊ HƢƠNG
NGHIÊN CỨU SO SÁNH SƯU THẦN KÝ (TRUNG QUỐC)
VỚI MỘT SỐ TRUYỆN CHÍ QUÁI VIỆT NAM
TỪ GÓC ĐỘ ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
VÀ NGÔN NGỮ HÁN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________________
VŨ THỊ HƢƠNG
NGHIÊN CỨU SO SÁNH SƯU THẦN KÝ (TRUNG QUỐC)
VỚI MỘT SỐ TRUYỆN CHÍ QUÁI VIỆT NAM
TỪ GÓC ĐỘ ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
VÀ NGÔN NGỮ HÁN VĂN
Chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số: 62 22 01 04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN HỮU SƠN - PGS.TS. NGUYỄN THỊ OANH
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
Khoa Văn học, Bộ môn Hán Nôm, quý thầy cô, Viện Ngôn ngữ học cùng các đồng
nghiệp tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi nghiên cứu và hoàn
thành luận án.
Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi có thêm động
lực hoàn thành luận án này. Xin trân trọng cảm ơn tất cả!
Hà Nội, ngày 5 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận án
Vũ Thị Hƣơng
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GS
Giáo sư
LNCQ
Lĩnh Nam chích quái lục
NXB
Nhà xuất bản
PGS
Phó Giáo sư
1.1. Cơ sở lý thuyết của đề tài ............................................................................ 6
1.1.1. Lý thuyết về thể loại văn học................................................................... 6
1.1.2. Lý thuyết về văn học so sánh................................................................... 7
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Sưu thần ký .......................................... 10
1.2.1. Nghiên cứu Sưu thần ký ở Trung Quốc ................................................. 10
1.1.2. Nghiên cứu Sưu thần ký ở Việt Nam...................................................... 15
1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái ... 17
1.3.1. Thể loại văn học ................................................................................... 18
1.3.2. Văn học dân gian là nền tảng cho sự hình thành của Việt điện u linh và
Lĩnh Nam chích quái ..................................................................................... 21
1.3.3. Ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đối với Việt điện u linh và Lĩnh
Nam chích quái ............................................................................................. 24
1.3.4. Đặc điểm ngôn ngữ Hán văn ................................................................ 28
1.4. Hƣớng tiếp cận của luận án ...................................................................... 29
Tiểu kết Chƣơng 1 ........................................................................................... 31
Chƣơng 2. THỂ LOẠI CHÍ QUÁI TRONG VĂN HỌC TRUNG QUỐCVÀ
VĂN HỌC VIỆT NAM ........................................................................................ 33
2.1. Quan niệm về tiểu thuyết chí quái ở Trung Quốc và truyện chí quái ở
Việt Nam .......................................................................................................... 33
2.2. Chí quái ở Trung Quốc .............................................................................. 36
2.2.1. Tình hình văn hoá xã hội thời Nguỵ - Tấn ............................................. 36
2.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết chí quái .................. 38
2.2.3. Khái niệm tiểu thuyết chí quái .............................................................. 41
2.2.4. Về tác giả, tác phẩm Sưu thần ký .......................................................... 43
2.3. Chí quái ở Việt Nam ................................................................................. 55
2.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của chí quái Việt Nam ....................... 55
2.3.2. Hoàn cảnh ra đời của Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái ............ 56
2.3.3. Về tác giả, tác phẩm Việt điện u linh..................................................... 58
4.2.1. Một vài nét về văn ngôn và bạch thoại ................................................ 119
4.2.2. Nguyên nhân Sưu thần ký dùng bạch thoại thời kỳ đầu ...................... 121
4.2.3. Nguyên nhân Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái dùng bạch thoại
thời kỳ đầu.................................................................................................... 122
4.2.4. Ngữ pháp bạch thoại thời kỳ đầu trong các tác phẩm chí quái .......... 123
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 140
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌCCỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN........................................................................................................... 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 144
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 159
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong di sản Hán Nôm Việt Nam hiện nay có khá nhiều văn bản văn xuôi
chữ Hán được gọi là truyện chí quái, truyền kỳ. Những tác phẩm này được sáng tạo
theo những khuôn mẫu chung trong văn học các nước vùng Đông Á. Giống như
nhiều loại hình tác phẩm văn học trung đại khác, chí quái, truyền kỳ Việt Nam cũng
nằm trong quy luật chung về sự phát sinh, phát triển, truyền bá, tiếp nhận, bản địa
hoá nhiều thành tựu văn học có nguồn gốc Trung Quốc.
Lịch sử của nền văn học vùng Đông Á gồm các nước như: Triều Tiên, Nhật
Bản và Việt Nam có nét giống nhau về con đường hình thành, phát triển các thể loại
văn học, đó là sự tiếp nhận truyền thống văn hoá Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hình
thành của thể loại văn học Hán văn trong các nền văn học thuộc vùng văn hoá Đông
Á diễn ra ở trong mỗi nước lại có những nét riêng mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Việc nghiên cứu so sánh ảnh hưởng văn học Trung - Việt cho chúng ta thấy rõ bức
tranh giao lưu văn hoá giữa hai nước, từ đó có thể thấy được cách các nhà văn Việt
Nam tiếp thu, cách tân và sáng tạo các thể loại văn học có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Trong quá trình lựa chọn đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm,
chúng tôi thấy cần thiết phải có những công trình nghiên cứu những tác phẩm mang
ký (Trung Quốc) với một số truyện chí quái Việt Nam từ góc độ đặc trưng thể loại
và ngôn ngữ Hán văn làm đề tài luận án của mình.
2. Mục tiêu khoa học
Luận án hướng đến nghiên cứu so sánh về đặc trưng thể loại và đặc trưng
ngôn ngữ Hán văn của thể loại chí quái, cụ thể giới hạn của đề tài là so sánh Sưu
thần ký của Trung Quốc với hai tác phẩm Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích
quái lục của Việt Nam. Thông qua việc so sánh này để chỉ ra sự ảnh hưởng của
văn học Trung Quốc với văn học Việt Nam; thấy được sự tiếp nhận văn hoá, tính
bản vị và giá trị văn hoá Việt.
- So sánh về ảnh hưởng của thể loại như mô hình cấu trúc cốt truyện; hệ
thống không gian, thời gian; yếu tố kỳ ảo (trong đó có hệ thống nhân vật kỳ ảo, hệ
thống mô típ kỳ ảo);...
- Miêu tả so sánh đặc trưng ngôn ngữ Hán văn về phương diện ngữ pháp theo
các khái niệm ngữ pháp học tiếng Hán của thể loại chí quái từng nước. Thông qua
đó để làm sáng tỏ mối quan hệ ảnh hưởng về ngôn ngữ Hán văn của chí quái Trung
Quốc đối với chí quái Việt Nam. Chỉ ra đặc trưng của chí quái là ngôn ngữ kể, tả.
2
Vì vậy, loại câu được chí quái sử dụng nhiều nhất là câu phán đoán và câu tồn tại.
Chỉ ra hiện tượng ngữ pháp bạch thoại thời kỳ đầu trong các tác phẩm chí quái, đặc
biệt là ở hai tác phẩm chí quái của Việt Nam.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu
Đối tượng nghiên cứu của luận án nghiên cứu là so sánh đặc trưng thể loại và
ngôn ngữ Hán văn giữa tác phẩm Sưu thần ký của Trung Quốc với Việt điện u linh tập
và Lĩnh Nam chích quái lục của Việt Nam. Hướng nghiên cứu là so sánh sự tương
đồng, dị biệt về thể loại và ngôn ngữ, lấy STK làm tác phẩm tiêu biểu cho thể loại chí
quái, so sánh với Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục từ góc độ quan hệ ảnh
hưởng do tiếp xúc, tiếp nhận văn hoá, văn học giữa hai nước.
- Phương pháp quy nạp để đưa ra những kết luận về sự tương đồng và dị biệt
giữa chí quái Trung Quốc và chí quái Việt Nam về đặc trưng thể loại và ngôn ngữ
Hán văn.
- Thao tác thống kê, định lượng được sử dụng xuyên suốt luận án. Các số
liệu thống kê sẽ là cứ liệu để chúng tôi tiến hành so sánh những đặc điểm, đặc trưng
của thể loại cũng như đặc trưng của ngôn ngữ Hán văn mỗi nước.
- Thao tác của ngôn ngữ học miêu tả để miêu tả cơ cấu ngữ pháp của chí quái
trên cấp độ từ pháp và cú pháp.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Từ việc nghiên cứu so sánh chí quái Trung Quốc và Việt Nam, luận án có
những ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
- Lần đầu tiên hai tác phẩm chí quái của Việt Nam là VĐUL, LNCQ được
nghiên cứu so sánh một cách toàn diện có hệ thống với tác phẩm chí quái Trung
Quốc là STK.
- Chỉ ra đặc trưng thể loại của VĐUL và LNCQ có ảnh hưởng của chí quái
Trung Quốc từ quan hệ ảnh hưởng do tiếp xúc. Từ đó chỉ ra đặc trưng riêng của chí
quái mỗi nước.
- Chỉ ra một số hiện tượng ngữ pháp tiêu biểu cho thể loại chí quái. Đó là
hiện tượng ngữ pháp bạch thoại thời kỳ đầu. Đồng thời chỉ ra câu tồn tại và câu
phán đoán là hai loại câu tiêu biểu của thể loại chí quái.
- Khẳng định vị trí, vai trò của thể loại chí quái đối với lịch sử văn học Trung
Quốc và văn học Việt Nam. Thấy được sự sáng tạo trong cách tiếp nhận tác phẩm văn
học và tinh thần tự chủ, tự hào dân tộc mà các tác giả Việt Nam thể hiện trong hai tác
phẩm trên.
4
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án có 4 chương.
Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn
tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học. Nói đến thể loại
là nói đến sự thể hiện giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của
các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và tính chất của mối quan hệ mà nhà văn
thể hiện trong tác phẩm. Điều này cho thấy thể loại văn học là sự thống nhất giữa
một nội dung và một dạng hình thức văn bản cũng như cùng một phương thức
chiếm lĩnh đời sống làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy
định lẫn nhau về các đề tài, cảm hứng sáng tác, hình thức nhân vật, hình thức kết
cấu và hình thức lời văn.
6
Thể loại văn học thường phản ánh những khuynh hướng phát triển bền vững,
các thể loại văn học tồn tại để giữ gìn, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy.
Do đó, thể loại văn học luôn luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổi lại vừa ổn định.
Trong quá trình phát triển lâu dài của văn học, thể loại là một yếu tố mà bên
cạnh mặt biến động đổi thay lại có những yếu tố tương đối ổn định. Không có tác
phẩm văn học nào tồn tại ngoài hình thức thể loại văn học. Thể loại văn học thuộc
về phương thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn học cũng như cách cấu tạo và
biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể. Trong quá trình vận động của
văn học, sự hình thành, phát triển và mất đi của các thể loại văn học là hiện tượng
phát triển bình thường. Không có một thể loại nào trường tồn bất biến qua thời gian.
Sự thay đổi và phát triển của các thể loại văn học cũng ghi nhận một thực tế về tính
chất tương đối của các loại thể văn học. Các đặc tính của một thể loại vừa có mặt ổn
định lại vừa phát triển đổi thay. Do đó việc nghiên cứu thể loại văn học bao giờ
cũng phải đặt trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Trong thực tế thì giữa các thể
loại văn học đều có tính chất trung gian. [Theo 23, 197-198]
Đối với văn học trung đại Việt Nam, thể loại như một hiện tượng lịch sử và
có vai trò nhất định trong mỗi giai đoạn của văn học. Văn học Việt Nam kết tinh từ
Việc nghiên cứu hiện tượng tương đồng giữa các nền văn học cũng cung cấp
tư liệu và gợi ý hướng dẫn cho các nhà viết sử văn học dân tộc, cho các nhà phê bình
và lý luận để họ khái quát nên những nhận xét và luận điểm về các vấn đề văn học sử
dân tộc hoăc lý luận văn học.
Thời kỳ cổ trung đại Trung Quốc, có những loại hình tác phẩm văn học ra
đời, nhưng do chế độ chính trị, quan niệm nhận thức đương thời chưa coi là thể loại,
song dần dần với nhận thức cuộc sống, thị hiếu thẩm mỹ thay đổi, những thể loại đó
đã được chấp nhận. Vì vậy, mỗi thể loại sẽ tồn tại trong một thời gian nhất định, nó
sẽ phát triển lên thành một thể loại khác, do nhu cầu và phương thức phản ánh cuộc
sống thay đổi. Các hình thức bộc lộ cảm xúc thể loại văn học sẽ thay đổi qua các
thời kỳ lịch sử. Trong đó phải kể đến thể loại chí quái.
Nền văn học cổ nước ta đã phải qua một thời gian dài nằm trong mối quan hệ
ảnh hưởng do tiếp xúc với văn học Trung Quốc. Cho nên, các nhà nghiên cứu Việt
Nam cũng đã có ý thức so sánh khi đề cập đến nền văn học nước nhà. Ý thức so
sánh được vận dụng để khẳng định sự độc lập của văn hoá Việt Nam, qua đó khẳng
định nền độc lập của dân tộc. Các học giả Việt Nam đã so sánh bằng cách phân tích
8
các điểm đặc thù của hai nền văn học. Đặc thù trong văn học thường biểu hiện ở
một số yếu tố như: hoàn cảnh lịch sử, môi trường tự nhiên, truyền thống văn hoá,
quan niệm về các mối quan hệ gia đình và xã hội, đặc điểm tính cách con người,…
Nhà nghiên cứu người Nga Galưghina K.I. trong chuyên luận nghiên cứu
Tiểu thuyết đoản thiên Trung Quốc trung đại, đã dành một chương nghiên cứu ảnh
hưởng của truyện truyền kỳ, chí quái Trung Quốc với các nước như Việt Nam,
Triều Tiên và Nhật Bản, và rút ra nhận xét như sau: “Truyền kỳ, chí quái của ba
nước Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản đều hình thành trên cơ sở thể tài của Trung
Quốc; tuy trở thành thể tài văn học chung, song các nhà văn của ba nước này đều có
những cố gắng dân tộc hoá đề tài mà mình mượn (chuyển câu chuyện sang hoàn
sánh STK và LNCQ [173]. Luận văn đã so sánh sự ra đời, lưu truyền, loại hình tác
phẩm và nội hàm ý nghĩa, nội dung tình tiết cũng như giá trị nghệ thuật và sự ảnh
hưởng của STK đối với LNCQ, từ đó khẳng định vai trò và ảnh hưởng của hai tác
phẩm đến văn học các giai đoạn sau này ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Tuy
nhiên, tác giả mới chỉ nêu đặc điểm cơ bản của hai tác phẩm và so sánh đối chiếu
song song, chưa nêu bật được quan hệ ảnh hưởng về thể loại và ngôn ngữ Hán văn
của hai tác phẩm.
Luận án của chúng tôi sẽ triển khai theo hướng nghiên cứu so sánh các tác
phẩm văn học trên góc độ thể loại và ngôn ngữ của thể loại chí quái, vì vậy, chương
Tổng quan này, chúng tôi sẽ hệ thống khái quái các công trình nghiên cứu, cách tiếp
cận của các nhà nghiên cứu, đề ra cách thức tiếp cận và hướng giải quyết các vấn đề
của luận án. Cụ thể gồm những nội dung sau:
- Tổng quan về tình hình nghiên cứu STK ở Trung Quốc và Việt Nam.
- Tổng quan tình hình nghiên cứu VĐUL và LNCQ ở Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu của luận án.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Sưu thần ký
1.2.1. Nghiên cứu Sưu thần ký ở Trung Quốc
STK 搜 神 記 là tập tiểu thuyết chí quái ra đời thời Đông Tấn (317 - 420),
còn có tên là Sưu thần lục, Sưu thần tự; tác giả là Can Bảo 干寶, tự là Lệnh Thăng,
người Tân Sái, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. STK là tập truyện ghi chép những chuyện
thần linh ma quái, gồm 30 quyển, nhưng hiện nay chỉ còn 20 quyển. Đây cũng là tác
phẩm mở đầu cho thể loại chí quái cổ đại Trung Quốc. STK có ảnh hưởng sâu sắc
đến sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết Trung Quốc cũng như Việt Nam thời
trung đại.
10
STK nói riêng và chí quái nói chung, từ khi ra đời và phát triển, cho đến thời
Tống, số lượng tác phẩm rất phong phú, nhưng lại có rất ít bài viết nghiên cứu về
hiện tượng này, bên cạnh đó còn có những kiến giải ngộ nhận về chí quái. Nhà văn
những bài viết, công trình nghiên cứu ở Trung Quốc và Đài Loan. Phần Tổng quan
nghiên cứu STK ở Trung Quốc, chúng tôi dựa theo bài Tổng thuật nghiên cứu STK
thế kỷ XX (sau đây gọi tắt là Tổng thuật) của Dương Thục Bằng [164].
Theo Tổng thuật của Dương Thục Bằng: “Thành quả một trăm năm nghiên
cứu STK vẫn ở giai đoạn phát triển sơ bộ, rất nhiều vấn đề quan trọng như tính
chất, tông chỉ sáng tác, thể lệ, nội hàm, đặc sắc tự sự và mối quan hệ thần thoại
sấm vĩ, ảnh hưởng tiểu thuyết thần quái đối với hậu thế… của sách này vẫn chờ
đợi giới nghiên cứu” [164]. Theo thống kê từ thế kỷ XX đến nay, ở Trung Quốc,
luận văn nghiên cứu liên quan đến STK có khoảng hơn 60 bài, có thể phân làm hai
thời kỳ: từ năm 1979 trở về trước và năm 1979 đến nay.
Từ năm 1979 trở về trước luận văn chỉ có 6 bài. Tôn Duy Tân trong Khảo trứ
thuật Can Bảo, đã tìm hiểu khảo sát kỹ trứ tác của Can Bảo. Trong bài viết Liên
quan đến STK, Phạm Ninh đã khảo sát rõ ràng chân nguỵ bản Tám quyển và bản
Mười hai quyển. Trong bài Xem xét tài liệu sự tích của Can Bảo, Cát Triệu Quang
đã bước đầu đi xa hơn là tìm hiểu cuộc đời của Can Bảo,...
Từ năm 1979 đến nay, nghiên cứu STK bắt đầu nóng lên, chỉ trong khoảng
thời gian hơn 20 năm, số lượng luận văn xuất hiện nhiều gấp 9 lần so với thời kỳ
trước và có xu hướng khai thác khám phá nhiều mặt, nhiều góc độ mới mẻ. Nhiều
bài viết đã có cái nhìn từ góc độ văn học, văn bản học, dân tục học, tự sự học, so
sánh học, dịch chú,... Nội dung nghiên cứu STK chủ yếu theo ba phương diện như:
nghiên cứu cuộc đời, tư tưởng của tác giả; nghiên cứu văn bản và nghiên cứu nội
dung văn bản để tiến hành đánh giá.
1.2.1.1. Nghiên cứu cuộc đời và tư tưởng của tác giả
Theo Tổng thuật, các bài viết: Tìm hiểu tài liệu sự tích Can Bảo của Cát
Triệu Quang, Khảo về Can Bảo của Lý Kiếm Quốc, Lược khảo cuộc đời Can Bảo
của Vương Tận Trung đã khảo biện tỉ mỉ những vấn đề liên quan đến quê quán,
gia thế, năm sinh năm mất, cuộc đời làm quan của Can Bảo, trong đó đặc biệt là
tác giả Lý Kiếm Quốc. Theo Can Bảo khảo của Lý Kiếm Quốc thì: Ông tổ Can
Bảo là tướng quân Ngô Phấn Vũ Đô Đình hầu. Cha Can Bảo làm chức thừa ở Đan
Bảo sinh năm 276, mất khi 61 tuổi. Song vấn đề năm sinh của Can Bảo hiện giờ vẫn
ở dạng tồn nghi.
1.2.1.2. Nghiên cứu văn bản của Sưu thần ký
Cũng như nhiều văn bản cổ khác, STK có rất nhiều dị bản. Vì vậy, việc khôi
phục diện mạo nguyên sách của Can Bảo đã trở thành đề tài quan trọng trong nghiên
13
cứu văn bản STK. Uông Thiệu Doanh đã làm hiệu chú tỉ mỉ, trong đó xác thực tài liệu
liên quan đến 464 điều. Từ trong các điển tịch tìm ra nguồn gốc một vài tài liệu này,
lại sưu tầm tìm kiếm 34 điều dật văn đã bị Hồ Chấn Hanh bỏ sót, đồng thời tiến hành
giám biệt chân nguỵ, phân chia thời điểm để làm cơ sở nghiên cứu STK. Chu Tuấn
Huân trong Kết cấu và chỉnh lý STK 12 quyển lấy khảo chính họ Uông làm cơ sở, lại
dần sưu tầm tài liệu gốc và xuất xứ. STK hiện nay còn ba bản: bản 20 quyển, bản 8
quyển và bản Đôn Hoàng. Ở ba bản có không ít điểm giao thoa lẫn nhau, tuy sự
việc gần giống nhau nhưng lại có sự khác biệt trong ngôn ngữ hành văn. Các nhà
nghiên cứu đều đi đến điểm chung, cho rằng bản 20 quyển được coi là bản gần với
bản gốc của Can Bảo nhất.
1.2.1.3. Nghiên cứu nội dung Sưu thần ký
Liên quan đến vấn đề nội dung văn bản của STK gồm có: Lưu Diệp Thu
trong Tiểu thuyết Nam Bắc triều, Lý Kiếm Quốc trong Đường tiền chí quái tiểu
thuyết sử, Hầu Trung Nghĩa trong Hán Ngụy lục triều tiểu thuyết sử, Thạch Xướng
Du trong Trung Quốc tiểu thuyết nguyên lưu luận đều nêu bật một số đặc điểm sau:
1) Thể hiện rõ “phát hiện đạo thần minh không xằng bậy” trong STK; 2) Can Bảo
thích số thuật âm dương; 3) Lịch sử quan trong luận thuyết thiên mệnh: “cái hưng
của đế vương tất đợi mệnh trời, nếu có sự thay thế thì không phải việc của người
vậy”; 4) Tư tưởng âm dương ngũ hành của Can Bảo thể hiện trong “Yêu quái luận”
đầu quyển 6 và “Ngũ khí biến hoá luận” đầu quyển 12 trong STK; 5) Can Bảo đối
với sự yêu thích tiểu thuyết chí quái và ảnh hưởng thế phong của đương thời. Tác
chịu được gánh nặng gia đình tìm đến giải thoát, thể hiện trong loại văn học huyễn
tưởng. Qua bài Quỷ quái thần tiên trong STK và Liêu Trai chí dị, cho thấy tác giả
đã nghiên cứu thấu đáo STK. Ông lấy tư tưởng sử học làm sợi chỉ nam, phát hiện
STK chuyên chú vào việc quái dị, trong khi đó Liêu Trai chí dị chuyên chú vào
việc người, từ STK đến Liêu Trai chí dị thì thần tiên quỷ thần từ khoảng cách ít xa
đến dung hợp tình cảm, từ hành động không bó buộc ở quy phạm đạo đức nhân
gian đến giống con người.
1.1.2. Nghiên cứu Sưu thần ký ở Việt Nam
STK ra đời không chỉ có vị trí ảnh hưởng đối với văn học Trung Quốc mà
còn có vị trí ảnh hưởng đến văn học Việt Nam thời trung đại. Song các nhà nghiên
cứu văn học Việt Nam chỉ nhắc tới STK khi nghiên cứu ảnh hưởng của chí quái đến
văn học Việt Nam thời trung đại.
Các học giả Việt Nam khi nghiên cứu ảnh hưởng của chí quái Trung Quốc
đối với chí quái Việt Nam cũng đều lấy STK của Can Bảo để so sánh đối chiếu.
Tiêu biểu là các tác giả: Trần Nghĩa, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Đăng Na, Nguyễn
15
Thị Oanh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh,... Các nhà nghiên cứu cũng nhận định rằng,
STK là tập truyện quái dị, hoang đường kỳ ảo được Can Bảo ghi chép lại từ văn học
dân gian và những câu chuyện đầu đường xó chợ.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có đề cập đến chí quái nói chung
và STK ở Việt Nam. Đầu tiên, năm 1997, Nhà xuất bản Giáo dục công bố bản dịch
Lịch sử văn học Trung Quốc, do Lê Huy Tiêu làm chủ biên [140]. Trong Chương IX:
Tiểu thuyết Nguỵ - Tấn Nam Bắc triều của cuốn sách đã giới thiệu khá đầy đủ về
tình hình văn học giai đoạn này. Trong đó, tiểu thuyết chí quái đã được giới thiệu từ
khái niệm tiểu thuyết, tiểu thuyết chí quái; cơ sở hình thành tiểu thuyết chí quái.
Tiểu thuyết chí quái ra đời từ rất sớm, nó bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian và
thần thoại thượng cổ Trung Quốc. Thời Nguỵ - Tấn Nam Bắc triều, tiểu thuyết rất
thịnh hành và có rất nhiều tác phẩm. Từ cuối Hán đến đời Tuỳ, các thuyết thần tiên
ma quỷ trong truyện cổ Việt Nam với Nhật Bản và Trung Quốc” [100] đã điểm qua
một số vấn đề liên quan đến các truyện có liên quan đến thần linh, ma quỷ trong
truyện cổ Việt Nam; khái niệm thần linh, ma quỷ trong truyện cổ của Việt Nam; Sự
gặp gỡ giữa người và thần linh ma quỷ trong truyện cổ Việt Nam và cuối cùng tác
giả đã đi sâu phân tích kiểutruyện hàng phục ma quỷ trong truyện cổ Việt Nam,
trọng tâm là so sánh tác phẩm LNCQ với STK và Nhật Bản linh dị ký. Bài viết đã
làm sáng tỏ nhiều vấn đề mà trước nay còn ít nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt liên
quan đến văn học tâm linh, văn học điềm báo giữa Việt Nam và các nước.
Có thể nói tình hình nghiên cứu STK nói riêng và chí quái nói chung ở Trung
Quốc là vô cùng phong phú, đề tài mở rộng, nhiều hướng nghiên cứu được đi sâu.
Song tình hình nghiên cứu chí quái và STK ở Việt Nam ngoài luận văn thạc sĩ của Vũ
Thị Hương nghiên cứu về đặc trưng thể loại và ngôn ngữ Hán văn, thì các tác giả mới
tuyển dịch, giới thiệu và so sánh STK dưới góc độ ảnh hưởng chung chung của một
thể loại văn học Trung Quốc.
1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái
VĐUL là tập truyện về cõi u linh ở nước Việt, đây là một công trình biên
soạn, tác giả viết lại những truyện vốn có đã được lưu hành về các vị thần ở nước ta.
VĐUL lưu giữ nhiều sự kiện lịch sử của dân tộc trong quá trình giữ nước và dựng
nước. Đây được coi là tác phẩm mở đầu cho dòng văn xuôi nghệ thuật ở Việt Nam.
Cho đến nay, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về văn bản, thể loại, vị trí
của VĐUL đối với đời sống văn hoá, văn học dân tộc...
17