NGHIÊN CỨU VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ KHU VỰC HỌC
MỘT SỐ THÀNH TỰU VÀ TRIỂN VỌNG
Phan Phương Thảo
Trường Đại học KHXH & NV, ĐHQG Hà Nội
I. Các khoa học tự nhiên cũng như xã hội đều phát triển theo hướng phân chia thành
ngành và chuyên ngành. Khi các nghiên cứu chuyên ngành đạt được những thành tựu đáng
kể trong chuyên sâu khoa học thì nó cũng bộc lộ những khó khăn và hạn chế trong việc
nhìn nhận và đánh giá sự vật, hiện tượng với tư cách là một tổng thể. Do vậy, bên cạnh các
phương pháp chuyên ngành rất cần thiết có sự phối hợp các phương pháp liên ngành. Sự
phát triển của khu vực học với tư cách là một khoa học liên ngành không những không ảnh
hưởng tới sự phát triển của các khoa học chuyên ngành mà còn góp phần thúc đẩy sự phát
triển của các khoa học chuyên ngành, nâng cao nhận thức toàn diện về đối tượng tiếp cận.
Khu vực học được chính thức hình thành vào khoảng những năm 40 của thế kỷ XX.
Khu vực học ra đời đầu tiên ở Mỹ, nhưng chỉ phát triển mạnh ở một số trường đại học,
trong khi đó ở Nhật Bản, ngành học này ra đời muộn hơn nhưng phát triển khá rộng trên
phạm vi của quốc gia. Có thể nói, Khu vực học đã và đang phát triển mạnh ở một số nước
trên thế giới, nhưng là lĩnh vực khá mới ở Việt Nam.
Ở nước ta, xu hướng nghiên cứu liên ngành đã được một số nhà khoa học, cụ thể
như Bộ môn lịch sử Cổ - Trung đại Việt Nam thuộc khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội) đặt ra từ những năm 60 thế kỷ XX khi tiến hành khảo sát và nghiên cứu làng xã hay
các khu di tích chiến trận xưa. Phương pháp liên ngành lúc bấy giờ chủ yếu nhằm kết hợp
phương pháp sử học với một số ngành khoa học liên quan như khảo cổ học, dân tộc học,
ngôn ngữ học, địa lý học Khảo cổ học cũng sớm được xây dựng và phát triển theo hướng
liên ngành, kết hợp giữa khảo cổ học với địa chất học, địa lý học, sinh vật học, cổ nhân
học, và một số ngành của khoa học tự nhiên như vật lý học, hoá học Nhưng lý luận và
phương pháp khu vực học thực sự được biết đến từ những năm cuối thập niên 80 của thế
kỷ XX. Khái niệm khu vực học lần đầu tiên được xác lập và triển khai nghiên cứu ở Việt
Nam chính thức là vào năm 1989, áp dụng trong nghiên cứu đô thị cổ Hội An. Các kết quả
nghiên cứu Hội An theo hướng khu vực học đã tạo nên thành công của hội thảo quốc tế về
Hội An tổ chức vào tháng 3 năm 1990 tại Đà Nẵng.
ngành không chỉ giúp cho việc định hướng bảo tồn lâu dài làng cổ Đường Lâm, mà còn là
tiền đề thuận lợi cho việc nghiên cứu và bảo tồn các làng cổ khác của Việt Nam.
Nói đến nghiên cứu làng xã Việt Nam bằng phương pháp tiếp cận liên ngành và khu
vực học không thể không kể tới nghiên cứu Bách Cốc. Bách Cốc là một làng cổ thuộc
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Chương trình nghiên cứu Bách Cốc do Hội nghiên cứu
làng xã Việt Nam của Nhật Bản triển khai nghiên cứu cùng với sự hợp tác từ phía Việt
Nam là Trung tâm hợp tác Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu Văn hóa, nay là Viện Việt
Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội. Chương trình được thực hiện
từ năm 1993, với mục tiêu tìm hiểu quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Việt
Nam, trên cơ sở đó giúp chính phủ Việt Nam hoạch định chính sách nông nghiệp thích hợp
với điều kiện tự nhiên và đặc điểm văn hóa của từng vùng, miền.
Hợp tác nghiên cứu Bách Cốc đã kéo dài hơn 10 năm liền, với sự tham gia của rất
nhiều học giả đa lĩnh vực của cả Nhật Bản và Việt Nam. Chỉ tính trong vòng 10 năm đầu,
từ 1993 đến 2002, riêng phía Nhật Bản đã có 176 người từ 17 trường đại học với nhiều lĩnh
vực như sử học, xã hội học, nhân loại học, địa lý, khảo cổ học, kinh tế học, môi trường
học tham gia. Chương trình này được đánh giá là một chương trình nghiên cứu cấp quốc
tế về tính qui mô và đa dạng. Các kết quả chính của 10 năm đầu nghiên cứu Bách Cốc
(1993-2002) đã được trình bày tại Hội thảo quốc tế với chủ đề "Hoạt động của nông dân
Việt Nam, mối quan hệ tương tác giữa văn hóa và tự nhiên" năm 2002 tại Hà Lan và tại hội
thảo về “Nghiên cứu làng xã Việt Nam” tại Nam Định và Hà Nội năm 2003. Ngoài ra, các
tư liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được phân tích, xử lý và và sẽ lần lượt
công bố. Số đặc biệt "Thông tin Bách Cốc" là một phần kết quả nghiên cứu của chương
trình đã được xuất bản bằng cả tiếng Việt và tiếng Nhật vào tháng 7 năm 2006 [8].
Cùng với quá trình nghiên cứu Bách Cốc - một làng cổ của Nam Định, một chương
trình nghiên cứu khác mang tính khu vực học trên bình diện toàn tỉnh Nam Định cũng
được triển khai. Xuất phát từ mục đích hiểu biết về chính bản thân mình là điều kiện hàng
đầu để đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương, Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định đã mời một nhóm các nhà khoa học do PGS.TS.
Nguyễn Quang Ngọc làm tổng chủ biên, biên soạn Địa chí Nam Định. Yêu cầu tự thân của
việc biên soạn địa chí đã đòi hỏi phải liên kết nhiều nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác
nước, 176 báo cáo của các học giả đến từ 26 nước trên thế giới [7].
Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ hai (7-2004) là sự tiếp nối của hội thảo
lần thứ nhất, vẫn theo định hướng nghiên cứu khu vực học, tập trung vào chủ đề lớn Việt
Nam trên đường phát triển và hội nhập: Truyền thống và hiện đại. Đặc biệt, cuộc hội thảo
lần thứ hai đã dành riêng một tiểu ban Nghiên cứu khu vực để các nhà Việt Nam học trong
và ngoài nước có điều kiện trình bày, trao đổi chuyên sâu về những nghiên cứu mang tính
lý thuyết hay ứng dụng phương pháp khu vực học [9].
Bên cạnh hội thảo quốc tế hay các chương trình nghiên cứu lớn, dài hạn, trong
những năm gần đây, một số dự án nghiên cứu nhỏ hơn, của một hoặc một nhóm các nhà
khoa học cũng đã thành công trong việc ứng dụng phương pháp liên ngành, khu vực học.
Nghiên cứu về lịch sử tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học đã đặt Việt Nam trong bối
cảnh khu vực địa lý Đông Nam Á, với những đặc điểm chung và riêng về địa lý, văn hóa
từ đó thấy được những tác động của khu vực địa lý tới văn hóa và ngôn ngữ. Tuy là yếu tố
bên ngoài ngôn ngữ nhưng rõ ràng yếu tố không gian là rất quan trọng, có ảnh hưởng đến
sự phát triển của lịch sử ngôn ngữ [1].
Trong những thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của trào lưu nghiên cứu liên
ngành, các nhà ngôn ngữ học đã kết hợp nghiên cứu ngôn ngữ trong những mối quan hệ đa
diện, phong phú và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Một số bộ môn mới như ngôn
ngữ dân tộc học, ngôn ngữ học địa lý, ngôn ngữ học tâm lý đã ra đời nhằm nghiên cứu các
vấn đề ngôn ngữ mang tính xã hội, tính tâm lý, tính dân tộc hoặc sự biến đổi của ngôn
ngữ dưới tác động của các yếu tố đó. Cùng với sự phát triển của khu vực học, nghiên cứu
ngôn ngữ với các chuyên ngành của nó và đặc biệt với sự kết hợp liên ngành đã có những
đóng góp quan trọng trong việc xây dựng một bức tranh tổng thể về một khu vực hoàn
chỉnh với tất cả các yếu tố cấu thành [4].
Bên cạnh ngôn ngữ, nghiên cứu văn hóa cũng đã được định hướng theo vùng và
phân vùng văn hóa từ khá sớm. Trong nghiên cứu về cách phân loại cũng như phân vùng
nói chung, Ngô Đức Thịnh đã chỉ ra các cấp bậc từ rộng đến hẹp, từ chung tới riêng, làm
sao các cấp bậc đó bao chứa và phản ảnh được các sắc thái phong phú và đa dạng của tính
thống nhất và khác biệt của văn hóa vùng. Theo đó, hệ thống phân loại các cấp bậc phân
vùng văn hóa rộng hẹp có thể là: miền, khu vực, tiểu khu vực, vùng, tiểu vùng và tương
7. Vùng văn hóa Nam Bộ
Tiểu vùng văn hóa đồng bằng sông Cửu Long
Tiểu vùng văn hóa sông Đồng Nai
Tiểu vùng văn hóa Sài Gòn - Gia Định [6].
Nghiên cứu cụ thể về khu vực miền Trung Việt Nam thời tiền sơ sử, Lâm Mỹ Dung
đã đưa ra xu hướng tiếp cận đối tượng theo tiến hóa sinh thái và tiến hoá lịch sử; nhìn nhận
khu vực theo quan điểm về nối tiếp và phát triển liên tục. Ở đây, tác giả cùng các cộng sự
đã sử dụng một cách hiệu quả phương pháp tiếp cận liên ngành giữa lịch sử, văn hóa, khảo
cổ, địa lý, môi trường sinh thái, thuỷ lợi đưa tới những nhận xét cũng như giả thuyết khoa
học có sức thuyết phục. Theo tác giả, có thể xác lập chuỗi diễn tiến văn hóa tiền - sơ sử
miền Trung theo ba khu vực:
Vùng cực bắc của trung Trung Bộ
Khu vực trung tâm của trung Trung Bộ
Khu vực nam Trung bộ
với những đặc điểm riêng của từng khu vực. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận chung:
Trên nền tảng môi trường tự nhiên và điều kiện sinh thái khá khác biệt với miền Bắc
và Nam, các nhóm cư dân sinh sống ở vùng miền Trung Việt Nam, ngay từ thời tiền sử đã
chiếm lĩnh nhiều vùng địa hình khác nhau và từ đó có nhiều chiến lược thích nghi sinh thái
đa dạng, tạo ra những tiểu vùng văn hóa. Vị thế địa/ văn hóa mở của miền Trung Việt
Nam, giao lưu đường bờ biển mạnh mẽ cũng tạo ra cho vùng này sự phong phú về các
luồng cư dân - văn hóa. Chính sự đa dạng và phong phú văn hóa này là cơ sở cho sự đa
dạng văn hóa sau này ở thiên niên kỷ I sau CN [2].
Chúng tôi cũng muốn trình bày một nghiên cứu cụ thể khi áp dụng phương pháp
liên ngành đã mang lại những kết quả như thế nào? Đó là nghiên cứu địa bạ Bình Định.
Bình Định là một tỉnh thuộc trung Trung Bộ Việt Nam. Đầu thế kỷ XIX, theo chủ
trương chung của vua Gia Long, Bình Định cũng như các tỉnh thành khác trong cả nước
đều được đo đạc và lập sổ địa bạ. Tuy nhiên, Bình Định là một trong những tỉnh có nhiều
địa bạ nhất và là tỉnh duy nhất trong cả nước có địa bạ lập vào hai thời điểm khác nhau trên
qui mô toàn tỉnh. Lựa chọn nghiên cứu địa bạ Bình Định, tác giả đề tài muốn tìm hiểu
không chỉ cơ cấu các loại hình ruộng đất, biến đổi về các loại sở hữu ruộng đất đó giữa hai
chiếm giữ lấy ruộng đất để cày cấy. Theo hướng nghiên cứu đó, chúng tôi coi phong trào
Tây Sơn là nguyên nhân dẫn đến những biến đổi về chế độ sở hữu ruộng đất ở Bình Định,
tạo nên tình trạng sở hữu ruộng đất còn được bảo tồn đến đầu thời Nguyễn, và phản ánh
trong địa bạ Gia Long (1815). Đây cũng chính là nỗi lo lắng của của triều Nguyễn và lý do
tại sao Minh Mệnh lại chọn Bình Định làm nơi áp dụng chính sách quân điền năm 1839.
3. Thực hiện chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định, Minh Mệnh muốn củng
cố bệ đỡ của chính quyền phong kiến, củng cố quyền sở hữu tối cao của nhà nước thông
qua việc tăng cường ruộng đất công của làng xã bằng cách can thiệp vào sở hữu tư, tịch thu
một nửa tư điền để sung công. Đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản của quân điền năm
1839 so với những lần quân điền trước đó.
4. Đối với nhà nước, quân điền năm 1839 không mang lại nguồn thu đáng kể nào về
tô thuế, và đó cũng không phải là mục đích của vua Minh Mệnh khi chủ trương thực hiện
chính sách này.
Kết quả thực sự và có lẽ cũng là mục tiêu sâu xa của vua Minh Mệnh khi quyết định
thực thi quân điền ở Bình Định năm 1839 là nhằm hạn chế sự phát triển của chế độ tư hữu
ruộng đất, khôi phục và tăng cường chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất mà cơ sở phổ
biến là ruộng đất công làng xã, đồng thời sung công một nửa sở hữu của các chủ tư điền,
trong đó có những người nông dân đã chiếm giữ ruộng đất công trong thời kỳ khởi nghĩa
Tây Sơn.
Những kết luận trên chỉ có thể có được sau khi chúng tôi áp dụng phương pháp liên
ngành, đồng thời sử dụng các phương pháp mô tả lịch sử, so sánh, thống kê định lượng, kỹ
thuật vi tính, phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu, và đặc biệt là phương pháp điền dã, phỏng
vấn trong phân tích, xử lý nguồn tư liệu địa bạ Bình Định nửa đầu thế kỷ XIX. Kết quả này
đã được nhiều sử gia, nhất là những người chuyên nghiên cứu về vấn đề ruộng đất, lịch sử
kinh tế Việt Nam nhận định là có cơ sở khoa học, có sức thuyết phục khi đánh giá về biến
đổi sở hữu ruộng đất ở Bình Định trước và sau khi thực hiện chính sách quân điền năm
1839, và quan trọng hơn là tìm ra những nguyên nhân trực tiếp cũng như sâu xa khiến vua
Minh Mệnh đã chọn Bình Định chứ không phải một nơi nào khác để thực thi chính sách
ruộng đất này [5].
Trong khoa học tự nhiên có nhiều ngành nghiên cứu vùng/ phân vùng không gian
Nội, 1.2005
[3] Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên), Địa chí Nam Định, NXB Chính trị quốc gia, H.2003
[4] Nguyễn Thị Việt Thanh: Nghiên cứu ngôn ngữ trong khu vực học, Báo cáo tại Hội thảo
khoa học Nghiên cứu và đào tạo về khu vực học, Hà Nội, 1.2005
[5] Phan Phương Thảo: Chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định qua tư liệu địa bạ, NXB
Thế giới, H. 2004
[6] Ngô Đức Thịnh: Văn hoá vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, NXB Trẻ, Thành phố
Hồ Chí Minh, 2004
[7] Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia: Việt Nam
học Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất, Hà Nội 15-17.7.1998, T.I, NXB Thế giới, Hà
Nội, 2000
[8] Hội nghiên cứu làng xã Việt Nam, Nhật Bản - Việt Nam: Thông tin Bách Cốc, số đặc biệt,
7.2006
[9] Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội: Việt Nam trên đường phát
triển và hội nhập: Truyền thống và hiện đại. Hội thảo Quốc tế lần thứ hai về Việt Nam học,
thành phố Hồ Chí Minh, 14-16.7.2004.