Xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường khu vực đông bắc á thực trạng và giải pháp - Pdf 11

Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đẩy mạnh xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một chủ trơng của Đảng và
Nhà nớc, đợc coi là một chiến lợc quan trọng, lâu dài, góp phần giải quyết
việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho một bộ phận lao động, tạo
nguồn thu ngoại tệ cho đất nớc. XKLĐ còn là biện pháp để tiếp thu, chuyển
giao công nghệ tiên tiến từ nớc ngoài, giúp đào tạo đội ngũ lao động có chất l-
ợng và tăng cờng các quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam, tạo điều kiện cho
Việt Nam hội nhập sâu hơn vào khu vực và quốc tế.
Khu vực Đông Bắc á có các nớc có trình độ cao về phát triển kinh tế,
khoa học, kỹ thuật và công nghệ, trong đó Nhật Bản còn là nớc công nghệ
nguồn, là khu vực có nhu cầu nhập khẩu nhiều loại lao động. Vì vậy, XKLĐ
sang khu vực này còn có mục đích tiếp thu các kiến thức khoa học công nghệ
(KHCN), kỹ thuật sản xuất tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh hiện
đại từ các nớc trong khu vực này, nâng cao tay nghề và rèn luyện tác phong
công nghiệp cho ngời lao động. Thực tế, khu vực Đông Bắc á là một thị trờng
XKLĐ khu vực quan trọng đối với Việt Nam, trong đó các nớc nhập khẩu lao
động (NKLĐ) chính là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Từ đầu những năm
1990 đến nay, hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang khu vực này chiếm tỷ
trọng lớn và có tác động tích cực đối với ngời lao động cũng nh đối với sự
phát triển chung của các ngành, địa phơng của Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả khả quan, hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang khu vực Đông
Bắc á thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, khó khăn, có những diễn biến
phức tạp và phát sinh các tiêu cực, rủi ro. Xảy ra hiện tợng lao động Việt Nam
bị phân biệt đối xử về tiền công, về điều kiện làm việc và sinh hoạt, bị lạm
dụng, lao động tự ý phá hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài làm việc và c trú bất hợp
pháp, v.v Đặc biệt, số lợng lao động Việt Nam tự ý phá hợp đồng, bỏ trốn
1
ngày càng lớn, đến mức các nớc này đã nhiều lần lên tiếng sẽ đóng cửa thị tr-
ờng nếu Việt Nam không tìm cách ngăn chặn và giải quyết dứt điểm, thậm chí
Đài Loan đã tạm thời ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam ở một số lĩnh vực.

việc làm - Thực trạng và giải pháp - Đề tài khoa học cấp Bộ. Ngoài ra còn có
một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, các bài nghiên cứu đăng trên
nhiều tạp chí viết về vấn đề này.
Các công trình nghiên cứu này nhìn chung đã tiếp cận vấn đề XKLĐ
của Việt Nam ở nhiều góc độ khác nhau, tập trung nhiều vào việc phân tích
đánh giá hoạt động XKLĐ của Việt Nam nói chung, hoặc về các khía cạnh
chính sách, cơ chế quản lý hoạt động XKLĐ. Tuy đề cập đến thực trạng và h-
ớng phát triển XKLĐ của Việt Nam sang các nớc thuộc khu vực Đông Bắc á
nh Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, nhng các công trình này mới chỉ dừng
lại ở mức độ đánh giá chung, tổng quát, cha đi sâu vào phân tích, đánh giá đầy
đủ về nhu cầu tuyển dụng lao động nớc ngoài (LĐNN) của khu vực cũng nh
hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Hơn
nữa, trong điều kiện nền kinh tế thế giới, khu vực và bản thân Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đài Loan cũng luôn hàm chứa những yếu tố có tác động không nhỏ tới
việc tuyển dụng LĐNN ở từng nớc, hoạt động XKLĐ của nớc ta còn nhiều tồn
tại, khó khăn, có nhiều diễn biến phức tạp cha giải quyết đợc thì việc nghiên
cứu, làm rõ cả về lý luận và thực tiễn về XKLĐ nói chung, hoạt động XKLĐ
của Việt Nam sang thị trờng khu vực Đông Bắc á nói riêng cần phải đợc tiến
hành thờng xuyên, để từ đó đa ra đợc các giải pháp phù hợp thúc đẩy hoạt động
này tăng trởng ổn định và phát triển bền vững.
Do đó, tiếp tục nghiên cứu về XKLĐ nói chung và hoạt động XKLĐ
của Việt Nam sang thị trờng khu vực Đông Bắc á nói riêng là cần thiết, có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn
về XKLĐ của một số nớc và ở nớc ta trong thời gian qua, luận văn có mục
đích xác định những quan điểm cơ bản về hoạt động XKLĐ và kiến nghị một
số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang thị trờng
khu vực Đông Bắc á trong thời gian tới, góp phần phát triển hoạt động XKLĐ

ơng đơng trong luận văn và đồng nhất về cách hiểu, mặc dù về khía cạnh khoa
học, chỉ có sức lao động mới là hàng hóa và là đối tợng của trao đổi, mua bán,
trong đó có xuất khẩu. Ngời lao động ở các trình độ, nghề nghiệp khác nhau
đợc đa đi làm việc ở nớc ngoài theo các hợp đồng cung ứng lao động đợc
nghiên cứu chung là lao động xuất khẩu (LĐXK).
5. Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời kết hợp với một số phơng pháp khác
nh thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp một cách logíc, có kế thừa những
kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học trớc đây để giải
quyết các nhiệm vụ đặt ra.
6. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động XKLĐ.
- Làm rõ nhu cầu tuyển dụng LĐNN của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài
Loan và phơng hớng XKLĐ của Việt Nam sang các nớc này.
- Tìm ra một số nguyên nhân của thành công và hạn chế trong hoạt
động XKLĐ của Việt Nam sang thị trờng khu vực Đông Bắc á, rút ra một số
kinh nghiệm về hoạt động XKLĐ của Việt Nam.
5
- Đa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế các
phát sinh tiêu cực, đồng thời thúc đẩy hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang thị
trờng khu vực Đông Bắc á phát triển trong thời gian tới.
7. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể đợc dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch
định chính sách kinh tế - xã hội, nhất là đối với những ngời làm công tác
XKLĐ, các nhà nghiên cứu và các độc giả quan tâm.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chơng, 9 tiết.
6

bằng hợp đồng về tiền công cùng với một số điều kiện khác cho một công việc
cụ thể. Thị trờng lao động chính là biểu hiện của sự trao đổi, là mối quan hệ
kinh tế cần thiết giữa ngời sở hữu và ngời sử dụng sức lao động. Hàng hóa trên
thị trờng lao động là sức lao động - một loại hàng hóa đặc biệt, giá cả của nó
cũng chịu sự tác động của các quy luật kinh tế, nhất là quy luật cung - cầu.
Lao động di c (migrant worker) chỉ ngời lao động di chuyển từ nớc
này sang nớc khác để làm việc, thuộc phạm trù di dân quốc tế (international
migration). Di dân quốc tế bao gồm những vấn đề lớn hơn khái niệm lao động
di c, để chỉ những ngời hoặc dòng ngời di chuyển từ nớc này sang nớc khác vì
nhiều mục đích khác nhau, với nhiều lứa tuổi khác nhau, trong đó có một bộ
phận thuộc lực lợng lao động.
Xuất khẩu lao động: Đợc hiểu nh là công việc đa ngời lao động từ một
nớc đi lao động tại nớc có nhu cầu thuê mớn, sử dụng lao động. Nó có liên
quan đến các khái niệm: lao động xuất c - chủ yếu đề cập tới ngời lao động ra
đi từ một nớc nào đó tới nớc mà họ lao động; lao động nhập c - chủ yếu đề
cập đến ngời lao động từ nớc ngoài vào một nớc nào đó để làm việc; lao động
xuất khẩu - đề cập đến ngời lao động của một nớc có độ tuổi, sức khỏe và kỹ
năng lao động khác nhau đợc đa đi làm việc ở ngoài nớc theo các quy định
của pháp luật nớc đó.
Trên thế giới, thuật ngữ thông dụng để chỉ sự di chuyển của ngời lao
động ra khỏi biên giới một nớc là lao động di c hay lao động di trú. Theo Điều
11 của Công ớc số 97 (1949) của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), khái niệm
ngời lao động di c chỉ một ngời di c từ nớc này sang một nớc khác để làm thuê
cho ngời khác [47]. Nh vậy, bất cứ sự di chuyển nào của ngời lao động từ nớc
này đến nớc khác để làm việc đều đợc gọi chung là lao động di c, không phân
biệt hình thức tổ chức và đối tợng tham gia. Với cách hiểu này, thuật ngữ lao
8
động di c chỉ phản ánh biểu hiện bề ngoài sự di chuyển của ngời lao động đi
làm việc ở nớc ngoài dới bất kỳ hình thức nào, cha thể hiện đợc bản chất của
nó là quá trình mua bán sức lao động giữa ngời lao động (ngời sở hữu sức lao

ra nớc ngoài là nhằm các mục tiêu: kinh tế (thu nhập cho ngời lao động và thu
ngoại tệ cho đất nớc), xã hội (giải quyết việc làm); quan hệ quốc tế (hợp tác
kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật), đợc thực hiện theo các hình thức tổ
chức: hiệp định giữa hai chính phủ (nếu có); các hợp đồng cung ứng lao động
giữa các tổ chức kinh tế của Việt Nam và nớc ngoài; các hợp đồng lao động
giữa ngời lao động với các tổ chức kinh tế Việt Nam hoặc các tổ chức kinh tế
và cá nhân nớc ngoài [22]. Nhà nớc không trực tiếp đa lao động đi làm việc ở
nớc ngoài mà chủ yếu do các tổ chức kinh tế đợc cấp phép đảm nhiệm. Hoạt
động này đã phản ánh sát thực bản chất của việc cung ứng và tiếp nhận lao
động giữa các quốc gia, đó là sự trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động
nhằm mục đích kinh tế - xã hội, nằm trong quỹ đạo của nền kinh tế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc.
Xuất khẩu lao động: Là thuật ngữ hiện đợc sử dụng phổ biến, có ý
nghĩa tơng đơng với cụm từ đa ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài trên các
phơng tiện thông tin đại chúng, trong nhiều văn bản pháp luật, tài liệu nghiên
cứu về ngời lao động đi làm việc ở ngoài nớc. Trong cơ chế kinh tế thị trờng,
XKLĐ phản ánh hoạt động cung - cầu lao động trên thị trờng lao động quốc tế
theo các quy luật kinh tế, trên cơ sở giá cả của hàng hóa sức lao động và lợi
ích kinh tế của các chủ thể tham gia; phản ánh đợc sự khác biệt giữa hình thức
tổ chức đa lao động ra nớc ngoài làm việc một cách hợp pháp với các hình
thức tổ chức khác.
1.1.1.2. Bản chất của hoạt động XKLĐ
Từ hiện tợng di chuyển lao động tự do đến XKLĐ là một quá trình gắn
liền với quá trình phát triển kinh tế của mỗi nớc. Đó cũng là một quá trình
nhận thức khách quan về vai trò của ngời lao động và sức lao động tiềm ẩn
trong các nớc d thừa lao động. Vấn đề di chuyển lao động và XKLĐ về thực
10
chất là việc đem sức lao động từ một nớc này tới một nớc khác nhằm mục đích
kinh tế, nhng giữa chúng có sự khác nhau về chất. Việc di chuyển lao động
ban đầu mang tính tự phát còn việc di chuyển lao động trong XKLĐ lại mang

này sang nớc khác, mà cha thể hiện đợc đó là việc bán hàng hóa sức lao động
trong nớc cho chủ sử dụng ở nớc ngoài.
Trong nền kinh tế thị trờng, sức lao động đợc coi là hàng hóa, đợc đem
ra trao đổi, mua bán trên thị trờng. Nhng ngời lao động là chủ sở hữu sức lao
động, chỉ bán giá trị sử dụng của sức lao động và bán nó trong một khoảng
thời gian nhất định cho ngời mua là ngời sử dụng lao động, theo những điều
kiện đã đợc thỏa thuận giữa hai bên. Ngời mua chỉ đợc sử dụng sức lao động
trong thời gian đã thỏa thuận để thu giá trị thặng d do ngời lao động tạo ra, hết
thời hạn này, sự ràng buộc giữa hai bên chấm dứt. Hoạt động mua bán này
diễn ra dới nhiều hình thức khác nhau, có thể ngời lao động trực tiếp tìm đến
ngời sử dụng hoặc thông qua các môi giới trung gian theo các hợp đồng cung
ứng lao động. Nếu ngời lao động bán sức lao động, đi làm thuê cho ngời sử
dụng ở ngoài nớc thì việc mua bán này diễn ra trên thị trờng lao động quốc tế,
khi đó hoạt động này vợt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia và do đó, liên
quan tới các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, giữa quốc gia mà ngời lao
động đi và quốc gia mà ngời lao động đến để làm việc. Để đảm bảo quyền lợi
của ngời lao động cũng nh các lợi ích khác của quốc gia, nhà nớc đã phải
tham gia vào hoạt động này. Cho đến nay, hầu hết sự di chuyển của ngời lao
động ra nớc ngoài làm việc đều có sự can thiệp của nhà nớc, nhng với các mức
độ khác nhau ở các nớc khác nhau. Vì thế trên thế giới ngời ta thờng xếp
XKLĐ vào hoạt động kinh tế đối ngoại hay hoạt động kinh tế quốc tế.
Nh vậy có thể thấy, thực chất XKLĐ là hoạt động xuất khẩu hàng hóa
sức lao động - một loại hàng hóa đặc biệt, bản chất của hoạt động này là việc
bán hàng hóa sức lao động trong nớc cho nớc ngoài. Ngời lao động thông qua
các tổ chức môi giới giao dịch hàng hóa sức lao động, hay các tổ chức XKLĐ,
12
của nhà nớc hoặc t nhân, để bán sức lao động, đi làm thuê cho chủ sử dụng lao
động ở ngoài nớc.
Từ những phân tích trên, chúng tôi mạnh dạn tóm lợc các nội dung
trên và đa ra một khái niệm tơng đối đầy đủ về XKLĐ nh sau:

vậy, xét cả về số lợng và chất lợng, hàng hóa sức lao động phụ thuộc hoàn
toàn vào bản thân ngời mang loại hàng hóa này. Hơn nữa, sức lao động còn
bao hàm các yếu tố về lịch sử và tinh thần [34, tr. 257], nên hàng hóa sức lao
động có một đặc tính xã hội riêng có. Ngời lao động có khả năng t duy và tự
làm chủ bản thân, mang trong mình các đặc điểm về đạo đức, truyền thống
văn hóa, phong tục tập quán của một quốc gia, dân tộc, chúng di chuyển
cùng ngời LĐXK. Vì thế, các chính sách điều tiết hoạt động XKLĐ đều phải
kết hợp với các chính sách xã hội khác, nhất là phải đảm bảo đợc quyền lợi
của ngời lao động, trong các hiệp định hợp tác lao động, hợp đồng XKLĐ
cũng phải có những điều khoản đề cập đến đời sống chính trị, tinh thần, văn
hóa, sinh hoạt của ngời lao động nh vấn đề thăm thân, tham gia các hoạt động
văn hóa, lễ hội, sinh hoạt tập thể
Hoạt động XKLĐ luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của nhà nớc - với t
cách là một chủ thể tham gia vào quá trình này. Nhà nớc tham gia vào hoạt
động XKLĐ bằng cách xây dựng các khuôn khổ pháp lý cho hoạt động
XKLĐ để bảo đảm các lợi ích quốc gia, quyền lợi của các tổ chức, doanh
nghiệp, ngời lao động tham gia XKLĐ, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác
với các nớc NKLĐ, Trong những trờng hợp cần thiết, nhà nớc phải trực tiếp
giải quyết các vấn đề mà bản thân các tổ chức, doanh nghiệp XKLĐ không
thể đảm đơng đợc nh bảo vệ ngời lao động ở nớc ngoài, đàm phán ký kết các
hiệp định chính phủ về hợp tác lao động với nớc ngoài, ký kết các điều ớc
quốc tế liên quan đến ngời lao động, giải quyết các vấn đề tiêu cực trong hoạt
14
động XKLĐ nh lao động vi phạm pháp luật ở nớc NKLĐ, lừa đảo trong hoạt
động XKLĐ,
- Hoạt động XKLĐ là một hoạt động xuất khẩu dịch vụ đặc thù. Đặc
điểm này đợc thể hiện qua tính chất vô hình không thể chia cắt và tính chất
không xác định trong hoạt động XKLĐ.
+ Tính chất vô hình, không thể chia cắt: Hoạt động dịch vụ thông th-
ờng có đặc điểm không hiện hữu, không tồn tại dới dạng vật thể, không thể sờ

động, các chi phí để thỏa mãn các nhu cầu văn hóa tinh thần của ngời lao
động [34, tr. 256-258]. Do đó, ngoài vấn đề phải đảm bảo đợc sức cạnh tranh
trong môi trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc tính toán giá cả hàng hóa
trong XKLĐ phải tính đúng và tính đủ các yếu tố hình thành giá trị hàng hóa
sức lao động, phải tính toán trong điều kiện từng thị trờng cụ thể, nơi diễn ra
việc trao đổi sức lao động vì mỗi thị trờng có chi phí và điều kiện sinh hoạt
khác nhau. Nh C.Mác đã chỉ ra "những nhu cầu thiết yếu, cũng nh phơng thức
thỏa mãn những nhu cầu đó phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn minh của
mỗi nớc, ngoài ra còn phụ thuộc rất nhiều vào những thói quen và những nhu
cầu sinh hoạt" [34, tr. 256].
- Hoạt động XKLĐ phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho ba chủ thể tham gia.
Hoạt động XKLĐ, ngoài sự tham gia của Nhà nớc và doanh nghiệp XKLĐ,
còn có sự tham gia trực tiếp của ngời lao động. Ngời lao động tham gia vào
hoạt động XKLĐ với t cách vừa là ngời tạo ra hàng hóa xuất khẩu, vừa là ngời
trực tiếp mang hàng đi bán, lợi ích của họ là các khoản thu nhập hay tiền công
lao động ở nớc ngoài; lợi ích của các doanh nghiệp XKLĐ chủ yếu là các loại
phí trong việc giúp cho ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài; lợi ích của nhà
nớc là các khoản ngoại tệ ròng nhận đợc thông qua các khoản tiền của ngời
lao động gửi về nớc, các khoản phí và thuế từ hoạt động XKLĐ. Vì lợi ích
kinh tế, cả ngời lao động và doanh nghiệp XKLĐ rất dễ vi phạm các quy định
của pháp luật. Do đó, các chính sách điều chỉnh phải đảm bảo đợc sự hài hòa
16
lợi ích trực tiếp của các chủ thể tham gia, trong đó phải chú trọng đến lợi ích
của ngời lao động.
- Hoạt động XKLĐ không có sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa xuất
khẩu, việc thực hiện quyền sử dụng hàng nhập khẩu có thời hạn. Sức lao động
gắn chặt với ngời lao động, không thể tách rời khỏi cơ thể sống của ngời lao
động và luôn thuộc quyền sở hữu của ngời lao động. Ngời lao động với t cách
là một con ngời phải thờng xuyên duy trì mối quan hệ đối với sức lao động
của mình nh là đối với một vật sở hữu của mình hay nh đối với một hàng hóa

việc đa lao động ra nớc ngoài làm việc bằng nhiều hình thức khác nhau là một
hớng đi để góp phần giải quyết vấn đề việc làm trong nớc, tăng thu nhập ngoại
tệ cho quốc gia. Quá trình đó đã tạo ra sự đa dạng trong hoạt động XKLĐ:
diễn ra ở tất cả các nớc, khu vực trên thế giới, không chỉ đơn thuần hớng từ
các nớc đang và chậm phát triển sang các nớc phát triển mà còn có chiều ngợc
lại, hoặc giữa các nớc có cùng trình độ phát triển, dới nhiều hình thức khác
nhau, bao gồm nhiều loại lao động có trình độ khác nhau, làm việc trong
nhiều lĩnh vực khác nhau theo nhu cầu của các nớc tiếp nhận. Do đó, quá trình
này đã tạo ra tình trạng một nớc vừa XKLĐ loại này nhng vẫn phải NKLĐ
loại khác.
Tuy nhiên, dòng XKLĐ từ các nớc phát triển sang các nớc kém phát
triển hơn thờng gắn liền với các hiệp định chính phủ, các hoạt động đầu t, th-
ơng mại, các công trình thầu khoán của các tập đoàn, công ty xuyên quốc gia
của các nớc phát triển. Đây là sự di chuyển của dòng lao động chất lợng cao,
có trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật cao nh các chuyên gia, các nhà
quản lý, kỹ thuật viên cao cấp, sức lao động của họ đợc định ở mức giá cao
hay có mức lơng luôn lớn hơn so với mức lơng của ngời lao động bản xứ,
thậm chí trong cùng một công việc, do đó, giá trị XKLĐ của các nớc phát
triển thờng cao hơn.
18
- Hoạt động XKLĐ có sự di chuyển và giao thoa của các yếu tố truyền
thống, văn hóa, phong tục tập quán giữa các quốc gia, dân tộc. Sức lao động
bao hàm cả yếu tố lịch sử và tinh thần, vì thế ngời lao động luôn mang trong
mình các yếu tố thuộc về đạo đức, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán
của một quốc gia, dân tộc và chúng đợc di chuyển cùng ngời lao động sang n-
ớc NKLĐ. Ngời LĐXK, để sống và làm việc ở nớc NKLĐ, buộc phải thích
nghi, hòa nhập với phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, pháp luật, thói
quen sinh hoạt và làm việc, của nớc sở tại, do đó tạo ra sự trao đổi, hiểu biết
về các yếu tố đó giữa ngời LĐXK và ngời dân bản địa. Vì vậy, hoạt động
XKLĐ cũng là một nhân tố thúc đẩy giao lu văn hóa và hợp tác hữu nghị giữa

để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế. Chính mối quan hệ này đã nảy
sinh các nhu cầu lao động phục vụ cho các dự án khai thác tài nguyên và phát
triển kinh tế này, từ đó thúc đẩy khuyến khích một cách không tự giác việc
XKLĐ trong các nớc có d thừa lao động.
- Sự phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ. Sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học và công nghệ đã đẩy nhanh quá trình chuyên môn hóa sản
xuất và phân công lao động ở cả phạm vi quốc gia và quốc tế, hình thành lên
các ngành nghề, lĩnh vực mới trong nền kinh tế dựa trên các kỹ thuật, công
nghệ cao ở nhiều nớc. ở các nớc phát triển, sự tập trung các nguồn lực vào
phát triển các ngành, lĩnh vực mới, có lợi nhuận cao một mặt dẫn tới sự thiếu
hụt lao động ở các ngành kinh tế truyền thống sử dụng nhiều lao động, thậm
chí ở cả những ngành, lĩnh vực mới do sự phát triển của các ngành này vợt quá
khả năng cung cấp nhân lực của nớc đó, do đó các nớc này có nhu cầu sử
dụng LĐNN; mặt khác, lại có nhu cầu đa một số lao động trong nớc theo các
dự án chuyển giao các công nghệ (cũ) sang các nớc khác. ở các nớc đang và
chậm phát triển, việc đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế theo hớng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), thực hiện chuyên môn hóa và
phân công lao động quốc tế một mặt tạo ra sự d thừa lao động, thiếu việc làm
20
trong nền kinh tế, do đó có nhu cầu đa lao động sang các nớc khác làm việc.
Mặt khác, lại cần lao động chất lợng cao từ nớc ngoài vào làm việc trong các
lĩnh vực sử dụng nhiều chất xám, hoặc theo các dự án tiếp nhận công nghệ từ
nớc ngoài mà lao động trong nớc cha đáp ứng đợc. Dới tác động của các quy
luật kinh tế các quá trình trên tất yếu dẫn đến sự trao đổi lao động để đáp ứng
các nhu cầu về lao động giữa các nớc, hình thành lên hoạt động XKLĐ.
- Quá trình toàn cầu hóa và hoạt động của các công ty xuyên quốc gia
(TNCs). Quá trình toàn cầu hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ sự di chuyển của các
dòng đầu t và thơng mại giữa các quốc gia, kéo theo sự di chuyển của ngời lao
động. Tác động của quá trình này cũng thúc đẩy ngời lao động có xu hớng di
chuyển tới làm việc ở những nơi có thu nhập cao hơn, sức lao động đợc định

triển kinh tế của nớc đó. Sự thiếu hụt một hay nhiều loại lao động của một nớc
nào đó không chỉ do thiếu dân số mà còn do không đủ lực lợng lao động có đủ
kỹ năng cần thiết để đảm nhận công việc, hoặc đơn giản chỉ do ngời lao động
nớc đó không sẵn sàng làm việc. Điều này thể hiện rất rõ ở các nớc phát triển,
trờng hợp Nhật Bản và Hàn Quốc là ví dụ điển hình ở châu á. Bên cạnh đó, do
thị trờng lao động là một bộ phận không thể tách rời với chu kỳ kinh tế, vì thế
sự tăng trởng hay suy thoái, khủng hoảng hay phục hồi của một nền kinh tế
cũng có những tác động tới nhu cầu lao động trong nền kinh tế, có thể tạo ra
việc làm cho ngời lao động hay cũng có thể làm giảm bớt số việc làm cho họ.
Trong những điều kiện nh vậy, nhu cầu về lao động và khả năng cung ứng ở
các nớc có tác động rất lớn tới hoạt động XKLĐ trên phạm vi quốc tế. Thực
trạng quan hệ cung - cầu về lao động là cơ sở để một quốc gia quyết định
NKLĐ hay XKLĐ, xác định số lợng lao động, cơ cấu ngành nghề, loại lao
động cần nhập khẩu hay có thể xuất khẩu. Sự phù hợp giữa nhu cầu lao động
của nớc NKLĐ và khả năng cung ứng của nớc XKLĐ là yếu tố quyết định
đảm bảo cho sự ổn định của hoạt động XKLĐ giữa các quốc gia.
22
Trình độ phát triển kinh tế và KHCN là yếu tố có tác động mạnh mẽ
tới quan hệ cung - cầu về lao động giữa các nớc, quyết định loại hình và số l-
ợng lao động mà một nớc sẽ nhập khẩu hay xuất khẩu. Các nớc có trình độ
công nghệ tiên tiến nh Mỹ, Đức, Nhật Bản thực hiện các chính sách khuyến
khích và u đãi để thu hút lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao từ các
nớc khác, hạn chế tuyển dụng lao động phổ thông, trong khi những nớc có
trình độ kém hơn nh Đài Loan lại nhập khẩu nhiều loại lao động đáp ứng các
nhu cầu lao động bị thiếu hụt trong nớc, phần lớn là lao động có trình độ kỹ
thấp, lao động phổ thông; hoặc nh Malaysia, Thái Lan lại vừa xuất khẩu và
nhập khẩu lao động phổ thông, lao động giản đơn.
- Sự cạnh tranh: Thị trờng lao động quốc tế vừa là thị trờng tự do cạnh
tranh, vừa là thị trờng cát cứ giữa các quốc gia. Do đó, hoạt động XKLĐ vừa
diễn ra sự hợp tác giữa các nớc vừa cạnh tranh nhau mạnh mẽ, sự hợp tác là

Hoạt động XKLĐ của một quốc gia luôn có sự tham gia của chính
phủ nớc đó nhằm bảo vệ các lợi ích của quốc gia, dân tộc. Vì vậy, hoạt động
XKLĐ chịu tác động trực tiếp từ chủ trơng và các chính sách, biện pháp
quản lý, điều tiết của chính phủ nớc XKLĐ. Các văn bản, chính sách đó có
thể khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XKLĐ nhng cũng
có thể gây khó khăn, cản trở hoạt động này. Trong khi đó, bất cứ một sự điều
chỉnh trong chính sách tiếp nhận LĐNN, những quy định, điều kiện nhập c,
thậm chí những thay đổi trong chính sách đầu t, tái cơ cấu kinh tế, chính
sách đối ngoại của chính phủ các nớc NKLĐ đều có những tác động có thể
làm thay đổi nhu cầu LĐNN ở nớc NKLĐ, thậm chí trở thành rào cản hạn
chế số lợng lao động nhập khẩu, do đó làm thay đổi mức cung ứng lao động
của nớc XKLĐ. Ví dụ, Hàn Quốc cho phép Việt Nam tham gia đa lao động
vào Hàn Quốc làm việc Luật cấp phép cho LĐNN mới đã làm cho chỉ tiêu
lao động Việt Nam đợc tiếp nhận vào nớc này trong năm 2005 tăng hơn
24
3.000 ngời so với năm 2004; Đài Loan quyết định ngừng tiếp nhận lao động
giúp việc gia đình và chăm sóc ngời bệnh từ Việt Nam đã cản trở việc tăng
số lợng LĐXK của Việt Nam vào thị trờng này và làm cho hơn 30 doanh
nghiệp XKLĐ của Việt Nam bị đình chỉ hoặc tạm dừng hoạt động XKLĐ
vào Đài Loan. Sự thay đổi chính sách đầu t của chính phủ Malaysia trong
lĩnh vực xây dựng làm cho hàng trăm LĐXK Việt Nam ở nớc này bị mất việc
làm phải về nớc sớm hoặc phải chuyển làm các công việc khác vào đầu năm
2003,
- Các yếu tố truyền thống văn hóa và con ngời: Các chính sách tuyển
dụng LĐNN của bất kỳ quốc gia nào cũng hàm chứa sự bảo tồn và gìn giữ
các giá trị truyền thống văn hóa và phù hợp với tôn giáo của quốc gia đó. Vì
vậy, một quốc gia sẽ có chủ trơng u đãi hơn đối với lao động đến từ các nớc
có nền văn hóa tơng tự (về tôn giáo, phong tục tập quán, về ngôn ngữ).
Hơn nữa, thị trờng thực chất là sự kết hợp của con ngời và nền văn hóa của
thị trờng đó. Vì thế, một số thị trờng lao động có thể tạo ra rất nhiều cơ hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status