Nghiên cứu triết học
Đề tài: " ĐÁNH GIÁ VIỆC NGHIÊN
CỨU CHỦ NGHĨA MÁCTỪ GÓC
ĐỘ CHÚ GIẢI HỌC "
ĐÁNH GIÁ VIỆC NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁCTỪ GÓC ĐỘ CHÚ
GIẢI HỌC (Bình luận về hai trư
ờng phái học thuật trong việc “đọc lại Mác”)
(*) DƯƠNG HỌC CÔNG
Bài viết bình luận về hai trường phái học thuật trong việc “đọc lại Mác”. Cụ
thể, ở phần thứ nhất, tác giả đã phân tích và luận giải để làm rõ rằng, kiểu
nghiên cứu “lấy văn bản làm chuẩn” đã bỏ qua “bối cảnh chú giải học” và do
I. Nghiên cứu “lấy văn bản làm chuẩn” có khả thi hay không
Xét từ góc độ chú giải học, phát triển việc nghiên cứu tài liệu lịch sử kinh
điển của Mác trong điều kiện đương đại chính là phải đưa ra một giải thích
mới đối với lịch sử văn bản Mác. Trong nghiên cứu trước đây, do “ý đồ có
trước” đã dẫn đến việc hiểu sai hoặc "đọc sai" chủ nghĩa Mác. Có học giả cho
rằng, để "trình bày được diện mạo chân thực và hiện trạng nguyên sơ của tư
tưởng Mác", để hiểu được một cách khách quan, giải thích một cách khoa học
và dần tiếp cận với tư tưởng của Mác, chúng ta nên “lấy văn bản Mác làm
chuẩn” nhằm triển khai công việc nghiên cứu của mình. Cái được gọi là
nghiên cứu “lấy văn bản Mác làm chuẩn” chủ trương khi giải thích tư tưởng
chủ nghĩa Mác, nên xuất phát từ ngữ cảnh đặc biệt trong nguyên bản và lôgíc
nội tại trong sự phát triển suy nghĩ chứ không phải từ một mô típ giải thích do
người khác đưa ra, hoặc từ quan điểm cá nhân để suy diễn một chiều. Đây là
một loại sách lược hay cương lĩnh nghiên cứu được thể hiện rõ ràng trong
việc nghiên cứu văn bản Mác hiện nay. Nó chứa đựng một loạt những yêu
cầu và quy phạm kỹ thuật, ví dụ: phải hết sức cố gắng thu thập và làm chủ các
tài liệu sách vở một cách toàn diện và cặn kẽ, phải say mê nghiên cứu từng
chi tiết nhỏ, chọn đọc nguyên tác; phải biết phân biệt các vấn đề, cách suy
nghĩ, luận chứng và cơ sở lý luận của Mác, làm cho những kết luận nghiên
cứu được rút ra đều có căn cứ từ văn bản gốc và phù hợp với ý nghĩa ban đầu
của nó; phải quay lại với ngữ cảnh đặc biệt trong nguyên tác của Mác, thể
hiện chân thực hình tượng Mác về mặt ý nghĩa; phải quay trở lại tầng thứ học
thuật để nghiên cứu, chứ không nên bị nhiễu loạn bởi chính trị hay cách giải
thích của cá nhân người nghiên cứu; phải cố gắng loại bỏ ảnh hưởng và tác
động xung quanh của các nhân tố chủ quan, tiến hành nghiên cứu phân tích
mang tính khách quan, chỉ tuân theo nguyên tắc khách quan lý tính, những kết
luận minh bạch, khách quan(3). Vấn đề đặt ra là ở chỗ, kiểu nghiên cứu như
vậy có khả thi hay không?
Điều tương đối rõ ràng là chủ trương này đã bỏ qua “bối cảnh chú giải học”
trong nghiên cứu văn bản.
loại giả thiết được tính trước. Heidegger nói: “Coi điều gì đó là một thứ được
giải thích, điều này về bản chất được phát huy tác dụng thông qua những cái
có sẵn, cách nhìn có sẵn và sự nắm bắt có sẵn. Giải thích chưa từng bao giờ là
một sự nắm bắt không có tiền đề gì cả đối với một vật cho trước có sẵn. Sự
giải thích chính xác kinh điển có thể được coi như một sự cụ thể hoá giải
thích đặc thù, tuy nó muốn đưa vào những thứ “điển cố có thể truy xét được”,
nhưng thứ “điển cố có thể truy xét được” đầu tiên, chẳng qua là thứ không nói
cũng hiểu, những thành kiến có trước không thể tranh cãi được của người giải
thích mà thôi. Bất kỳ sự khởi đầu nào cho công việc giải thích đều buộc phải
có những thành kiến kiểu ấy, nó là thứ đã được cố định lại theo sự lý giải.
Điều này tức là sự cố định lại những cái đã có sẵn, cách nhìn có sẵn và sự
nắm bắt có sẵn"(4). Gadamer gọi “tiền kết cấu lý giải” của Heidegger là “kiến
giải có sẵn” hoặc “thiên kiến”, có lúc lại gọi kiểu “tiên kiến” hay “thiên kiến”
này là “tầm nhìn” (horizon) của sự lý giải, cho rằng chúng là tiền đề hay xuất
phát điểm của bất kỳ sự giải thích nào. Tóm lại, người đọc không có cách nào
thoát khỏi “tiền kiến” hoặc “thành kiến” để đạt đến cái gọi là sự lý giải “lấy
văn bản làm chuẩn”; “tiền kiến” mới chính là “bối cảnh chú giải học” mà bất
kỳ sự lý giải và giải thích nào cũng đều phải có, là tiền đề có khả năng xảy ra
của bất kỳ sự lý giải và giải thích nào, ý nghĩa của nó tuyệt đối không phải là
tiêu cực để cần phải hạn chế hay loại bỏ. Gadamer cho rằng, “tiền lý giải”
hoặc “tiền kiến” là nhân tố tích cực phát sinh mà lịch sử đã đem lại cho người
lý giải hay người giải thích, nó cung cấp cho họ một “góc nhìn” đặc thù. Tầm
nhìn là phạm vi cái nhìn, nó bao gồm tất cả những thứ có thể nhìn thấy được
xuất phát từ một chỗ đứng nào đó. Chỉ khi nào có được “tầm nhìn vấn đề” nào
đó, chúng ta mới có thể lý giải được ý nghĩa văn bản, người nào không tự đặt
mình vào tầm nhìn mang tính lịch sử đó thì sẽ không thể có được sự lý giải
chính xác.
Việc nghiên cứu bất cứ văn bản nào đều bắt buộc phải có “bối cảnh chú giải
học”, nó có ý nghĩa chỉ dẫn về nhiều mặt đối với chúng ta trong việc triển
khai nghiên cứu văn bản Mác. Nhưng cương lĩnh nghiên cứu “lấy văn bản
nên chúng ta không thể ngay một lúc hiểu được tận cùng tất cả mọi mặt của
văn bản, đây cũng chính là điều khiến cho những tác phẩm kinh điển càng
đọc càng mới, luôn mang sức hấp dẫn vĩnh hằng.
Thứ hai, nhìn vào “bối cảnh chú giải học” có thể khiến chúng ta có được ý
thức tự nhắc nhở, tự kiểm điểm đối với sự hạn chế của bản thân, từ đó tránh
được mọi sự quá đà. Văn bản Mác có nội dung rất phong phú và đa dạng, khi
nghiên cứu nó, chúng ta có thể đưa ra những đòi hỏi mọi mặt, nhưng nếu chỉ
cần có góc nhìn (perspective) của người nghiên cứu - một yếu tố không thể
giảm bớt hay lược bỏ (vẫn còn các nhân tố khác như thời gian, sức lực và
năng lực lý giải của người nghiên cứu), thì cái gọi là “toàn diện” cũng mới
dừng lại ở bề mặt, tình trạng “nhìn mà chẳng thấy gì” vẫn thường xuyên xảy
ra. Bởi, đối với ý thức mang tính hạn chế lịch sử, “sự đồng nhất tuyệt đối giữa
ý thức và đối tượng, về cơ bản, là không thể nào đạt tới”(5). Chúng ta không
thể kỳ vọng dùng “cái nhìn thần kỳ” vạn năng nào đó của bản thân để ngay
một lúc nắm bắt được tất cả, đồng thời rút ra những kết luận từ việc kiên trì
góc nhìn của bản thân. Cần phải thấy rằng, vẫn có thể có các góc nhìn khác,
mà những kết luận rút ra từ chúng có thể cũng hợp lý và cần được tôn trọng,
từ đó tránh được tình trạng rơi vào cạm bẫy tuyệt đối hoá và “tính duy nhất”
(độc đoán – ND). Bất kỳ “góc nhìn” hay “tầm nhìn vấn đề” nào cũng đều có
hạn chế. Trong quá trình căn cứ vào “tầm nhìn vấn đề” nào đó để tiến hành
giải thích văn bản thì sự “làm sáng nghĩa” và “che lấp nghĩa” luôn đi liền với
nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Do vậy, những kết luận có được xuất phát từ một
góc nhìn nhất định đều chỉ là một cách lý giải trong nhiều khả năng lý giải đối
với việc giải thích Mác. Nó không loại trừ những khả năng lý giải khác và
càng không phải là sự lý giải “duy nhất”. Tâm lý học thực nghiệm cũng chỉ ra
rằng, với cùng một bức tranh nhưng từ các góc nhìn không giống nhau của
người quan sát, người ta có thể thấy ở đó hai hình tượng hoàn toàn khác biệt
là “người thiếu nữ đẹp” hay “lão già độc ác”. Tuy nhiên, mỗi lần chúng ta chỉ
có thể nhìn thấy một loại hình tượng, vậy làm sao có thể khẳng định hình
tượng nào mới là hình tượng "thật"?
giải văn bản lại là một vấn đề mới nữa được nêu ra từ những câu trả lời đó.
Thậm chí, ông còn cho rằng, chú giải học nên trở thành một kiểu triết học
thực tiễn “xuất phát từ kinh nghiệm sống, đồng thời giải thích cho kinh
nghiệm sống”, nó là thứ trí tuệ thực tiễn xử lý đời sống thực tế cụ thể, có thể
thay đổi, chứ không phải là tri thức lý luận của cái kết luận được suy ra một
cách trừu tượng từ những nguyên tắc mang tính phổ biến. Nói về Mác, việc
ông viết ra văn bản không phải là sự kiện độc lập, mà chính là để trả lời cho
vô vàn câu hỏi được đặt ra về những vấn đề lịch sử xã hội của thời đại mà ông
sống, chúng có ý nghĩa và giá trị là bởi chúng trả lời cho các vấn đề. Cho nên,
chúng ta cần xuất phát từ các câu hỏi mà văn bản phải đối mặt và trả lời, tìm
ra những đầu mối để nắm bắt ý nghĩa của nó. Về mặt này mà nói, nếu tách
khỏi khả năng nắm bắt sâu sắc hoàn cảnh nảy sinh văn bản thì sẽ không thể lý
giải được ý nghĩa chân thực trong văn bản của Mác. Điều đó có nghĩa, tuy
văn bản là đối tượng trực tiếp, nhưng nó lại không phải là căn cứ cuối cùng
trong sự đọc hiểu của chúng ta, căn cứ cuối cùng chỉ có thể là những vấn đề
nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống. Nếu chỉ bó hẹp trong phạm vi văn bản, sự
trung thành về mặt câu chữ sẽ có thể khiến chúng ta tách rời ngày càng xa với
thực chất tư tưởng của Mác.
Nói về nghiên cứu triết học Mác, “căn cứ văn bản” và “tầm nhìn chú giải” là
điều kiện tất yếu không thể thiếu được, hơn nữa hai mặt này không tách biệt,
cô lập mà luôn quy định và ràng buộc lẫn nhau. Tất nhiên, nếu “căn cứ văn
bản” mà không giống nhau, thì sự lý giải về triết học Mác cũng sẽ không như
nhau, nhưng việc người chú giải chọn văn bản nào làm đối tượng nghiên cứu
lại được quyết định bởi “tầm nhìn chú giải” có sẵn của họ. Ví dụ, do chịu ảnh
hưởng của mô thức phân chia khoa học truyền thống, chúng ta đem chủ nghĩa
Mác hoàn chỉnh tách thành một số bộ phận, như triết học, kinh tế chính trị
học và chủ nghĩa xã hội khoa học v.v Nhưng trong số nguyên tác của Mác,
ngoài luận văn tiến sĩ Sự khác biệt giữa triết học tự nhiên của Democritus và
triết học tự nhiên của Epicure (1841) và bút ký ngắn Luận cương về
Feuerbach (1845) ra, chúng ta khó có thể tìm thấy một văn bản triết học
đề. Nhìn từ góc độ chú giải học, cho dù chúng ta có nhấn mạnh “dùng Mác
giải thích Mác” thế nào đi nữa, thì thực tế vẫn là dùng phương pháp của mình
để lý giải Mác. Đương nhiên, đó tuyệt đối không phải là tính tuỳ tiện chủ
quan khi đọc hiểu văn bản. Văn bản Mác vẫn đang chờ đợi những “độc giả lý
tưởng” (the model reader) của mình, mà những độc giả như vậy chỉ xuất hiện
khi họ có được tầm nhìn chú giải mà toàn bộ học thuyết của Mác đòi hỏi./.
(Còn nữa)
Người dịch: ThS. TRẦN THUÝ NGỌC
(Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)
(*) Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu học thuật, số 9, 2001 (tiếng Trung).
(1) Xem: Nhóm Trương Nhất Binh. Tầm nhìn phương pháp luận nghiên cứu
triết học chủ nghĩa Mác. Tạp chí Học thuật, kỳ 6, 2002.
(2) Xem: Bàn về những giải thích kinh điển triết học chủ nghĩa Mác. Tạp chí
Nghiên cứu chủ nghĩa Mác, số 1, 2003.
(3) Xem: Nhiếp Cẩm Phương. Tiêu chuẩn thể hiện nghiên cứu chủ nghĩa Mác
đương đại. Tạp chí Học thuật, kỳ 1, 2003.
(4) M.Heidegger. Tồn tại và thời gian (Bản dịch đã đính chính, Trần Gia Ánh
dịch). Tam Liên thư điếm, 1999, tr.176.
(5) Xem: H.Gadamer. Chân lý và phương pháp, quyển thượng (Hồng Hán
Đỉnh dịch). Nxb Dịch thuật Thượng Hải, 1999, tr.302 - 303.
(6) Tức là “Tôi chú giải sáu kinh điển” của Nho gia: Thi, Thư, Lễ, Nhạc,
Xuân Thu, Kinh Dịch (ND)
(7) Trích: Tự bạch của các nhà tư tưởng thời đại mới Trung Quốc. Cửa châu
đồ thư xuất xã, 1998, tr.120.
(8) Xem: Trương Nhất Binh. Quay về chủ nghĩa Mác – ngôn ngữ triết học
trong ngữ cảnh kinh tế học. Nxb Nhân dân, Giang Tô, 1999.
(9) Xem: Vương Kiến Đông. Bàn về mối quan hệ giữa nghiên cứu văn bản và
sáng tạo mới lý luận. Tạp chí Học thuật”, số 1, 2003.