z
ĐỀ TÀI
“Đánh giá việc thực hiện công tác bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn
huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp ”.
1
2
3
TÓM LƯỢC
Trong bài “Nghiên cứu chuyên nghành Quản lý đất đai” về “Đánh giá việc thực
hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự
án trên địa bàn huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp ” em đã nghiên cứu một số nội
dung chủ yếu sau đây:
Xác định rõ mục tiêu của bài nghiên cứu là tìm hiểu và đánh giá xác thực về thực
trang công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư làm cơ sỏ để đề xuất cấp có thẩm quyền
hoàn thiện hơn về công tác này nhằm làm cho dự án hoàn thành tốt tiến độ dược giao.
Nắm được đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ cũng như lịch sử nghiên cứu để giới hạn quy
mô cấp dự án ở cấp nào thực hiện mà đánh giá chính xác.
Trong phần Lược khảo tài liệu bài làm cầm làm rõ đất đai là gì vai trò của nó như
thế nào và giá đất cũng vậy trong nền kinh tế quốc dân. Nắm bắt được về bồi thường hỗ
trợ và tái định cư là gì. Chính sách này được áp dụng đối với các nước xung quanh ta như
thế nào và tại nước ta ra sao. Thấy được thực tiến bồi thường,hỗ trợ và tái định cư tại
nước ta trên cơ sở đó Nghị định 69/2009NĐ-CP đã ra đời và giải quyết phần nào tình
trạng bức xúc của người dân trong dự án.
Với Phương tiện là các văn bản quy phạm pháp luật và giấy tờ hồ sơ liên quan đến
dự án, công trình. Bằng Phương pháp thu thập thông tin số liệu, tài liệu cùng điều tra thực
tế và phân tích so sánh đánh giá.để làm rõ vấn đề đặt ra.
Phần trọng tâm của bài là kết quả nghiên cứu đã làm rõ đươc đặc điểm vùng nghiên
ường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày
13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất,
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Quyết định số 29/2009/QĐ-UBND ngày 23
tháng 12 năm 2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đã quy định cụ thể về các mức
bồi thường về đất, tài sản và các chính sách hỗ trợ, tái định cư. Giao nhiệm vụ bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư cho các cơ quan chức năng như cấp huyện ( thị xã, thành phố thuộc
tỉnh), chức năng của cấp xã trong công tác giải phóng mặt bằng. Cùng đó là trách nhiệm
của các cơ quan chức năng co liên quan, nghĩa vụ và quyền lợi của người bị thu hồi đất
5
Huyện Tháp Mười tình Đồng Tháp là một huyện lớn của Đồng Tháp. với nền kinh
tế nông nghiệp, thương mại và dịch vu phát triển. Trên toàn địa bàn huyện Tháp mười với
có nhiều dự án đã và đang được đầu tư, nhưng công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt
bằng và tái định cư đang gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân và một trong
những nguyên nhân chủ yếu nhất đó là đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chính, làm ảnh
hưởng nhiều đến sản xuất và đời sống của nhân dân, đất ở và nhà cửa cũng như vật kiến
trúc, hoa màu trên đất là tài sản rất lớn của nông dân nơi đây. Việc bồi thường, hỗ trợ
chưa tương xứng với mức độ thiệt hại đã gây ra nhiều bức xúc trong nhân dân, từ đó đã
có không ít trường hợp người dân không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ dẫn đến khiếu kiện
kéo dài.
Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, việc bồi thường đất đai, giải
phóng mặt bằng, tái định cư là hiện tượng mà Nhà nước phải đối mặt như một quy luật
tất yếu và phổ biến, không thể tránh khỏi. Đây là một vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp
tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội.
Xuất phát từ thực tiễn trên em xin tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp ”. Nhằm
điều tra, tìm hiểu thực trạng và tìm ra nguyên nhân gây cản trở, đồng thời đề xuất một số
giải pháp nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường, hỗ, đáp ứng được yêu
cầu cải cách hành chính của Nhà nước
2. Mục tiêu.
nhân và cách khắc phục những vướng mắc còn tồn tại có các đề tài nghiên cứu được thực
hiện:
Đề tài “Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Phú Xuyên,
thành phố Hà Nội” thuvienluanvan.com.
Đề tài “Những hạn chế trong áp dụng pháp luật đất đai vào công tác giải tỏa, đền bù
về đất đai cho người dân – những vấn đề đặt ra” của tác giả Nguyến Thị Bích Mai & Trần
Thị Phương Thảo, Bộ môn Quản lý đất đai, Khoa Địa lý - Trường Đại Hoc Đồng Tháp -
năm 2011
Những đề tài trên đã nêu lên tương đối sát thực tế về những tồn tại hiện nay về công
tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư nhưng nó trên phạm vi rộng. Trên cơ sở đó em tiếp
tục triển khai ở huyện Tháp mười có những vấn đề riêng phát sinh và tiếp tục hoàn thiện.
7
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1. Đất đai và vai trò của đất đai
1.1.1. Định nghĩa đất đai:
8
Theo Lê Quang Trí (2001), có rất nhiều định nghĩa về đất đai: đất đai định nghĩa
như là “Một thực thể tự nhiên dưới đặc tính không gian và địa hình” và thường được kết
hợp với một giá trị kinh tế được diễn giải dưới dạng giá đất/ha khi chuyển quyền sử dụng
rộng hơn trên quan điểm tổng hợp và tổng thể thì cũng bao gồm luôn cả tài nguyên sinh
vật và kinh tế xã hội của một thực thể tự nhiên.
Đất đai về mặt địa lý mà nói thì là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất:
có những đặc tính mang tính ổn định hay có chu kỳ dự đoán được, trong khu vực sinh -
khí quyển theo chiều thẳng đứng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm: không khí, đất và
lớp địa chất, nước và quần thể thực vật và động vật và kết quả của những hoạt động bởi
con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai (Theo định
nghĩa về đất đai của Brinkman và Smyth, 1973)
Một định nghĩa hoàn chỉnh chung như sau:
Đất đai là một diện tích khoanh vẽ của bề mặt đất của trái đất, chứa đựng tất cả các
tại của quốc gia. Trong đời sống chính trị của một đất nước, đất giữ vai trò cực kỳ quan
trọng. Là nguyên nhân cơ bản để diễn ra hầu hết các cuộc chiến tranh trong lịch sử giữa
các giai cấp trong cùng một xã hội, mà chủ yếu là những người có đất và người không có
đất. Như vậy qua một số phân tích trên, vai trò của đất đai về phương diện chính trị càng
được khẳng định rõ hơn.
Theo Bùi Quang Nhơn (2001), đất đai là một tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá
mà tự nhiên đã ban tặng cho con người. Đất là nền tảng là bệ đỡ của sự sống nói chung,
của loài người nói riêng. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, cùng với sự ra đời của Nhà
nước, đất đai được đưa vào sử dụng với những pháp lý khác nhau, điều này phụ thuộc vào
chế độ chính trị kinh tế - chính trị của mỗi quốc gia ở từng thời kỳ nhất định. Khi đề cập
đến đất đai, hẳn chúng ta điều biết đất luôn là địa điểm con người xây dựng nhà cửa, các
công trình văn hoá, máy móc, kho tàng, bến bãi, Đồng thời đất cũng là nơi để phân bố
dân cư, phân bố các ngành kinh tế quốc dân.
Đối với môi trường đất là chổ dựa cho tất cả hệ sinh thái, đất là một trong những yếu
tố quan trọng để điều hoà nhiệt độ và điều hoà khí hậu bằng cách giữ nhiệt độ làm giảm
sức nóng thêu đốt của mặt trời qua nhiều tầng đất của mình. Đất còn là túi lọc chuyển
nước bề mặt thành nước ngầm chứa vô khối nước tinh khiết. Với đặc thù độc đáo mà
không vật thể tự nhiên nào có được, đó là độ phì nhiêu, đất còn cung cấp toàn bộ dinh
10
dưỡng cho cây trồng, vật nuôi giúp cho nó sinh sôi nảy nở và phát triển. Ở một vùng nhất
định, kết cấu đất có thể được sử dụng làm nguyên liệu của một số ngành sản xuất phục vụ
đời sống xã hội như: gạch, ngói, đồ gốm, xi măng,
Trong lịch sử hình thành và phát triển của Nhà nước, đất gắn liền với sự ra đời và
tồn tại của một quốc gia là vấn đề lãnh thổ, vì lãnh thổ nó có ý nghĩa đối với việc tồn tại
và duy trì một ranh giới quyền lực Nhà nước trong một cộng đồng dân cư nhất định.
1.2 Gía đất và vai trò của nó
1.2.1 Định nghĩa giá đất:
Điều 4 Luật đất đai 2993 Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử
dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định.
Giá đất là phương tiện để thể hiện nội dung chủ yếu của các hệ chuyển quyền sử
đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.: đất và tài sản.
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông
qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời
nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất
định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới. Quá
trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội đồng giải phóng mặt
bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới. Đây là một quá trình đa dạng
và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các
bên tham gia và cả của xã hội.
Tái định cư là Người sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại mà phải
di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: bồi thường
bằng nhà ở, bồi thường bằng giao đất ở mới, bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.
1.3.2. Bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới. Và, thu
hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp và đô
thị. Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần được giải quyết kịp
thời và thỏa đáng. Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân, mỗi quốc
gia có cách làm riêng của mình.
12
Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và
vẫn đòi hỏi sự “hy sinh”. Không chỉ là một sự đền bù ngang giá tuyệt đối.
Từ những nhận thức trên có thể hiểu bản chất của công tác đền bù giải phóng mặt
bằng khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia,
lợi ích công cộng trong quá trình hiện nay không chỉ đơn thuần là sự đền bù về mặt vật
chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của người dân phải di chuyển. Đó là họ phải có được
chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi cũ, nhưng chắc chắn phải tốt hơn nơi
cũ về mọi mặt thì mới tạo điều kiện cho người dân sống và ổn định.
1.4. Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực
1.4.1. Trung Quốc
mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho
những người tái định cư. Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá
mạnh. Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình
bồi thường hỗ trợ tái định cư. Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi
thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn. Tiền đền bù cho đất
đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát
triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng.
Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng.
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của
Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái
định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà tái
định cư
1.4.2. Thái Lan
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô
thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết.
Tuy nhiên, với những dự án do CP quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ
chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù. Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực,
từng dự án. Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất
cao so với giá thị trường. Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá
nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường.
14
1.4.3. Hàn Quốc
Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các
vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xê-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư
trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố
phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận. Việc đền bù được thực hiện thông
qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố
quản lý và chính sách tái định cư. Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ
do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xê-un khoảng
5km. Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết
quản lý đất đai. Trên cơ sở, cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, Luật dân sự, cùng với nhiều
Nghị định, Chỉ thị, Thông tư về vấn đề đền bù, tái định cư.
- Nghị định 64/1993/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 về việc giao đất nông
nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông
nghiệp.
- Nghị định 87/1994/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 quy định khung giá các loại
đất.
- Nghị định 89/1994/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 quy định về việc thu tiền sử
dụng đất và lệ phí địa chính.
- Nghị định 02/1994/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 về công tác giao đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm
nghiệp.
- Nghị định 91/1994/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 ban hành điều lệ quản lý
quy hoạch đô thị.
- Nghị định 45/1996/NĐ-CP ngày 03 tháng 8 năm 1996 đưa ra tiêu chuẩn hợp pháp
về sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị.
- Nghị định 90/1998/NĐ-CP và Nghị định 22/1998/NĐ-CP điển hình cho các văn
bản pháp lý về đền bù và tái định cư.
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất.
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ,
16
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Nghị định 69/2009/NĐ-CP điển hình bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất,
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư.
- Thông tư 14/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư,
thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
1.6.Thực tiễn bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng ở Việt Nam
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng
Thứ sáu, nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức tạp
của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính
quyền địa phương được nâng lên. Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện vật chất
và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực và có nhiều
kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được
mở rộng và có hiệu quả.
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực
cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư
gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực
đối với người dân cũng như đối với dự án. Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng,
xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của
Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất
cho người có đất bị thu hồi.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó chúng ta cũng còn những tồn tại, vướng
mắc khi tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó đặc biệt là vấn đề giá đền bù,
gây những tác động tiêu cực đối với thị trường bất động sản.
1.7. Quy định chung của Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009
về bồi thường hỗ trợ và tái định cư;
Nhà nước thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và giao đất cho nhà đầu tư
để thực hiện dự án đối với các trường hợp đã có dự án đầu tư được cơ quan Nhà nước có
18
thẩm quyền xét duyệt.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất thực hiện việc thu hồi đất đối với các
trường hợp quy định của pháp luật thì: đất thu hồi thuộc khu vực nông thôn được UBND
xã quản lý, đất thuộc khu vực đô thị và khu vực đã được quy hoạch để phát triển đô thị
được giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý.
Bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi (Điều 42 Luật Đất đai năm 2003)
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng có trách nhiệm đền bù thiệt hại về đất và tài
sản hiện có gắn liền với đất theo qui định tại Nghị định 69/2009/NĐ-CP của CP.
Đối tượng được đền bù thiệt hại:
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước có đất bị thu hồi (gọi chung là người bị thu
hồi đất) được đền bù thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng phải là người có đủ điều kiện
theo quy định của Nghị định 69/2009/NĐ-CP của CP.
Người được đền bù thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi phải là người sở
hữu hợp pháp tài sản đó phù hợp với quy định của pháp luật.
Việc đề bù thiệt hại khi thu hồi đất của tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế,
người định cư ở nước ngoài đã được Việt Nam cho thuê đất giải quyết theo quyết định
riêng của Thủ Tướng Chính Phủ.
Việc sử dụng đất phục vụ cho các công trình công ích của làng, xã bằng hình thức
huy động sự đóng góp của dân thì không áp dụng những quy định tại Nghị định
69/2009/NĐ-CP của CP.
Phạm vi đền bù thiệt hại:
Đền bù thiệt hại về đất cho toàn bộ diện tích đất thu hồi theo quyết định tại Nghị
định 69/2009/NĐ-CP của CP.
Đền bù thiệt hại về tài sản hiện có bao gồm bồi thường, hỗ trợ về nhà, công trình,
bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi. \rợ cấp đời sống và sản xuất cho những người phải
di chuyển chổ ở, di chuyển nơi sản xuất kinh doanh, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo
việc làm.
Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện đền bù, di chuyển, giải
phóng mặt bằng.
1.8. Cơ sở pháp lý cùa việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
20
1.8.1. Bồi thường, hỗ trợ về đất
1.8.1.1 Điều kiện để được bồi thường về đất
Điều kiện để được bồi thuờng về đất được thực hiện theo Nghị định, người đang sử
dụng đất được bồi thường về đất thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9,
1.8.1.2. Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại
Giá đất để tính bồi thường quy định tại Điều 11 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP là
giá đất theo mục đích đang sử dụng của loại đất bị thu hồi, được UBND cấp tỉnh quy định
và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm.
Trường hợp giá đất do UBND cấp tỉnh công bố chưa sát với giá chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh
giao cho cơ quan chức năng xác định lại giá đất cụ thể để quyết định giá đất tính bồi
thường cho phù hợp và không bị giới hạn bởi quy định về khung giá các loại đất.
Chi phí đầu tư vào đất còn lại quy định tại khoản 3 Điều 9 của Nghị định số
197/2004/NĐ-CP là các chi phí thực tế hợp lý mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất để
sử dụng theo mục đích được phép sử dụng mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn
chưa thu hồi được. Các khoản chi phí đầu tư vào đất phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ, thực
tế chứng minh. Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định bằng tổng chi phí thực tế hợp
lý tính thành tiền đã đầu tư vào đất trừ đi số tiền đầu tư phân bổ cho thời gian đã sử dụng
đất. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm:
Tiền sử dụng đất của thời hạn chưa sử dụng đất trong trường hợp giao đất có thời
hạn, tiền thuê đất đã nộp trước cho thời hạn chưa sử dụng đất (có chứng từ hóa đơn nộp
tiền); Các khoản chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất được giao, được thuê và phù
hợp với mục đích sử dụng đất. Trường hợp thu hồi đất mà đã được bồi thường về đất thì
không được bồi thường chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất;
Các khoản chi phí khác có liên quan.
UBND cấp tỉnh quy định việc xác định khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với
các trường hợp không có hồ sơ, chứng từ về chi phí đã đầu tư vào đất cho phù hợp với
thực tế tại địa phương.
1.8.1.3 Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân thực hiện theo quy
định tại Điều 16 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP như sau:
22
Đất nông nghiệp được bồi thường gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu
năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông
giá đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở), giữa giá đất ở với giá đất nông nghiệp nhân
với diện tích bị thay đổi mục đích sử dụng;
Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở)
sang đất nông nghiệp thì tiền bồi thường bằng chênh lệch giữa giá đất phi nông nghiệp
(không phải là đất ở) với giá đất nông nghiệp nhân với diện tích bị thay đổi mục đích sử
dụng.
Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất (nhà ở, công trình đủ điều
kiện tồn tại trong hành lang bảo vệ an toàn của công trình) nhưng làm hạn chế khả năng
sử dụng thì được bồi thường bằng tiền theo mức thiệt hại thực tế. Mức bồi thường cụ thể
do UBND cấp tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế tại địa phương.
Khi hành lang bảo vệ an toàn công trình chiếm dụng khoảng không trên 70% diện
tích đất sử dụng có nhà ở, công trình của một chủ sử dụng đất thì phần diện tích đất còn
lại cũng được bồi thường theo quy định như trên .
1.8.2. Bồi thường, hỗ trợ về tài sản
1.8.2.1 Các trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình
Xử lý các trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình quy định tại Điều
20 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
Nhà, công trình khác được phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng
trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất thì được bồi thường theo quy định tại
Điều 24 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.
Nhà, công trình khác không được phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây
dựng nhưng xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất và xây dựng trước
ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì được bồi thường theo quy định tại Điều 24 của Nghị định
số 69/2009/NĐ-CP; nếu xây dựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau, xây dựng
không đúng với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì không được bồi
thường. Trong trường hợp đặc biệt, UBND cấp tỉnh xem xét hỗ trợ từng trường hợp cụ
thể cho phù hợp với thực tế tại địa phương.
1.8.2.2 Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc
sở hữu Nhà nước
24
25