Nghiên c ứ u đ ề tài
"Đánh giá tiềm năng và
triển vọng của ngành xi
măng sau cuộc khủng
hoảng kinh tế”
MỤC LỤC
Nghiên cứu đề tài 1
"Đánh giá tiềm năng và triển vọng của ngành xi măng sau cuộc khủng hoảng kinh tế” 1
MỤC LỤC 2
_Lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu xi măng sang Châu Phi 28
Theo ước của VNDirec, CTCP Xi măng và xây dựng Quảng Ninh (QNC) có thể đạt 950
tỷ đồng doanh thu và 59,6 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong năm 2009. Và QNC đã chiếm
lĩnh 70% thị trường tại Quảng Ninh và đang mở rộng hệ thống phân phối tới các tỉnh
miền Trung và miền Nam. Tổng công suất với 3 nhà máy sản xuất xi mặng ước đạt
1.3triệu tấn/năm. Công ty vẫn có thể duy trì lợi thế khi sức cạnh tranh của các công ty xi
amwng có tên tuổi khác như Hoàng Thạch Bỉm Sơn…nhờ giá thành rẻ, giá bán thấp hơn
khoảng 30% 30
Triển vọng mới 37
Đề Tài : Đánh giá tiềm năng và triển vọng xây dựng của ngành xi măng
sau cuộc khủng hoảng.
LỜI MỞ ĐẦU
Xi măng có mối quan hệ chặt chẽ với biến động của ngành xây dựng .
Ngành xây dựng là ngành có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nên chịu tác
động của chu kỳ kinh tế . Xi măng được sử dụng nhiều trong lĩnh vực khác
nhau liên quan đến ngành xây dựng như cơ sở hạ tầng , bất động sản , xây
dựng dân dụng nên sự khủng hoảng của thị trường thế giới đã ảnh hướng
không nhó tới sự phát triển của ngành xi măng , làm ngành xi măng có mức
sụt giảm hơn so với ngành khác . Năm 2008 , lĩnh vực xây dựng có tốc độ
tăng trưởng -4% thì ngành xi măng vẫn tăng trưởng 7,7 %.
Những tháng đầu năm 2009 , trong khi ngành thép đang khó khăn vì tích trữ
nguyên vật liệu giá cao , giá sản phẩm liên tục giảm khiến cho các doanh
Kết cấu đề tài :
• Lời Mở Đầu .
• Nội Dung .
I ) Tổng quan về hoạt động xi măng :
1_Ngành xi măng trên thế giới .
2_Ngành công nghiệp xi măng tại Việt Nam.
II)Thực trạng hoạt động ngành CNXM hiện nay .
1_Năng lực sản xuất ngành xi măng .
2_Sự ảnh hưởng những nhân tố tới năng lực sản xuất ngành .
3_Phân tích thực trạng ngành CNXM theo mô hình SWOT .
III) Tiềm năng và triển vọng ngành CNXM Việt Nam .
1_Tiềm năng.
2_Triển vọng.
• Kết Luận .
NỘI DUNG :
I )Tổng quan về hoạt động xi măng :
1_Ngành xi măng trên thế giới :
Nền kinh tế thế giới trong trong những năm qua (2000-2007)bước vào giai
đoạn phát triển ổn định và có thiên hướng chú ý vào nền kinh tế Châu Á .
Tiêu dùng xi măng không ngừng được tăng trưởng và là động lực quan trọng
thúc đẩy ngành công nghiệp xi măng phát triển tại một số nước đang phát
triển như : Trung Quốc , Thái Lan , Ấn Độ ,Indonesia….Trên thế giới hiện
nay có khoảng hơn 160 nước sản xuất xi măng .Các nước có ngành công
nghiệp xi măng chiếm sản lượng lớn của thế giới là : Trung quốc , Ấn Độ và
một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á như là Thái Lan , Indonexia .
Nhưng đến năm 2008 do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu do sự đổ vỡ
hàng loạt hệ thống ngân hàng , tình trạng đói tín dụng , tình trạng sụt giá
chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới , và có
nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ đã làm thị trường xi măng
của các nước trở nên bấp bênh . Đã có những công ty , doanh nghiệp kinh
tấn /năm , ngành công nghiệp Trung Quốc đã chứng kiến sự tăng trưởng
chưa từng thấy khoảng 10%/năm kể từ cuối năm 1980 và kết quả là Trung
Quốc trở thành quốc gia sản xuất xi măng đứng đầu thế giới . Theo số liệu
thu được , sản lượng xi măng Trung Quốc sản xuất ra chiếm khoảng
50%tổng sản lượng xi măng toàn cầu , trong khi 3 quốc gia sản xuất xi măng
lớn tiếp theo là Ấn Độ ,Nhật Bản và Mỹ chiếm dưới 20% tổng sản lượng xi
măng thế giới .Cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế đã làm Trung Quôc bị
ảnh hưởng nghiêm trọng hơn dự đoán như :
_Sản xuất công nghiệp giảm liên tục từ 16% tháng 6/2008 xuống 11,4%
tháng 9/2008 xuống tiếp 8,2%thang 10 sau đó.Trước đó , hầu hết các chuyên
gia tại Bắc Kinh dự báo tỷ lệ sụt giảm nhiều lắm là 0,1 điểm.Đây là mức
công nghiệp tăng trưởng công nghiệp thấp nhất trong 7 năm qua .
Ngày 13/11/2008 : Lần đầu tiên Thủ tướng Ôn Gia Bảo công khai quan điểm
cá nhân của ông về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tới Trung
Quốc .Các nhà sản xuất trung Quốc chịu ba tác động cùng một lúc : Các
nước phát triển bớt nhập khẩu , đồng nhân dân tệ lên giá so với đôla và giá
thành sản xuất lên cao ,và công nghiệp dành cho xuất khẩu của Trung Quốc
gặp khó khăn trong tương lai.
_Các nguyên liệu đầu vào của xi măng cũng bị tác động mạnh .Đầu tư trực
tiếp vào Trung Quốc cũng bớt dồi dào .Hậu quả là tát cả các chỉ số kinh tế
trong ngành xi măng cùng cới tỷ lệ tăng trưởng từ 2 số rơi xuống 9%.
_Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao .
Cùng với sự khó khăn do khủng hoang kinh tế đem lại .Chính phủ Trung
Quốc đã ban hành một loạt các biện pháp nhằm kích thích nền kinh tế :kế
hoạch 586 tỷ USD và cắt giảm lãi xuất ngân hàng…mà các hãng sản xuất x
măng đã dần dần hồi phục .Các hãng thi nhau nâng cao sản lượng ,vì thế mà
dẫn tới ngành xi măng cung vượt qua cầu.Hiện Trung Quốc có khả năng sản
xuất 1,7 tỷ tấn xi măng /năm , hơn số cần 300 triệu tấn
Để giải quyết tình trạng mất cân bằng này ,chủ tịch hiệp hội Vật liệu xây
dựng trung Quốc đã đề nghị các chính quyền địa phương cần đẩy mạnh kiểm
sản lượng lên 25 triệu tấn. Nhà sản xuất xi măng lớn nhất đất nước này là
ACC đang lập kế hoạch bổ sung thêm 7 triệu tấn vào sản lượng của mình,
đưa công suất lắp đặt của công ty lên 29,4 triệu tấn/năm vào năm 2011.
Ambuja Cement, Madras Cement và UltraTech Cement cũng đang tăng sản
lượng của họ lên 7,5 triệu tấn, 6 triệu tấn và 5 triệu tấn tương ứng.
Nhà sản xuất Sản xuất (08-
09) (triệu tấn)
Sản lượng
(tháng 4/2009)
(triệu tấn)
Sản lượng sau khi việc
mở rộng được đề xuất/
đang tiến hành (triệu
tấn)
Ambuja
Cement
18 18,3 24,3
Grasim
Industries
16,3 18 25,5
Ultra-Tech 15,8 19,5 23
Cement 9,1 10,7 13
Jaypee Group 8 10 35
Shree Cement 7,7 9 11,5
Century 7,2 7,8 11,4
Madras
Cement
6,2 7 12
Birla
• Xi măng portland hỗn hợp vẫn với thành phần chính là clinker và
thạch cao , ngoài ra còn một sồ thành phần phụ gia khác như đá
pudoolan , xỉ lò . Ở thị trường các loại xi măng này có tên gọi như
PCB 30 , PCB40 .
Các công nghệ sản xuất xi măng hiện nay đang được áp dụng ở Việt Nam
• Công nghệ xi măng lò đứng
• Công nghệ xi măng lò quay Châu Âu
• Công nghệ xi măng lò quay Trung Quốc
II)Thực trạng hoạt động ngành CNXM Việt nam hiện nay :
1_Năng lực sản xuất ngành xi măng :
Ngành công nghiệp xi măng hiện nay đã có khoảng 14 nhà máy xi măng lò
quay với tổng công suất thiết kế là 21,5 triệu tấn/ năm , 55 cơ sở xi măng lò
đứng , lò quay chuyển đổi tổng công suất thiết kế 6 triệu tân/năm , khoảng
18 triêu tấn xi măng được sản xuất từ nguồn clinker trong nước ứng với
14,41 triệu tấn clinker.
Hầu hết các nhà máy sản xuất xi măng sử dụng phương pháp kỹ thuật thô ,
ngoại trừ những nhà máy có lò trộn xi măng đứng với thiết bị và kỹ thuật lạc
hậu , thì những nhà máy còn lại có năng suất trộn xi măng từ 1,4 triệu đến
2,3 triệu tấn mỗi năm với thiết bị và trình độ kỹ thuật tương đương với
những nhà máy khác ở Đông Nam Á.
*) Kết quả sản xuất – kinh doanh xi măng qua 2 năm 2008 và 2009 :
Năm 2008 :
• Tiêu thụ sản phẩm đạt 16,100 triệu tấn trong đó tiêu thụ xi măng
14,900 triệu tấn còn tiêu thụ clinker là 1,200 triệu tấn .
• Doanh thu : 17,661 tỷ đồng .
• Lợi nhuận : 1,389 tỷ đồng.
Năm 2009 :
• Tiêu thụ sản phẩm đạt 17,35 triệu tấn trong đó tiêu thụ 17,13 triệu
tấn xi măng và 0,22 triệu tấn clinker .
• Doanh thu : 20,781 tỷ đồng .
kết cho nhiều dự án công nghiệp xi măng ở Việt nam đều bị từ chối giai
ngân hoặc có cho vay thì công nghiệp cũng bị co cụm lại .Ngoài ra ,việc cấp
bảo lãnh các khoản vay nước ngoài của chính phủ cũng bị siết chặt lại.Các
hình thức thế chấp băng đất đai , bất động sản ,cổ phiếu đã không còn giá trị
như trước .Điều đó dẫn tới hầu hết các chủ đầu tư không có tiền mặt do
doanh thu giảm sút. Tình hình xi măng lúc này đang bị quay lưng lại.
_Một trong những hậu quả khó chịu , phức tạp ,khó giải quyết và gây ra
những hậu quả phụ khác của cuộc khủng hoảng là tình trạng thất nghiệp
cũng ảnh hưởng đến CNXM Việt Nam.Cường độ lây lan mạnh mẽ của tình
trạng thất nghiệp không khác gì một trân đại dịch.Khởi đầu ở Mỹ,sau đó lan
rộng ra Tây Âu ,Châu Á .Các nước đang phát triển ,các nước nghèo ở Trung
Á và Châu Phi cũng không thoát khỏi.Trong phạm vi mỗi nước ,con virus
mất công ăn việc làm tác động tới một ngành nghề sẽ kéo theo hàng loạt sự
ảnh hưởng các khu vực khác của nền kinh tế ,và đều dẫn tới một tình trạng là
tiêu dung,sản xuất ,trượt dài vào con dốc suy thoái kinh tế chưa thấy điểm
dừng.Theo báo cáo lao động ngành công nghiệp ,đặc biệt là CNXM tỷ lệ
thất nghiệp tăng 1,3% so với 2008.Tuy ngành đã có sự lỗ lực trong việc
giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp.
_ Do thực hiện gói kích thích kinh tế ở các nước, một lượng tiền lớn được đổ
vào nền kinh tế, thâm hụt ngân sách tăng làm cho nguy cơ tăng lạm phát, giá
cả sản phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu tăng cao sẽ tác động lớn tới những
ngành sản xuất của Việt Nam đang phụ thuộc vào nguyên liệu, thành phẩm
nhập khẩu ở nước ngoài.
Đối với ngành xi măng ,dự kiến sản lượng clinker nhập khẩu năm 2010
khoảng 0,5 triệu tấn có nguy cơ tăng giá .Tác động không nhỏ đến ngành xi
măng Việt Nam
_ Việt Nam là khu vực tiền tệ chưa bền vững, rủi ro cao. Các thị trường
chứng khoán, thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối đã có dấu hiệu phục
hồi, song còn chứa đựng nhiều rủi ro, chưa ổn định; thị trường vàng trên thế
giới còn biến động nhiều cũng tác không nhỏ tới ổn định tiền tệ và các cân
tăng và nhu cầu xây dựng cao vào cuối năm.
_bội chi ngân sách tăng lên cả về con số tuyệt đối lẫn theo tỷ lệ GDP, nợ
chính phủ và nợ nước ngoài tăng lên, nhập siêu và cán cân thanh toán tài
khoản vãng lai bị thâm hụt, gây sức ép lên tỷ giá đồng tiền Việt Nam. Những
biến động về tỷ giá, về giá vàng đã gây ra xáo động không đáng có trước khi
được xử lý bằng những biện pháp mạnh mẽ được báo chí mô tả là “giật cục”.
Nhìn chung, các can thiệp hành chính với những thay đổi thiếu tính dự báo,
thậm chí trái ngược với những lời khẳng định mạnh mẽ của những người có
trách nhiệm được đưa ra trước khi thay đổi chỉ ít ngày (như về tỷ giá) làm
ảnh hưởng đến lòng tin của doanh nghiệp và người dân. Điều này cũng ảnh
hưởng không nhỏ tới việc sản xuất xi măng.
_ Nhưng theo nhận đinh của một số chuyên gia kinh tế, nền kinh tế Việt
Nam đã đạt tốc độ phát triển mạnh nhất trong quý IV/2009 và dự đoán trong
năm 2010 có thể đạt mức tăng trưởng 7% .
Với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam khá mạnh trong thời gian
qua, nhu cầu về nguyên vật liệu xây dựng sẽ ngày càng gia tăng, mở ra cho
ngành công nghiệp xi măng những dấu hiệu khả quan trong thời gian tới.
_Về cơ chế thị trường :Tính đến hết năm 2009, Việt Nam đứng trong “top”
10 quốc gia có sản lượng ximăng lớn nhất thế giới. Theo dự báo của Hiệp
hội Ximăng Việt Nam, lượng ximăng tiêu thụ trong năm 2010 sẽ tăng thêm
4-5 triệu tấn, lên 48-50 triệu tấn.
Nếu các nhà máy chạy hết công suất thì Việt Nam có thể dư thừa hơn 10
triệu tấn xi măng trong năm 2010. Do vậy, việc xuất khẩu ximăng sẽ là "cái
van" để điều tiết thị trường.
Trong khi đó, Bộ Xây Dựng cũng dự đoán sang năm 2010, khả năng sản
xuất của ngành ximăng sẽ cao hơn nhu cầu tiêu thụ trong nước khoảng 5-7
triệu tấn. Đây có thể là nối thoát cho bài toán khó giải thị trường xi măng
cung lớn hơn cầu.
2.1.2_Nhân tố chính trị pháp luật:
_Gói kích cầu với trọng tâm là xây dựng cơ bản cùng với mặt bằng lãi suất
_Tuy nhiên vốn đầu tư ban đầu vào máy móc thiết bị ngành xi măng là rất
lớn, đó là sức ép đối với các doanh nghiệp sản xuất trong ngành khi muốn
gia tăng công suất, đổi mới công nghệ.
_Lò đứng
Chúng ta cũng không thể bỏ qua vai trò của xi măng lò đứng trong một thời
kỳ nhất định, loại hình xi măng địa phương từng đóng vai trò trong việc thúc
đẩy phát triển kinh tế, cải tạo điều kiện cơ sở hạ tầng của địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đem lại như vậy, chúng ta cũng phải gánh
chịu những hậu quả đem lại bởI loại hình sản xuất xi măng theo công nghệ
lò đứng. Đó là việc tiêu thụ năng lượng quá cao, năng suất thấp, chất lượng
xi măng tạo ra không đồng đều và đặc biệt là gây ô nhiễm môi trường vớI
các yếu tố như bụi, CO2…
Bởi vậy, cần có một giải pháp phù hợp trong chiến lược phát triển của ngành
nhằm đảm bảo cung cấp đủ xi măng cho thị trường và giảm thiểu tác động
tới môi trường
_Vật liệu mới :
Ông Trần Văn Lượng (Nhật Tựu, Kim Bảng, Hà Nam) vừa nghiên cứu
thành công công nghệ sản xuất bê tông siêu nhẹ theo một quy trình riêng.
Nguyên liệu làm bê tông là hóa chất (làm từ nhựa thông, keo da trâu được
nấu và cô đặc từ da trâu), xi măng PC40, cát hoặc xỉ than, mùn cưa hoặc trấu
bổi rơm, rạ, lõi bắp ngô
Các nguyên liệu này trộn với dung dịch tạo bọt và nước để tạo thành vữa bê
tông nhẹ. Cách làm này vừa tận thu được các sản phẩm phế thải của nông
nghiệp, sạch môi trường sống vừa hạ giá thành sản phẩm (có giá từ 900.000
- 950.000đ/m3. Trong khi đó, giá nhập ngoại là từ 1,3 - 1,8 triệu đồng/m3).
Qua thử nghiệm cho thấy, loại bê tông siêu nhẹ này có ưu điểm cách nhiệt,
cách âm tốt, không gây tải trọng ngang, không thấm nước, không dẫn điện,
khả năng chống cháy cao
Ngoài ra, loại bê tông nhẹ này giúp giảm khoảng 25 - 30% chi phí xây dựng
so với các vật liệu khác, giảm 20 - 50% kết cấu móng ban đầu, giảm 70%
2.2.1_Các nhà cung ứng
_Ở nước ta các mỏ đá vôi , thạch cao nhiều nhưng phân bố không đồng đều và
chưa khai thác được hết giá trị nên chúng ta vẫn phải nhập khẩu clinker
nguyên liệu chính của xi măng với trữ lượng lớn.
Năng lực sản xuất clinker chiếm 70%-80% nguyên liệu sản xuất xi măng_
chỉ đáp ứng 55% nhu cầu trong nước( phần thiếu hụt này phải nhập khẩu chủ
yếu cho các trạm nghiền, nhà máy xi măng phía nam ).Chính vì vậy mà thị
trường xi măng rất dễ bị tác động phụ thuộc vào mặt hàng này.
_Việc cung ứng thạch cao của Cty CP Thạch cao XM bị ảnh hưởng nặng nề
do cước vận tải tăng cao, phương tiện vận chuyển thạch cao từ Lào về rất khó
khăn nên chỉ đạt 72% so với ngân sách 2008.
_Các Cty SX vỏ bao đầu năm đã phải chịu ảnh hưởng rất lớn của giá dầu thế
giới (giá các loại vật tư giấy, hạt nhựa nhập khẩu tăng cao) làm cho giá thành
tăng cao; vào cuối năm 2008 giá đã xuống, tuy nhiên nhu cầu tiêu thụ XM lại
sụt giảm nên cũng không đạt mục tiêu đề ra.
_Tiếp theo đến sự tác động của các nhà cung ứng khác với những mặt hàng
liên quan như giá, than , điện.Nếu những mặt hàng này ổn định , thì thị
trường xi măng sẽ tăng.
Do Việt Nam còn hạn hẹp trong quá trình phân phối nguồn cung ứng khiến
cho các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả,nên sự sụt giảm về sản lượng
cũng như giá của xi măng bấp bênh là không tránh khỏi .
2.2.2_Khách hàng
_Hiện nay cơ sở hạ tầng Việt Nam đang đ ược chú trọng xây dựng và hoàn
thiện. Mạng lưới đường bộ Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi chièu dài so với
năm 1990,chất lượng đường cải tiến rõ rệt .Mỗi năm có khoảng 1 triệu người
từ các vùng nông thôn chuyển đến các thành phố, để đối phó với dòng người
đổ vào đô thị ,cần phải kiém soát tốt hơn những nhu cầu xây dựng nhà ở
không theo quy hoạch và cung cấp cơ sở hạ tầng cơ bản trước khi tiến hành
xây dựng
_Cùng với quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế Việt Nam sẽ xây
nghiệp trong ngành.
• Sản phẩm thay thế
_sản phẩm bê tông chịu lửa ít xi măng cho các lò xi măng đã thay thế các
sản phẩm ngoại với các chỉ tiêu kỹ thuật vượt trội và tính ổn định của sản
phẩm
_Cenocell-có những thuộc tính bao gồm độ cứng cao,trọng lượng nhẹ,
không cần sử dụng tới xi măng ,một thành phần cơ bản của xi măng thông
thường, cách điện tốt,chịu nhi t có thể thay thế xi măng .Sản phẩm này được
tạo ra từ tro bay hoặc tro đáy trong 1 phản ứng với các hoá chất hữu
cơ,không đòi hỏi xi măng hoặc các hỗn hợp thô, sản phấm này được coi là
thân thiện với môi trường, cạnh tranh với bê tông đặc biệt là bê tông nhẹ
nhưng cứng
2.3_Ảnh hưởng nội bộ doanh nghiệp
2.3.1_Nguồn nhân lực
_Hiện nay ,nguồn nhân lực Việt Nam thừa lao động mà vẫn như thiếu .Do
nguồn lao động ở nông thôn ứ đọng nhiều và nguồn lao động này lại không có
trình độ, trong thời đại bây giờ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh sự đòi hỏi
về trình độ trí óc , tay nghề , kinh nghiệm là rất lớn. Nhu cầu lao động trong
ngành xi măng dự báo sẽ tăng cao trong những năm tới khi nhiều dự án xi
măng đi vào hoạt động. Chuyển đổi công nghệ sản xuất từ lò đứng sang lò
quay cũng đòi hỏi đào tạo nâng cao tay nghề NLĐ phù hợp yêu cầu.
_Theo tính toán, trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, ngành công nghiệp xi
măng sẽ cần khoảng 10.000 người phục vụ vận hành các dây chuyền sản xuất,
trong đó cán bộ có trình độ ĐH trở lên khoảng 3500 người (chiếm 35%), số
còn lại là công nhân kỹ thuật .Năm 2009 đưa vào sản xuất 10 dự án: Xi măng
Chinfon 2, xi măng Hoàng Thạch 3, Dây chuyền 2 xi măng Bút Sơn, xi măng
Bỉm Sơn mở rộng, xi măng Bình Phước, Dây chuyền 2 xi măng Nghi Sơn, xi
măng Sông Thao, xi măng Vĩnh Phúc, Dây chuyền 2 xi măng Holcim, xi
măng Hà Tiên 2-2. Với tiến độ đầu tư như hiện nay, hết năm 2010 sẽ có 45
nhà máy xi măng lò quay đưa vào sản xuất với tổng công suất thiết kế 60,51
xuất clinker chất lượng cao PC50, PC60, tăng tỷ lệ pha phụ gia puzolan, tro xỉ
nhiệt điện, xỉ hạt lò cao để giảm tỷ lệ clinker, giảm lượng khí thải CO2, NOx,
SO2. Triển khai việc xây dựng các trạm sử dụng nhiệt thải lò nung để sản xuất
điện, phấn đấu tự cung cấp đến 30% nhu cầu sử dụng điện của nhà máy và
giảm lượng phát thải ô nhiễm môi trường. Tận dụng, tái chế phế thải làm
nhiên liệu cho ngành xi măng, nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất.
2.3.3_Quảng cáo, marketing
_ Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có mạng lưới và phương thức kinh doanh
riêng, nhưng thực tiễn thời gian qua cho thấy mạng lưới kinh doanh xi măng
theo phương thức bán hàng thông qua các nhà phân phối chính, các Công ty
thương mại và các đại lý là tương đối hiệu quả. Phương thức này giảm chi
phí lưu thông, chi phí bán hàng. Tuy nhiên, cần tăng cường công tác kiểm
tra về thực hiện cam kết trách nhiệm giữa các khâu trong hệ thống.
_ Để nâng cao hiệu quả tiêu thụ, đổi mới phương thức bán hàng là cần thiết.
Ngoài ra, cần nghiên cứu giảm chi phí vận chuyển clinker từ Bắc vào Nam
để có giá bán hợp lý, mới cạnh tranh được clinker nhập khẩu từ các nước
Đông Nam Á. DN cũng cần tăng cường xây dựng và quảng bá thương hiệu
sản phẩm, điều này đặc biệt quan trọng đối với những nhà máy mới đưa vào
sản xuất. Cùng với việc đẩy mạnh tiêu thụ trong nước, DN đã xúc tiến tìm
kiếm thị trường xuất khẩu clinker, thị trường Nga, các nước Đông Âu như
Ba Lan, Ucraina và Châu Phi, nhất là những thị trường mà ảnh hưởng của sự
suy thoái kinh tế ít rõ nét. DN tăng cường kiểm tra, chống xi măng Trung
Quốc nhập lậu qua đường biên giới.
_Nền kinh tế nước ta hiện nay đang đi vào quá trình hồi phục và phát triển,
nhu cầu xây dựng công nghiệp, dân dụng và hạ tầng đô thị ngày càng tăng
đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành xi măng phát triển sản xuất kinh doanh
trong nước.
Mặc dù nhu cầu nguyên liệu cho xây dựng tăng cao nhưng sản lượng xi
măng do Việt Nam sản xuất còn chưa để lại ấn tượng với người sử dụng .Để
duy trì và gia tăng thị phần trên các địa bàn và doanh nghiệp hiện có, các
430.000 m
3
/h được lắp đặt tại nhà máy xi măng Hạ Long, Bút Sơn; hệ thống
đóng bao tự động tại nhà máy xi măng Sông Thao; hệ thống trao đổi nhiệt,
tháp điều hòa, thiết bị làm nguội klinke của hệ thống lò quay dây chuyền xi
măng đã được triển khai ở nhà máy xi măng Sông Thao
Với những thành công trên, Việt Nam đã từng bước làm chủ công nghệ sản
xuất xi măng có công suất lớn, đồng thời tiết kiệm trên 70% phí thuê chuyên
gia nước ngoài trong việc quản lý dự án, lắp đặt, vận hành và sửa chữa.
Bên cạnh đó, việc này cũng tạo được công việc ổn định, duy trì đội ngũ cán
bộ làm công tác nghiên cứu khoa học và chế tạo thiết bị cho một số trung
tâm, viện nghiên cứu chuyên ngành và phát triển năng lực cho nhiều nhà
máy cơ khí chế tạo.
3_Phân tích thực trạng ngành CNXM theo mô hình SWOT
3.1_Điểm mạnh (những thành tích đã đạt được của CNXM Việt Nam)
_CNXM là một trong nhưng ngành công nghiệp được sự ưu tiên của chính
phủ.Vì nó đóng vai trò trong việc định hình nền kinh tế của VN ta.
_Sự thuận lợi về vị trí địa lý cũng là một phần trong những điểm mạnh của
ngành CNXMVN.Nó tác động không nhỏ tới tình hình sản xuất cung như
sản lượng của ngành.
_Sự phấn đấu vượt khó trong công tác sản xuất và tiêu thụ của ngành
• Ngành CNXM Việt nam trong năm 2008 và 2009 đã hoàn thành kế
hoạch sản lượng nhà nước định hướng cho ngành.Củng cố sâu một
bước hệ thống phân phối xi măng , yêu cầu các đơn vị xây dựng
phương án kiểm soát nhà phân phối và nguồn xi măng tiêu thụ.
• Sự phân bổ ,giao quyền cho các đơn vị thành viên được quyền quyết
định giá bán theo nguyên tắc đầu nguồn cộng đủ chi phí và cơ chế
khuyến mại phù hợp với tình hình thị trường , đảm bảo hiệu quả kinh
doanh và lợi nhuận được giao
• Ngành CNXM tuy bị ảnh hưởng không nhỏ về sự khủng hoảng nhưng
_Các công ty kinh doanh XM sau khi cổ phần , cũng chưa thực sự thích ứng
với cơ chế thị trường suy giảm sản lượng tiêu thụ.
_Các công ty thành viên chưa tạo được sự kỷ cương , thực hiện đúng định
hướng của công ty về giá , cơ chế khuyến mại và minh bạch.
_Sự tác động của nguồn nguyên vật liệu như thiếu nguồn clinker rồi thiếu
phương tiện vận tải đã làm năng lực của ngành XM cũng bị giảm đi phần
nào.
_Công tác dự báo dài hạn cũng như ngắn hạn chưa sát với thực tế , do đó
ảnh hưởng trực tiếp với việc điều hành của công ty.Các công tác về cấu trúc
hệ thống tiếp thị - bán hàng , áp dụng tiến bộ khoa học trong quản lý ,nâng
cao may moc thiết bị vẫn chưa được thực hiện mạnh mẽ dẫn tới nhiều bất
cập như ô nhiễm môi trường…
3.3_Cơ hội
_Việt Nam với dân số trẻ , tỷ lệ dân thành thị thấp và xu hướng đô thị hóa
đang tăng mạnh mẽ , nhu cầu xây dựng nhà ở , đường xá ,cầu cống ,khu
công nghiệp , trung tâm thương mại ngày một tăng. Điều này tạo cơ hội cho
gia tăng sản lượng thị trường xi măng.
_Nền kinh tế thế giới đang trong xu thế hồi phục sau khi chạm đáy vào quý
2/2009 và điều này sẽ giúp thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu và giảm bớt
áp lực thâm hụt ngân sách . Cộng thêm thị trường xây dưng, bất động sản
thời gian qua đang ấm dần lên là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong
ngành.
_Sau nhiều lần tăng giá kể từ đầu năm , thời gian gần đây tổng công ty thép
VN liên tục hạ giá thép nội theo xu hướng giảm giá thép thế giới giữa mùa
cao điểm hoạt động xây dựng – thì đây là cơ hội tốt với các hợp đồng xây
dựng của ngành xi măng làm tăng lợi nhuân, doanh thu của ngành. Tiếp theo
với mối quan hệ tốt đối với các doanh nghiệp xây dựng đó là điều kiện
thuận lợi trong việc tìm kiếm đầu ra của ngành xi măng.
_Với chính sách vĩ mô đã chú trọng hơn vào chất lượng tăng trưởng đây là
cơ hội tạo nền tảng cho doanh nghiệp xi măng phat triển dài hạn.
_Sự tăng trưởng không ngừng của các nền kinh tế
then chốt trên thế giới khiến nhu cầu vật liệu xây
dựng ngày càng tăng. Sản lượng xi măng toàn cầu
năm 2030 được dự tính cao gấp 5 lần so với năm
1990. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến tổng lượng
phát thải khí nhà kính trên toàn cầu vì cứ mỗi tấn xi
măng được sản xuất ra thì khoảng 1,89 tấn CO2
được phát thải. Để hướng tới một ngành công
nghiệp xi măng “xanh”, các chuyên gia nhấn mạnh
sự thay đổi cần phải diễn ra đồng thời trên cả hai mặt: sản xuất và tiêu dùng.
Đối với sản xuất xi măng, các biện pháp cần thiết là cải thiện hiệu suất nhiệt
của các lò nung, gia tăng tỷ lệ sinh khối trong nhiên liệu lò nung, cải thiện
hiệu quả sử dụng điện của các nhà máy, và phát triển công nghệ Thu - Giữ
các bon. Chính những thay đổi này tạo cho ngành xi măng một tiềm năng
tiếp cận hơn với tự nhiên ,giảm thiểu được ô nhiễm môi trường từ đó giảm
thiểu được các chi phí phát sinh,ngoài ra còn giúp các doanh nghiệp tiến gần
hơn đến các công nghệ khoa học xử lý phát thải.Dưới đây là sơ lược về
những biện pháp.
Cải thiện hiệu suất nhiệt của các lò nung
Giải pháp hiệu quả nhất trong sản xuất clinke xi măng trong các lò nung mới
(các lò luyện xoay mới) ngày nay đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.
Điều quan trọng là phải đảm bảo rằng tất cả những nhà máy mới xây dựng
phải được áp dụng công nghệ mới nhất có thể. Đối với các nhà máy cũ, tính
hiệu quả của các nhà máy dạng này có thể được tăng cường thông qua việc
nâng cấp công nghệ. Các công nghệ lỗi thời phải bị thải loại do tính hiệu quả
thấp vì các nhà máy sử dụng những công nghệ này thường gây ô nhiễm nặng
nề và sản xuất ra xi măng kém chất lượng.