Nghiên cứu khoa học " Đánh giá khả năng phát triển các loài cây thuốc tại Huyện Sa Pa –Tỉnh Lào Cai " doc - Pdf 14

Đánh giá khả năng phát triển các loài cây thuốc tại Huyện Sa Pa –Tỉnh Lào Cai
Hoàng Văn Thắng, Phạm Văn Viện
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Đặng Ngọc Quang
TT Dịch vụ và Phát triển Nông thôn
Các loài cây dược liệu nói chung là một một trong những thành phần quan trọng
trong cơ cấu các loài cây trồng của nước ta. Do điều kiện khí hậu thuận lợi, rừng
nước ta đã tạo ra rất nhiều loài cây thuốc có giá trị cao, cung cấp nguồn dược liệu
trong nước và xuất khẩu.
SaPalà vùng có khí hậu rất phù hợp cho việc phát triển các loài cây dược liệu, nơi
có nhiều người dân thuộc các dân tộc thiểu số, những người mà cuộc sống của họ
chủ yếu gắn bó vào nguồn tài nguyên rừng. Vì thế, việc phát triển các loài cây
ngắn ngày nói chung và cây dược liệu nói riêng nhanh cho sản phẩm nhằm nâng
cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân tộc thiểu số và người nông dân nói
chung là vấn đề quan trọng và cần thiết. Để có cơ sở cho việc quy hoạch phát triển
các loài cây thuốc tại Sa Pa tháng 9 năm 2004 dự án phát triển các loài cây thuốc
đã thực hiện chuyên đề điều tra khả năng phát triển các loài cây thuốc tại Sa Pa –
Lào Cai.
1. Mục tiêu:
· Đánh giá được khả năng trồng và phát triển các loài cây thuốc ở SaPa– Lào Cai.
· Đánh giá khả năng khai thác, chế biến các loài cây dược liệu và mối quan hệ giữa
các hộ trồng cây dược liệu với các đối tác nhằm phát triển các loài cây thuốc ở
SaPa– Lào Cai.
2. Địa điểm:
Tại 4 xã : Lao Chải, Tả Van, Sa Pả, Tả Phìn và thị Trấn Sa Pa của huyện Sa Pa -
tỉnh Lào Cai.
3. Nội dung:
· Đánh giá thực trạng trồng và phát triển các loài cây thuốc trong khu vực.
· Đánh giá khả năng thu hái, chế biến các loài cây thuốc của các hộ dân trong
vùng.
· Nghiên cứu mối quan hệ giữa các hộ trồng cây thuốc với các tổ chức liên quan.

hộ được tạm ứng tiền mặt là 4.8%.
Thành phần các loài cây thuốc được các hộ gây trồng hiện nay rất đơn giản. Ở các
xã Lao Chải và Tả Van chỉ trồng thảo quả, trừ 4 hộ mới được dự án phát triển các
loài cây thuốc hỗ trợ trồng năm loài cây thuốc là chùa dù (Elsholtzia penduliflora),
củ bình vôi (Stephania brachyandra), ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus), sì
to (Valeriana jatamansi) và tục đoạn (Dipsacus japonicus). Dự án này mới bắt đầu
trong đầu năm 2004 với quy mô nhỏ (mỗi gia đình có tổng diện tích thực khoảng
gần 1 sào). Còn lại ở các xã khác cũng chủ yếu là cây thảo quả, riêng ở xã Tả Phìn
và thị trấn thì vẫn còn một số ít hộ trồng một số loài cây thuốc khác như chè nhật,
lão quan thảo, huyền sâm, đương quy, bạch chuột và ngũ gia bì gai. Quan sát các
mô hình này cho thấy hiện tại các mô hình này đều rất có triển vọng, cây trồng
sinh trưởng phát triển tốt, một số loài cây đã cho thu hoạch với sản lượng cao, thảo
qủa của hầu hết các hộ đều được mùa, bạch chuột cũng rất sai quả, củ bình vôi của
dự án phát triển các loài cây thuốc cũng đã cho củ.
Kết quả điều tra về các loài cây thuốc hiện đang được trồng tại các xã cho thấy có
khoảng 16-20 loài cây thuốc đã và đang được trồng. Số hộ trồng thảo quả là nhiều
nhất (chiếm 69.5%), sau đó là đến xuyên khung (14.3%), đương quy (9.5%), tục
đoạn (6.7%). Một số loài khác như lão quan thảo, huyền sâm hay đỗ trọng trước
đây trồng nhiều nhưng hiện nay chỉ còn lác đác vài hộ trồng và số lượng của mỗi
loài trong mỗi gia đình cũng rất ít, thường chỉ còn một đám nhỏ (khoảng 10-
30m
2
), thậm chí chỉ có một vài cây (như cây đỗ trọng) quanh hàng rào hay một vài
loài cây thuốc thông thường (như ngải cứu, gấu tầu, ngũ gia bì gai ).
Các điều kiện và phương tiện phục vụ cho việc sản xuất các loài cây thuốc của các
hộ đều rất đơn giản. Dụng cụ phục vụ cho việc thu hái thuốc cũng chỉ là những đồ
dùng được sử dụng trong gia đình họ như dao, cuốc, xẻng, củi tấu.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tổng diện tích trồng các loài cây thuốc của các
xã trong khu vực nghiên cứu là rất lớn, khoảng 697.003 m
2

sơ chế rồi mới mang đi bán. Cũng có một số ít hộ (11.3%) sau khi thu hái thì bán
tươi luôn không sơ chế gì. Sản phẩm chủ yếu được bán tại nhà (chiếm 47.9%)
hoặc tại chợ (chiếm 39.4%), rất ít hộ có hợp đồng mua bán (chỉ chiếm 3.2%), đây
chủ yếu là những hộ trồng cây actiso có hợp đồng với công ty Traphaco. Tỷ lệ số
hộ có sản phẩm cây thuốc dự trữ trong nhà tương đối ít (chiếm 16.2%) và cũng
chủ yếu là thảo quả khô. Các sản phẩm thuốc được dự trữ trong nhà rất ít bị mối
mọt (tỷ lệ hộ bị mối mọt chiếm 19.2%). Các sản phẩm thuốc bị mối mọt thường là
các loại cây thuốc lá để lâu không dùng đến hoặc thảo quả sấy chưa thật khô. Khi
bị mối mọt thì các hộ xử lý bằng cách đổ ra phơi khô hoặc đem sấy lại. Không có
hộ nào dùng loại thuốc để bảo quản sản phẩm thuốc. Cách thức sơ chế của các hộ
rất đơn giản, đối với các loài cây thuốc lấy lá và thân sau khi thu hái về họ băm
nhỏ và phơi khô trên nong, nia hoặc sân bê tông xi măng. Đối với thảo quả thì hầu
hết được dùng lò sấy để sấy khô (thời gian một mẻ sấy trong khoảng 2-3 tiếng).
Đối với các hộ có nơi thu hái thảo quả xa nhà và với sản lượng lớn thì họ làm lò
sấy và sấy tại rừng, sau đó mang sản phẩm khô về. Với các hộ có vườn thảo quả
gần nhà và sản lượng thấp họ thu hái và mang về sấy tại nhà. Sau khi sấy khô, sản
phẩm được được bảo quản bằng cách cho vào bao dứa buộc lại và để lên gác bếp
khi nào gặp khách hoặc được giá thì bán. Số hộ bảo quản bằng phương pháp này
chiếm 73.4%. Một số hộ khác (chiếm 26.6%) để trong củi tấu hoặc chỉ gác lên sàn
làm bằng nứa và được treo phía trên của bếp.
Ngoài các loài cây thuốc được trồng trong vườn hộ người dân còn thu hái các loài
cây thuốc trong rừng tự nhiên. Các loài được thu hái như cây bổ máu, tục đoạn các
loài cây thuốc tắm
5.3 Mối quan hệ giữa các hộ gia đình trồng cây dược liệu với các tổ chức liên
quan trong vùng
Kết quả điều tra cho thấy, mối quan hệ giữa các gia đình trồng cây dược liệu với
các tổ chức khác ở mức độ rất đơn giản. Đa số các hộ gia đình chỉ giao dịch với tư
thương (69.8%) khi bán sản phẩm. Hình thức giao dịch này diễn ra quanh năm.
Khi đến mùa vụ thu hái sản phẩm tư thương đến các hộ gia đình và sau khi thoả
thuận giá cả hai bên nhất trí và mua bán với nhau. Một số ít hộ (chiếm 3.8%) có

màu.
· Hầu hết các hộ trồng thuốc đều thu hái và chế biến thuốc (90.4%). Tuy nhiên
biện pháp chế biến đơn giản chỉ là phơi hoặc sấy khô bằng các lò sấy.
· Phương tiện và dụng cụ sử dụng cho việc thu hái và chế biến các sản phẩm thuốc
thường là các dụng cụ thông thường trong gia đình như dao, cuốc, xẻng, củi tấu,
bao dứa, nong nia, sân xi măng.
· Các hộ sau khi thu hái chế biến thì bán luôn, ít hộ có sản phẩm cây thuốc trong
gia đình (16.2%). Tỷ lệ sản phẩm thuốc bị mối mọt cũng thấp (19.2%). Khi bị mối
mọt các hộ lại đem phơi hoặc sấy lại.
· Quan hệ giữa các hộ trồng thuốc với các đối tác chủ yếu là với tư nhân (69.8%).
Số hộ có quan hệ với các Trạm dược liệu, của hàng thuốc hoặc đối tác khác ít
(3.8%).
· Rất ít hộ gia đình trồng thuốc được hỗ trợ (10.6%). Hình thức hỗ trợ có thể là
giống cây trồng (3.8%), phân bón (3.8%) hoặc tạm ứng tiền mặt (4.8%).
· Phần lớn các hộ gia đình đều không có vườn thuốc rõ ràng hoặc có thì với diện
tích rất bé, trừ các hộ trồng thảo quả thì có vườn thuốc với diện tích lớn tập trung
trong rừng tự nhiên. Đa số các hộ trồng các loài cây thuốc khác với số lượng rất
nhỏ kết hợp với các loài cây khác trong vườn hộ. Hiện tại thảo quả và bạch chuột
cho năng xuất cao.
7. Kiến nghị.
Để phát triển các loài cây thuốc tại SaPađạt hiệu quả và được bền vững cần quan
tâm đến các vấn đề sau:
· Quy hoạch vùng trồng cụ thể cho từng địa phương, quy mô phải đủ lớn và tập
trung để sản phẩm có thể trở thành hoàng hoá.
· Xác định các loài cây thuốc đang được người dân quan tâm và có thị trường tiêu
thụ ổn định trong tương lai nhưng phải là loài cây phù hợp với điều kiện sinh thái
của khu vực.
· Do các hộ dân phần lớn là người dân tộc, điều kiện kinh tế khó khăn và học vấn
hạn chế vì thế nên hỗ trợ bà con về các mặt như tập huấn kỹ thuật trồng, hỗ trợ
giống cây, phân bón. Người dân phải bỏ ngày công lao động hoặc đóng góp một

important role in development of medicinal plants especially the district
agricultural extention service. There remains in the communes land that can be
converted to medicinal plant planting. This land area is however not large and is
presently under slash-and-burn and crop cultivation. The people are ready to
change their land-use provided the output for the products is ensured.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status