Đề tài "Tìm hiểu, đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của dân tộc Dao và H''''Mông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại huyện Sa Pa - Tỉnh Lào Cai" - Pdf 12


Đề tài

"Tìm hiểu, đánh giá các loại hình
sử dụng đất nông nghiệp của dân
tộc Dao và H'Mông nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đất tại
huyện Sa Pa - Tỉnh Lào Cai"

1. Mở Đầu

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất là tài sản vô cùng quý giá đối với với mỗi quốc gia và là t liệu sản
xuất đặc biệt hàng đầu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Nó còn
là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trờng sống, đất không chỉ là tài
nguyên thiên nhiên quí giá mà còn là nền tảng để định canh định c, tổ chức
các hoạt động kinh tế xã hội.
Xã hội ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh, đòi hỏi ngày càng tăng
về lơng thực, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp, các nhu cầu về văn hoá
xã hội Điều đó tạo nên áp lực ngày càng lớn đến đất đai làm cho quỹ đất nông
nghiệp luôn có nguy cơ bị giảm, trong khi đó khả năng khai hoang đất mới lại
rất hạn chế. Để giải quyết các vấn đề này, ngoài việc nghiên cứu về đất đai,
chúng ta cần phải đánh giá đầy đủ các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội có liên
quan đến quá trình sử dụng đất hiện tại và tơng lai, nhằm mục đích sử dụng
đất hợp lý và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả. Công việc này đòi
hỏi phải đánh giá một cách tổng hợp trên nhiều phơng diện nh: mức độ thích
hợp của từng loại cây trồng, khả năng đầu t cho phép, lợi nhuận thu đợc, mức
tiêu thụ sản phẩm, phong tục tập quán ở từng địa phơng và của từng dân tộc,
bảo vệ đợc môi trờng sinh thái, từ đó xây dựng đúng và lựa chọn các loại
hình sử dụng đất có triển vọng.
Sa Pa là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lào Cai,

HMông nhằm xác định khả năng khai thác sử dụng đất của mỗi dân tộc trên
cơ sở phát huy kiến thức bản địa quý giá kết hợp với khoa học kỹ thuật tiên
tiến, từ đó đề xuất các giải pháp hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn huyện Sa Pa - Lào Cai.
2
1.2.2. Yêu cầu
- Xác định đợc các loại hình sử dụng đất, những nguyên nhân hình
thành, duy trì và phát triển các loại hình sử dụng đất của 2 dân tộc Dao và
HMông.
- Đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên các khía cạnh
kinh tế, xã hội và môi trờng.
- So sánh các loại hình sử dụng đất của 2 dân tộc về nguyên nhân hình
thành, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trờng làm cơ sở cho việc đề xuất loại
hình sử dụng đất thích hợp cho mỗi dân tộc.


hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa trên cơ sở của sản xuất các cây trồng
hàng năm, lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu giải trí nghỉ ngơi, động vật hoang
dã với các công nghệ đợc dùng đến nh tới nớc, cải thiện đồng cỏ.
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT): là sự phân chia chi tiết
hơn của các loại hình sử dụng đất đai chính. Chúng đợc mô tả theo các thuộc
tính nhất định. Các thuộc tính đó gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về kinh

4
tế kỹ thuật nh định hớng thị trờng, vốn, thâm canh, lao động, vấn đề sở
hữu đất đai [44].
Nh vậy, loại hình sử dụng đất là đơn vị xếp dới hệ thống canh tác và
liên quan chặt chẽ với các đơn vị đất đai. Mức độ chi tiết của các loại hình sử
dụng đất phụ thuộc vào mục tiêu, quy mô và tỷ lệ bản đồ sử dụng trong đánh
giá đất [31].
Trong nghiên cứu, đánh giá và quy hoạch sử dụng đất đai, các loại hình
sử dụng đất hiện có sẽ đợc xác định và mô tả về tình hình sản xuất, hình thức
quản lý sản xuất, quy mô nông trại, các biện pháp canh tác, mức độ đầu t,
năng suất, hiệu quả sản xuất và yêu cầu đất đai. Từ đó lựa chọn các loại hình
sử dụng đất thích hợp, bền vững về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả
môi trờng và lấy nó làm đối tợng trong đánh giá đất đai (FAO, 1976) [11].
ở Việt Nam, khái niệm này đã đợc Bùi Quang Toản giới thiệu từ năm
1977. Qua thử nghiệm cho thấy loại hình sử dụng đất đai trong nông nghiệp có
thể đợc áp dụng rộng rãi nh: chuyên lúa, lúa và cây trồng cạn, chuyên cây
trồng cạn, vờn cây, cây trồng thức ăn gia súc (đối với đất đồng bằng); Cây hàng
năm, cây lâu năm, đồng cỏ chăn thả, rừng trồng và khai thác, rừng bảo vệ (đối
với đất đồi núi) [34].
2.1.2. Hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác, hệ thống cây trồng ở
miền núi và vùng cao
Hệ thống nông nghiệp là một phức hợp của đất đai, nguồn nớc, cây
trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi đặc trng khác trong một ngoại cảnh

lao động, phân bón, thuốc trừ sâu, công cụ cải tiến và một ít máy móc đơn
giản, từ du canh chuyển dần thành định canh.
Hệ thống canh tác hiện đại: hệ thống canh tác này thay đổi toàn bộ điều
kiện canh tác, trồng nhiều loại cây, nuôi các vật nuôi nhằm tạo ra các sản
phẩm hàng hoá, cơ giới hoá và tự động hoá quá trình sản xuất - chế biến - bảo

6
quản - tiêu thụ. Sử dụng phân bón hợp lý, thuốc trừ sâu, giống mới năng suất
cao, sử dụng nớc tới, chú trọng các công trình bảo vệ đất. áp dụng hệ thống
nông nghiệp này cần có những điều kiện tự nhiên nh tập trung về ruộng đất,
phát triển giao thông và hạ tầng cơ sở, có thị trờng tiêu thụ khá ổn định. Việc
áp dụng không đúng các biện pháp kỹ thuật của hệ thống này đã lộ một số
mặt tiêu cực cần đợc đánh giá (ô nhiễm môi trờng do bón phân không đúng,
khủng hoảng nớc vùng chuyên canh tập trung, xói mòn mạnh do lạm dụng
cơ giới nặng, ) [24].
Lịch sử phát triển hệ thống cây trồng gắn liền với quá trình phát triển
nông nghiệp. Đặc biệt là sự chuyển đổi hệ thống cây trồng gắn liền với sự ra
đời của các công cụ sản xuất mới, các kỹ thuật canh tác tiên tiến, các giống
cây trồng mới, cũng nh các công tác trinh phục thiên nhiên, trị thuỷ các dòng
sông. Hệ thống cây trồng luôn tiến triển và ngày càng hoàn thiện hơn.
Zandastra H.G [50] cho rằng hệ thống cây trồng là hoạt động sản xuất
cây trồng trong nông trại, nó bao gồm tất cả các hợp phần cần thiết để sản
xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại, mối liên hệ của chúng với môi
trờng. Các hợp phần này bao gồm các yếu tố tự nhiên, sinh học cần thiết
cũng nh kỹ thuật lao động và yếu tố quản lý.
Đào Thế Tuấn (1984) [38] cho rằng cơ cấu cây trồng là thành phần các
giống và loại cây trồng đợc bố trí theo không gian và thời gian trong hệ sinh
thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất nguồn lợi tự nhiên - kinh tế - xã
hội của nó. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp,
nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái. Một cơ cấu cây trồng hợp lý khi

nếu nh các quốc gia này không áp dụng biện pháp thâm canh, sử dụng, bảo
vệ tốt tài nguyên đất. Dự trữ đất canh tác tại các nớc đang phát triển khá lớn,
song phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung ở các nớc Châu Phi và Châu
Mỹ - La tinh [47].

8
Ngời ta ớc tính rằng có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái
hoá do những hành động của con ngời gây ra [17]. Theo P.Buingh [39] toàn bộ
đất có khả năng nông nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện
tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng vào nông nghiệp vì:
Quá dốc 2,682 tỷ ha (18%)
Quá khô 2,533 tỷ ha (17%)
Quá lạnh 2,235 tỷ ha (15%)
Đóng băng 1,490 tỷ ha (10%)
Quá mỏng 1,341 tỷ ha (9%)
Quá nghèo dinh dỡng 0,745 tỷ ha (5%)
Quá lầy 0,596 tỷ ha (4%)
Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, ta có loại đất cha sử dụng nhng có
khả năng trồng trọt. Đất trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (chiếm xấp
xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt, nh vậy
còn 54% đất có khả năng trồng trọt cha đợc khai thác [39].
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,5 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó
con ngời đã khai thác khoảng 1,5 tỷ ha và có xu hớng ngày càng mở rộng
quy mô. Diện tích đất nông nghiệp đợc phân bố nh sau: Châu Mỹ chiếm
35%, Châu á chiếm 26%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Phi chiếm 20%, Châu
Đại dơng chiếm 6%. Nh vậy Châu á và Châu Phi có tiềm năng đất nông
nghiệp lớn nhất. Tuy nhiên nguồn đất ở Châu á gần nh đã cạn kiệt, đồng thời
với c ngụ của gần 1/2 dân số trên thế giới, Châu á là nơi có đất canh tác chịu
nhiều áp lực nhất của sự gia tăng dân số [48].
Đất canh tác của thế giới có hạn chế và đợc dự đoán là ngày càng tăng do

1.650
0,46
0,34
0,30
0,25
0,20
(Nguồn: Hopking và các cộng sự -1982 [9])
Việt Nam là nớc có bình quân diện tích đất trên đầu ngời vào loại
thấp nhất trên thế giới. Theo báo cáo của Tổng cục Địa chính năm 1997 so với
10 nớc khu vực Đông Nam á, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên đứng
hàng thứ 4, nhng dân số đứng hàng thứ hai nên bình quân diện tích trên đầu
ngời của nớc ta đứng hàng thứ 9, chỉ cao hơn Singapore [9].
Bảng 2. Biến động diện tích về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
(năm 1990-1998)
Năm
Tổng DT đất
nông nghiệp
(1000 ha)
Tổng DT đất cây
trồng hàng năm
(1000 ha)
Dân số
(1000
ngời)
Bình quân DT đất
cây trồng hàng
năm/ ngời (m
2
)
1990 9.040,8 8.101,5 66.233,3 1.223

Diện tích (ha) Tỷ lệ %
Tổng diện tích đất nông nghiệp 9.510.529 100,00
5.960.336 62,67
4.026.213 67,55
Đất trồng cây hàng năm
- Đất lúa nớc
- Đất nơng rẫy
654.594 10,98
2.302.566 24,21 Đất trồng cây lâu năm
- Đất trồng cây công nghiệp lâu năm
1.618.251 70,28
Đất vờn tạp 615.899 6,48
Đất mặt nớc nuôi trồng thủy sản 589.111 6,19
(Nguồn: Tổng Cục Địa chính [25])
Nớc ta là nớc có diện tích tự nhiên xếp hàng thứ 59 trong tổng số 200

11
nớc trên thế giới, nhng có dân số xếp hàng thứ 13 trên thế giới. Theo thống
kê, bình quân đất đai trên đầu ngời của thế giới là 3,0 ha, úc là 52,4 ha,
Canada là 11,2 ha, Trung Quốc là 0,8 ha, còn Việt Nam là 0,43 ha [46]. Nh
vậy bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu ngời ở nớc ta chỉ bằng 1/7
bình quân diện tích đất trên đầu ngời của thế giới. Là một nớc có đa phần
dân số làm nghề nông, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu ngời nông
dân rất thấp là một trở ngại to lớn. Để vợt qua, phát triển một nền nông
nghiệp đủ sức cung cấp lơng thực, thực phẩm cho toàn dân và có một phần
xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, triệt để tiết kiệm đất, sử dụng
đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
2.1.4. Những định hớng chính trong sử dụng bền vững đất đồi núi ở
vùng núi phía Bắc
Hội nghị quốc tế về quản lý đất đồi núi tại Bắc Kinh kêu gọi: " một tiềm

áp dụng các biện pháp tổng hợp để phòng, chống xói mòn, trong đó mô
hình nông lâm kết hợp đợc xác định u tiên.
- Tập trung quy hoạch sản xuất ở các vùng thung lũng, lòng chảo,
đồi núi thấp thoải và ở các vùng trọng điểm có khả năng phát triển cây
công nghiệp, cây đặc sản, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc. Sử dụng có
hiệu quả các loại đất phù sa, đất đen, đất dốc tụ, đất nâu vàng trên phù sa
cổ để phát triển hoa màu, lơng thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Đối
với đất đồi núi dốc chú trọng khai thác tốt các loại đất trên đá vôi, đá
macma bazơ và trung tính, đá sét và biến chất ở những vùng phần nhiều
đất có tầng dày để trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây dợc
liệu và làm đồng cỏ chăn thả.
- Duy trì, cải thiện độ phì đất cho những diện tích có điều kiện
thâm canh ở vùng thung lũng, lòng chảo hoặc ruộng bậc thang, sử dụng
đi đôi với cải tạo và bảo vệ diện tích đất nông ngiệp hiện có trong vùng
đồng thời từng bớc khai thác thêm đất còn có khả năng phát triển nông
nghiệp.

13
2.2. Đánh giá sử dụng đất bền vững
2.2.1. Quan điểm sử dụng đất bền vững
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn, đất đai đã trở thành cơ
sở cần thiết cho sự sống và cho tơng lai phát triển của loài ngời.
Trớc đây, khi dân số còn ít để đáp ứng yêu cầu của con ngời việc
khai thác từ đất khá dễ dàng và cha có những ảnh hởng lớn đến tài nguyên
đất. Nhng ngày nay, mật độ dân số ngày càng tăng, đặc biệt là ở các nớc
đang phát triển thì vấn đề đảm bảo lơng thực cho sự gia tăng dân số đã trở
thành sức ép ngày càng mạnh mẽ lên đất đai. Diện tích đất thích hợp cho sản
xuất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt, con ngời phải mở mang thêm diện tích
canh tác trên các vùng đất không thích hợp cho sản xuất, hậu quả đã gây ra
quá trình thoái hoá đất một cách nghiêm trọng [49].

lai về cả số lợng, chất lợng và các sản phẩm nông nghiệp khác.
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống làm việc
tốt cho mọi ngời trực tiếp làm nông nghiệp.
- Duy trì và có thể tăng cờng khả năng sản xuất của các cơ sở tài
nguyên thiên nhiên và khả năng tái sinh sản xuất các nguồn tài nguyên tái tạo
mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái, không phá vỡ bản sắc
văn hoá xã hội của các cộng đồng ở nông thôn hoặc gây ô nhiễm môi trờng.
- Giảm tối thiểu khả năng bị tổn thơng trong nông nghiệp, củng cố
lòng tin cho ngời dân [29].
2.2.2. Đánh giá sử dụng đất bền vững
Để duy trì đợc sự bền vững của đất đai, Smyth A.J và Dumanski.J [49]
đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sử dụng đất bền vững là:
- Duy trì nâng cao các hoạt động sản xuất (hiệu quả sản xuất)
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá
đối với chất lợng đất và nớc (bảo vệ)

15
- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)
- Đợc chấp nhận của xã hội
Nh vậy, theo tác giả sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt
tự nhiên mà còn cả về mặt môi trờng, lợi ích kinh tế và xã hội. Năm nguyên
tắc trên đợc coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững là những mục tiêu
cần phải đạt đợc. Nếu thực tế mà diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu thì khả
năng bền vững sẽ đạt đợc. Nếu chỉ đạt một hay vài mục tiêu mà không phải
tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận [10].
Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất đợc
xem là bền vững thì phải đạt 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, đợc thị
trờng chấp nhận.

tại và phát triển đợc sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà
không huỷ diệt sự sống của trái đất [4].
Trong những thập kỷ gần đây, sự bùng nổ dân số và phát triển mạnh mẽ
của khoa học kỹ thuật đã làm biến đổi cảnh quan môi trờng, làm mất sự cân
đối nghiêm trọng giữa nhu cầu con ngời với khả năng cung cấp của tự nhiên,
đã làm cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có đất. Trong
sản xuất nông nghiệp, để đáp ứng những nhu cầu về lơng thực, thực phẩm
con ngời đã tìm mọi biện pháp để đất đai sản sinh ngày càng nhiều sản
phẩm, trong đó có cả những biện pháp có hại cho đất. Với việc sử dụng ngày
một tăng và không hợp lý các sản phẩm công nghiệp hoá nh phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật, hoá chất, chất tăng trởng đã làm cho đất đai bị thoái hoá,
không những thế còn kéo theo các thảm họa về môi trờng sinh thái nghiêm
trọng. Nhận thức đợc nguy cơ đó, thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm
ra một hớng đi thích hợp trong sử dụng đất nông nghiệp. Một trong những
quan điểm phổ biến hiện nay là phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Theo Rosemary Morrow thì nông nghiệp bền vững đợc xây dựng trên nền

17
tảng của sinh thái học, tức là sự nghiên cứu những mối liên hệ và tơng quan
giữa các cơ thể sống và môi trờng của chúng. Hiệu quả của một phơng pháp
mới là làm bền vững và phong phú hơn cho cuộc sống mà không gây suy thoái
môi trờng thiên nhiên và xã hội [21].
Các tác giả Bill Mollison và R.M. Slay trong cuốn Đại cơng về nông
nghiệp bền vững cho rằng: Nông nghiệp bền vững là sự thiết kế những hệ
thống định canh lâu bền. Đó là triết lý và một cách tiếp cận về sử dụng đất đai,
liên kết tiểu khí hậu, cây trồng hàng năm và lâu năm, vật nuôi, đất, nớc và
những nhu cầu của con ngời, xây dựng nên những cộng đồng chặt chẽ và có
hiệu quả[15].
Nghiên cứu về nông nghiệp bền vững, có thể thấy những nét chủ yếu là:
- Một hệ thống tạo ra những mô hình định canh lâu bền bằng cách kết

nhất. Song họ vẫn lu giữ hầu hết các truyền thống văn hoá và nông nghiệp
của mình [41]. Về canh tác và quản lý nơng rẫy trong mỗi bối cảnh văn hoá
đều sản sinh ra những phơng thức quản lý tài nguyên thể hiện qua các hệ
canh tác hay các phơng pháp sử dụng đất tơng ứng với nó: Ngời HMông ở
vùng cao núi đá Mèo Vạc - Đồng Văn sống ở một vùng đất đai hiếm hoi, nớc
nôi thiếu thốn, khí hậu khắc nghiệt. Môi trờng khó khăn ấy đã làm nảy sinh
một hệ canh tác rất độc đáo: thổ canh hốc đá cùng với ruộng màu [41]. Ngời
Dao ở vùng giữa Yên Bái có phơng thức luân canh rừng - rẫy nổi tiếng với
cây quế trong thời kỳ bỏ hoá. Dờng nh ngời Dao gắn bó với rừng nhiều
hơn, tuy họ cùng sống trên vùng đất dốc. Về canh tác trên đất dốc, nhờ đã
từng trải lâu đời trên mảnh đất của mình nên ngời dân miền núi vùng cao tích
luỹ đợc nhiều tri thức và kinh nghiệm trên cơ sở đó xây dựng các kỹ thuật
khai thác nguồn tài nguyên đất, nớc, khí hậu rất phù hợp với hoàn cảnh của
họ. Tính đa dạng và địa phơng hoá cao độ của các tri thức và kỹ thuật bản địa
làm cho chúng ta rất khó khái quát hoá chúng, vả lại việc khái quát hoá cao độ
sẽ làm mất tính địa phơng và cũng làm mất luôn giá trị ứng dụng của chúng

19
[24]. Nói chung ở miền núi, ruộng đợc cày bừa nhiều lần, nếu đã giầm thì
dùng trâu quần đảo nhiều lần cho rơm rạ trộn với bùn chóng hoai mục. Bờ
đợc làm rất công phu, vít kín lỗ thủng và là nhẵn, bảo đảm giữ nớc suốt vụ.
Trên ruộng cạn cây trồng đợc bón cả phân chuồng và cả rác hun khói. Còn
việc quản lý nuớc là một kỹ thuật rất thuần thục của cộng đồng ngời Dao và
ngời HMông ở phía Bắc. Mặc dù địa hình rất phức tạp nớc đợc dẫn vào
ruộng khá chủ động và tiết kiệm .
Việc chọn giống, để giống: đối với giống lúa, đồng bào dân tộc chọn
từng bông ngay tại ruộng để làm giống, và cất giữ riêng từng nơi cho nên
giống đã trồng vài vụ thì vấn đề để lẫn giống ít xảy ra Giống đợc cất giữ
trên gác cao, khô ráo quanh năm, thờng ở vị trí trên bếp lửa nên có độ ẩm rất
thấp và tránh đợc côn trùng. Nhờ vậy mà giống ít bị mọt, hạt đều và tỷ lệ nẩy

chọn đợc giống ngô chao đèn, đến mùa ngô chín các bắp ngô gập xuống và
các bẹ ngô xoè ra nh cái chao đèn che cho ngô không bị ớt và có thể để rất
lâu trên nơng. Và trên các hốc đá đó khi ngô sắp chín ngời ta trồng luân
canh đậu. Đậu lấy thân ngô làm giá leo. Đây là một phơng thức canh tác kết
hợp có trình độ cao, sử dụng rất hợp lý nguồn tài nguyên rất eo hẹp trên núi đá
vôi. Đồng bào HMông sống ở vùng Tây Bắc, canh tác nơng rẫy có thể
hoang sơ hơn, nhng cũng đã có những biện pháp sử dụng đất hợp lý và tiết
kiệm. Những năm đầu của chu kỳ canh tác, khi đất vừa khai phá còn mầu mỡ
đồng bào không cuốc lỗ gieo hạt mà mà vại nh gieo mạ. Bằng cách này mật
độ cây lúa sẽ cao hơn, chống đợc xói mòn, mà vẫn đủ dinh dỡng cho cây.
Vài ba năm sau khi đất bắt đầu nghèo đồng bào gieo vài mùa đậu. Đậu cho
năng suất cao, vừa cải thiện điều kiện đất [40].
Nhng cho đến nay cuộc sống của một số đồng bào vẫn phải đối mặt
với những khó khăn về cả vật chất lẫn tinh thần. Từ xa, đến nay n
ơng rẫy
vẫn là nguồn sống quan trọng của đồng bào miền núi vùng cao. Đây chính là
nơi xảy ra những tác động mạnh mẽ nhất giữa con ngời với sinh quyển.

21
Trong nông nghiệp, canh tác nơng rẫy là hình thái nông nghiệp cổ sơ nhất và
là hình thức tàn phá tài nguyên rừng. Đó là phơng thức đốt phá, là khởi đầu
của nền trồng trọt. Hiện nay nó vẫn còn phổ biến ở nhiều vùng dân tộc đặc
biệt là ở những nơi vùng cao biên giới. Việc canh tác nơng rẫy còn mang tính
quảng canh, nghĩa là họ trồng một thời gian sau đó tiến hành bỏ hoá. Trong
quá trình bỏ hoá, họ không bồi dỡng cho đất bằng bất kỳ hình thức nào, ngay
cả việc trồng cây phân xanh, chính vì thế mà đất đai rất khó hồi phục lại nh
trạng thái ban đầu. Trong những năm gần đây, do dân số tăng lên nhu cầu về
lơng thực của ngời dân vùng cao cũng tăng theo. Hầu hết các khu đất có
khả năng sản xuất nông nghiệp đều đã có chủ và đợc đa vào khai thác sử
dụng. Nên không có đất để mở rộng diện tích canh tác nữa, đòi hỏi họ phải

trên những vạt đồi mới khai phá, chính vì thế mà những cánh rừng ngày càng
bị thu hẹp, đất đai do bị xói mòn mà trở nên thoái hoá, diện tích đất trống đồi
núi trọc ngày một gia tăng.
Mấy năm trở lại đây, dới sự tác động của các chính sách do Đảng và
Nhà nớc ta đề ra, đặc biệt là các chính sách định canh định c, chính sách
giao đất, giao rừng trực tiếp đến từng hộ nông dân đã làm thay đổi tập quán
canh tác của bà con nông dân vùng cao. Họ đã ý thức đợc và đã chuyển từ
hình thức du canh, du c trớc đây sang hình thức định canh định c, góp
phần ổn định đời sống và giữ gìn cảnh quan môi trờng. Đối với ruộng lúa
nớc, hiện tại nhiều hộ gia đình đã sử dụng một số giống lúa mới, chủ yếu là
giống của Trung Quốc. Việc sử dụng giống lúa mới yêu cầu sử dụng nhiều
phân hóa học và thuốc trừ sâu hơn. Hiện có khoảng dới 50% hộ gia đình sử
dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu. Năng suất thu đợc từ giống lúa mới với
đầu t đủ phân hóa học và thuốc trừ sâu cao hơn 20 - 30%. Tuy nhiên, mỗi
năm ở đây vẫn chỉ canh tác đợc có một vụ.
Cây lơng thực chính trồng trên n
ơng rẫy trên núi cao là sắn. Sắn đợc
thu hoạch sau hai năm. Đôi khi ngời dân cũng trồng lạc và đậu, nhng đấy

23
cũng chỉ là trờng hợp hạn hữu. Đậu, lạc và rau thờng trồng xen trên đất
trồng chè hoặc trong vờn nhà.
Phơng thức sử dụng đất của các cộng đồng ngời Dao và ngời
HMông ở Sa Pa chủ yếu bao gồm việc xây dựng ruộng bậc thang và làm
nơng rẫy trồng sắn, ngô. Tại những nơi có đủ nguồn nớc cung cấp và đất
không dốc lắm, ruộng bậc thang lúa nớc đợc xây dựng. Cả hai nhóm dân
tộc này có kiến thức cơ bản về làm ruộng bậc thang và cách bảo vệ ruộng bậc
thang khỏi bị xói mòn và sạt lở, chủ yếu bằng cách lắp đặt hệ thống thoát
nớc bằng ống tre để duy trì nớc ở mức độ an toàn. Hiện nay, họ chỉ làm một
vụ trong một năm. Nơng rẫy đợc canh tác theo hình thức chọc tỉa: chọc lỗ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status