Đánh giá các mô hình sử dụng đất nông nghiệp cho thu nhập cao tại thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội - Pdf 20

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là thành phần quan
trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn bố trí các khu dân cư, xây
dựng các cơ sở kinh tế, an ninh quốc phòng. Do vậy, việc sử dụng đầy đủ và
hợp lý nguồn tài nguyên này nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, đem lại lợi ích
cho con người và cho toàn xã hội là điều hết sức quan trọng và cần thiết.
Đất đai rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Nó là tư liệu sản
xuất đặc biệt không thể thiếu, cho dù khoa học có phát triển đến đâu thì nó
cũng chỉ có thể tác động và là động lực để sử dụng đất có hiệu quả hơn, nếu
thiếu đất thì không thể tiến hành sản xuất nông nghiệp.
Nước ta là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở khu vực
nông thôn và trên 70% lao động sản xuất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước ta
đã xác định chiến lược phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong quá
trình tiến hành CNH-HĐH đất nước, đưa nước ta theo kịp sự phát triển của
thế giới. Nước ta với tổng diện tích đất tự nhiên là 32,9 triệu ha trong đó diện
tích đất nông nghiệp chỉ có 9,34 triệu ha (chiếm 28% tổng diện tích đất tự
nhiên). Bình quân đất tự nhiên cũng như đất nông nghiệp trên đầu người được
xếp vào loại thấp nhất thế giới do vậy việc xây dựng các mô hình sử dụng đất
nông nghiệp đạt hiệu quả cao đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho các nhà quản
lý cũng như các nhà khoa học.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh
tế, tốc độ đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm,
thách thức lớn đặt ra cho ngành nông nghiệp cũng như khu vực nông thôn là
làm thế nào với diện tích ngày càng bị thu hẹp như vậy nhưng vẫn tạo ra được
nhiều sản phẩm cho thu nhập cao đáp ứng được nhu cầu nông sản của xã hội.
1
Sau khi phát động phong trào xây dụng2 cánh đồng 50 triệu 1 ha của Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn, đã được đẩy lên phong trào xây dựng cánh
đồng thu nhập cao, hộ làm ăn giỏi, nhiều địa phương đã xây dung thành công
những mô hình sử dụng đất nông nghiệp cho thu nhập cao tại các vùng khác

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi về nội dung : Điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn toàn xã, trong đó tập trung chủ yếu vào
các mô hình sản xuất ở các hộ điển hình của xã.
Phạm vi về không gian: Địa bàn xã Trâu Quỳ- Gia Lâm-Hà Nội
Phạm vi về không gian
+ Thời gian nghiên cứu: Dùng các số liệu và thông tin từ năm 2004 đến
2006
+ Thời gian thực tập: Từ ngày 23/11/2007 đến ngày 20/3/2008
3
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Cơ sở lý luận về mô hình sản xuất
2.1.1.1. Khái niệm về mô hình sản xuất
Để nghiên cứu các hiện tượng, vấn đề kinh tế kinh tế xã hội, chúng ta
phải sử dụng phương pháp gián tiếp, trong đó các đối tượng nghiên cứu trong
hiện thực được thay thế bởi “hình ảnh” của chúng gọi là các mô hình. Đây là
phương pháp tiếp cận mô hình các đối tượng, các vấn đề kinh tế.
Phương pháp mô hình toán kinh tế với việc sử dụng lý thuyết quy hoạch
tuyến tính là phương pháp mang lại tính thuyết phục và hiệu quả trong việc
giải quyết vấn đề tối ưu.
Mô hình của một số đối tượng là sự phản ánh hiện thực khách quan của
đối tượng, sự hình dung, tưởng tượng đối tượng đó bằng những ý nghĩ của
những người nghiên cứu và việc trình bày, thể hiện, diễn đạt những ý nghĩ đó
bằng lời văn, sơ đồ, hình vẽ...
Mô hình của các đối tượng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế gọi là mô
hình kinh tế. Những vấn đề liên quan đến đối tượng này là những vấn đề hết
sức phức tạp, đặc biệt là những vấn đề đương đại. Để xây dựng mô hình kinh
tế cần thu thập sử dụng các thông tin về những công trình nghiên cứu có liên
quan, các dữ liệu đã được công bố và thậm chí phải sử dụng kiến thức của các

thuần tác động.
Sản xuất nông nghiệp của mỗi vùng là một hệ thống bao gồm nhiều
ngành sản xuất và nhiều nhân tố kinh tế xã hội tự nhiên và môi trường khác.
Mặt khác trong mỗi ngành lại bao gồm nhiều yếu tố rất phong phú và đa
dạng. Chính những điểm này là yếu tố thúc đẩy hay kìm hãm hệ thống phát
triển bởi vì nó có tác động trực tiếp đến từng nhân tố hệ thống.
Như vậy, mục đích của việc vận dụng quan điểm hệ thống là để nghiên
cứu một cách hệ thống và điều khiển sự hoạt động của nó. Nội dung của việc
điều khiển hệ thống nông nghiệp thực chất là sử dụng các biện pháp kinh tế –
kỹ thuật tác động lên hệ thống nông nghiệp và phát triển một nền nông nghiệp
bền vững.
* Hệ thống nông nghiệp (HTNN)
Khái niệm hệ thống nông nghiệp có từ thế kỷ 19, trải qua một quá trình
triển khai và thực nghiệm, từng bước đúc rút và bổ sung. Cho đến nay có các
định nghĩa sau về HTNN:
- Theo Vissac 1979: HTNN là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp
các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoản mãn các nhu
cầu. Nó biểu hiện sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học – sinh thái
mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội – văn hoá, qua các
hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật.
- Theo Mozoyes 1986: HTNN trước hết là một phương thức khai thác
môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sản xuất
thích ứng với các điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy.
6
- Theo Touve 1988: HTNN thích ứng với các phương thức khai thác
nông nghiệp của không gian nhất định do một xã hội tiến hành, là kết quả của
sự phối hợp các nhân tố tự nhiên, xã hội – văn hoá kinh tế và kỹ thuật.
Thực tế sự phát triển nông nghiệp trên thế giới cho thấy quá trình thay
đổi cơ bản nhất của HTNN là tiến hoá của hộ nông dân từ tình trạng sản xuất
tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá. Sự thay đổi theo hướng phát triển đó

trên một đơn vị diện tích đất canh tác trong một năm. Tóm lại nhằm xây dựng
một HTNN bền vững có hiệu quả kinh tế cao.
2.1.2. Hiệu quả kinh tế
2.1.2.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Mỗi nhà sản xuất một loại sản phẩm hàng hoá nào đó trước khi có kế
hoạch sản xuất đều suy nghĩ xem liệu sản xuất hàng hoá đó có tốt không? có
hiệu quả kinh tế hơn các hàng hoá khác không? Về phía người tiêu dùng cũng
vậy họ cũng luôn chọn cho mình loại hàng hoá phù hợp với túi tiền và sở thích
của mình. Mỗi một cách lựa chọn khác nhau đem lại những hiệu quả kinh tế
khác nhau và hiệu quả kinh tế là một vấn đề mà được toàn xã hội quan tâm.
Vậy hiệu quả kinh tế là gì? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu
quả kinh tế nhưng nhìn chung chúng ta có thể nói hiệu quả kinh tế là một
phạm trù kinh tế chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá
dịch vụ và với tất cả phạm trù, quy luật kinh tế khác. Mặt khác hiệu quả kinh
tế cũng là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh tế nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất
8
kinh doanh. Trong khi các nguồn lực rất có hạn, nhu cầu hàng hoá của xã hội
ngày càng tăng và đa dạng, nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách
quan của sản xuất.
Cụ thể đối với ngành nông nghiệp, hiệu quả kinh tế được hiểu là mối
tương quan so sánh với lượng hiệu quả thu được và lượng chi phí bỏ ra trong
một thời gian nhất định của một phương án sản xuất nhất định, hay một cây
trồng, một con gia súc nào đó đạt được trong tương quan so sánh tối ưu giữa
đầu vào và đầu ra trong điều kiện sản xuất khác nhau như điều kiện tự nhiên
kinh tế xã hội của ngành sản xuất nào đó. Khi xác định hiệu quả kinh tế chúng
ta cần xem xét và kết hợp chặt chẽ giữa lượng tuyệt đối với tương đối, qua đó
biết được tốc độ và quy mô sản xuất đó. Tuy nhiên trong điều kiện thị trường
hiện nay, mục tiêu hàng đầu của người sản xuất kinh doanh là thu nhập và lợi
nhuận cao, do vậy hiệu quả kinh tế trong sản xuất thiên hướng về mặt kinh tế

Quan điểm II: Hiệu quả kinh tế đo bằng hiệu số những giá trị sản xuất
đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
HQKT = KQSX – CPSX ( H = Q – K )
Quan điểm này cho phép xác định được các chỉ tiêu tuyệt đối của hiệu
quả kinh tế. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế theo quan điểm này thì phản ánh rõ nét
về qui mô sản xuất của các đơn vị kinh tế, cơ sở sản xuất nào có qui mô sản xuất
lớn sẽ đạt được tác động của từng yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh
doanh đến hiệu qủa sản xuất. Như vậy, các chỉ tiêu này sẽ không giúp cho người
sản xuất có những tác động cụ thể để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất kinh
doanh.
10
Quan điểm III: Xem xét hiệu quả kinh tế trong phần biến động giữa chi
phí và kết quả sản xuất. Như vậy, hiệu quả kinh tế biểu hiện ở tỷ lệ giữa phần
tăng thêm của chi phí để đạt được kết quả đó hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả
bổ sung và chi phí bổ sung.
H =
C
K


Trong đó H: Tỷ suất kết quả sản xuất bổ sung


C: Tổng chi phí bổ sung


K: Kết quả bổ sung.
Tỷ suất này giúp cho các nhà sản xuất xác định được điểm tối đa hoá
lợi nhuận. Trên cơ sở đó, các nhà sản xuất sẽ đưa ra những quyết định sản
xuất tối ưu nhất.

những khía cạnh phân biệt, nhưng đều thống nhất với nhau. Hiệu quả kinh tế
là lợi ích tối ưu mang lại của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh.
2.1.2.2. Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường ở nước ta
hiện nay đang khuyến khích các doanh nghiệp, các hộ gia đình và các thành
phần kinh tế khác nỗ lực tham gia sản xuất kinh doanh trong các ngành và các
lĩnh vực khác nhau.
Mục đích yêu cầu đặt ra đối với quá trình sản xuất ở các thành phần
kinh tế là khác nhau. Do vậy, việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
kinh tế cũng rất đa dạng. Các hộ nông dân, công nhân trong nông nghiệp họ
tiến hành sản xuất trước tiên là để đáp ứng nhu cầu việc làm có thu nhập đảm
bảo cuộc sống, sinh hoạt thường ngày sau đó mới tính đến lợi nhuận và tích
luỹ. Còn đối với các doanh nghiệp tư nhân tiến hành sản xuất nhằm tìm kiếm
12
cơ hội đầu tư tiền vốn để có thêm lợi nhuận.
Đối với một quốc gia thì hiệu quả nó còn thể hiện trên nhiều mặt: kinh
tế, xã hội, an ninh quốc phòng,….Điều đó có nghĩa là hiệu quả nó mang tính
chất không gian và thời gian, nó thể hiện ở chỗ: Một hoạt động kinh tế của
một đơn vị sản xuất là công ty hay cá thể có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao,
song so với một quốc gia thì nó lại chưa chắc đã đạt hiệu quả.
Để hiểu rõ vấn đề này, ta có thể xem xét một số vấn đề kinh tế xã hội
như việc chặt phá rừng làm nương rẫy, trên thực tế là đem lợi ích cho một cá
nhân, một tập thể nào đó nhưng điều đó có thể ảnh hưởng tới sinh thái môi
trường, gây lũ lụt, hoả hoạn,… vậy xét trên toàn xã hội thì đó lại là một tổn
thất, một gánh nặng lớn cho toàn xã hội.
Ngoài ra, hiệu quả kinh tế còn có tính chất về mặt thời gian. Nó luôn
luôn có xu hướng thay đổi một hoạt động kinh tế diễn ra ở hôm nay có hiệu
quả kinh tế cao song trong tương lai thì chưa chắc đã có hiệu quả và ngược
lại, bởi vì giá trị sức lao động ngày một tăng. Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả
kinh tế không chỉ là nhiệm vụ của một cá nhân, một đơn vị kinh tế mà còn là

hiệu quả” và “ kết quả” và mối quan hệ giữa chúng. Trong đó, kết quả là phần
vật chất thu được từ mục đích hoạt động của con người, nó được thể hiện bằng
nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tuỳ thuộc vào những trường hợp cụ thể. Do tính
mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài nguyên với nhu cầu không ngừng tăng
lên của con người, mà yêu cầu người ta phải xem xét kết quả đạt được tạo ra như
thế nào, chi phí bỏ ra là bao nhiêu… Chính vì vậy, khi đánh giá hoạt động sản
xuất kinh doanh người ta không chỉ dừng lại ở việc đánh giá chất lượng hoạt
14
động sản xuất kinh doanh để tạo ra kết quả đó. Việc đánh giá chất lượng hoạt
động sản xuất kinh doanh là một nội dung đánh giá hiệu quả kinh tế.
Trên phạm vi toàn xã hội các chi phí bỏ ra để thu được kết quả là chi
phí lao động xã hội. Vì vậy, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của lao
động xã hội. Từ đó ta có thể kết luận rằng: Thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm
hao phí lao động xã hội còn tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả
và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn lực nhất định.
2.1.2.3. Phân loại hiệu quả kinh tế
a) Phân loại hiệu quả kinh tế theo nội dung và bản chất
Hiệu quả kinh tế có thể xem xét theo các góc độ độc lập tương đối như sau:
+ Hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả đạt được về
mặt kinh tế với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, bao gồm: Bảo vệ môi
trường, lợi ích công cộng, trật tự an toàn xã hội,…
+ Hiệu quả kinh tế thể hiện sự phát triển của công ty, của vùng lãnh
thổ, của một quốc gia,… Đây là kết quả của nhiều yếu tố tổng hợp lại như
tình hình đời sống, trình độ dân trí, vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng, sự phát
triển sản xuất của cả vùng….
b) Phân loại hiệu quả kinh tế theo phạm vi và đối tượng xem xét
Phạm trù này được đề cập đến mọi đối tượng của nền sản xuất xã hội
như các địa phương, các ngành sản xuất, từng cơ sở, đơn vị sản xuất hay một
quyết định quản lý,… có thể phân loại phạm trù này như sau:
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là hiệu quả kinh tế chung trong toàn bộ

sánh trong quan hệ đối ngoại.
16
b) Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Để xác định các chỉ tiêu hiệu quả trước hết ta cần xác định các chỉ tiêu
của kết quả.
Kết quả kinh tế của nền sản xuất xã hội gồm nhiều chỉ tiêu và đầu vào
của nó cũng có nhiều chỉ tiêu. Vì vậy, hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã
hội được xác định bằng một hệ thống chỉ tiêu. Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo
các yêu cầu sau:
+ Phải đảm bảo tính toàn diện của hệ thống bao gồm chỉ tiêu tổng quát, chỉ
tiêu bộ phận, chỉ tiêu chính thức và chỉ tiêu bổ sung( tính hệ thống của chỉ tiêu).
+ Phải đảm bảo tính thống nhất nó thể hiện ở nội dung trong phương
pháp xác định tính toán các chỉ tiêu
+ Phải đảm bảo tính thiết thực trong nhận thức đời sống kinh tế xã hội
quản lý nền sản xuất cũng như các bộ phận cấu thành nên nó,
+ Phải phù hợp với chế độ tính toán thống kê, đặc điểm của từng giai
đoạn sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, đảm bảo tính chất
lịch sử cụ thể.
+ Chỉ tiêu phải phù hợp với nội dung, phương pháp tính toán quốc tế để
có thể so sánh hoà nhập với kinh tế thế giới trong phát triển kinh tế mở của
Đảng và Nhà nước.
Trong nền kinh tế vi mô quan điểm kinh doanh tư nhân được xuất phát
từ lợi ích riêng của từng công ty, xí nghiệp nên hiệu quả sản xuất tức là mức
độ lợi nhuận. Phạm vi chi phí để đạt được hiệu quả trong sản xuất không phải
là toàn bộ chi phí lao động xã hội nói chung mà là chi phí cá biệt. Đối với nhà
doanh nghiệp, lợi ích thực tế không phải là kết quả của chi phí xã hội mà chỉ
17
là kết quả của những chi phí cá biệt mà họ bỏ ra.
Trong nền kinh tế vĩ mô, yêu cầu cơ bản đặt ra khi xác định hiệu quả là
phải tính tới kết quả hữu ích của nền kinh tế quốc dân. Phải xuất phát từ lợi

→ Max(2a) H =
Q
CF


→ Min(2b)
Trong đó :
H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả sản xuất
CF: Chi phí sản xuất
* Từ các quan điểm về các chỉ tiêu kết quả thu được từ sản xuất kinh
18
doanh và phí bỏ ra ta có thể đưa ra các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế qua bảng sau:
Bảng 1: Các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế
Chỉ tiêu
Tổng giá trị
sản xuất
(GO)
Giá trị
tăng(VA)
Lợi
nhuận
( Pr)
Phần tăng
kết quả(

Q)
Tổng chi phí ( TC)
GO/ TC VA/TC Pr/TC
Chi phí vật chất( VC)

19
N
D
= GO( N)/ D( CT)
Trong đó : GO( N) là giá trị sản xuất nông nghiệp
D (CT) là diện tích canh tác sử dụng trong sản xuất nông nghiệp
+ Thu nhập bình quân đầu người
+ Suất hao phí vật tư nguyên liệu
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Trên thế giới viện nghiên cứu nông nghiệp các nước hàng năm đã đưa
ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới, những công thức luân canh mới,
những mô hình sản xuất mới. Đặc biệt các viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI)
cũng đã đóng góp nhiều thành tựu về giống và hệ thống canh tác trên đất
trồng lúa. Tạp chí “Farming Japan” của Nhật ra hàng tháng đã giới thiệu
nhiều công trình nghiên cứu của Nhật.
Xu hướng chung trên thế giới hiện nay là các nhà khoa học nông
nghiệp đang tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hệ thống giống cây
trồng vật nuôi có năng suất cao vào sản xuất nhằm tăng giá trị trên 1 đơn vị
diện tích trong 1 năm. Ví dụ ở Châu âu đã đưa chế độ luân canh 4 năm, 4 khu
với hệ thống cây trồng gồm: khoai tây, cây củ quả, ngũ cốc mùa xuân, cây có
3 lá và ngũ cốc mùa đông vào thay thế chế độ luân canh 3 năm, 3 khu với hệ
thống cây trồng chủ yếu là ngũ cốc – ngũ cốc – bỏ hoá làm cho năng suất ngũ
cốc tăng gấp 2 lần và sản lượng lương thực, thực phẩm trên 1 ha tăng gấp 4
lần. Ở Châu á trong những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ trước đã đưa
các cây hoa màu trồng cạn vào hệ thống cây trồng trên đất lúa đạt hiệu quả
cao.
Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp được phát triển mạnh
mẽ ở các nước trên thế giới, đặc biệt là ở Châu á như Đài loan, Hàn Quốc,
20

phía bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long…
Trong những năm gần đây chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng
bằng sông hồng VIE/89/023 cũng đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa
dạng hoá nông nghiệp đồng bằng sông Hồng. Trong đó nội dung quan trọng
là phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi để nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp từ 1993-2010.
Các công trình nghiên cứu của Lê Trọng Cúc (1971), Nguyễn Ngọc
Bình (1987), Lê Duy Thước (1991), Lê Thanh Hà (1993), Lê Đình Sơn
(1993)...đã đề cập tới hệ thống cây trồng trên đất dốc cho phép nâng cao năng
suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta. Trong những năm
gần đây, do tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường đã xuất hiện những mô
hình sử dụng đất nông nghiệp mới, những công thức luân canh mới đạt hiệu
quả kinh tế cao trên từng vùng sinh thái.
Trên vùng sinh thái gò đồi đã xuất hiện những mô hình nông lâm kết
hợp, mô hình vườn đồi kết hợp với cây trồng lâu năm với cây trồng ngắn
ngày, mô hình trang trại VAC quy mô lớn, mô hình chăn nuôi lớn. Ở vùng
đồng bằng sông hồng đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3 – 4 vụ
1 năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái gần ven đô, tưới
tiêu chủ động đã bố trí lại hệ thống cây trồng, vật nuôi và đưa vào các loại cây
trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao như gà thịt, lợn hướng nạc, hoa, rau
sạch... cho giá trị sản lượng bình quân đạt trên 50 triệu đồng/ha trong 1 năm.
Trên những vùng sinh thái không thuận lợi đã lợi dụng những lợi thế so sánh
trên từng chân đất để phát triển mô hình kết hợp giữa trồng trọt và nuôi trồng
22
thuỷ sản, đưa vào những giống cây trồng có khả năng chống chịu chua mặn,
nhằm nâng cao năng suất cây trồng.
Trong những năm gần đây phong trào chuyển đổi diện tích đất nông
nghiệp để chuyển sang làm kinh tế theo kiểu trang trại đang phát triển mạnh
mẽ trên địa bàn toàn quốc. Cùng với sự giúp đỡ của các cơ quan nghiên cứu,
các địa phương trong cả nước đã xây dựng được các trang trại kiểu mẫu có

Ninh ngày xưa. Trước Cách Mạng Tháng 8 – 1945, phần lớn là dân tá điền
nghèo khó làm thuê, cấy mướn cho đồn điền Mácty, chủ yếu là dân Hà Nam,
Hưng Yên và một số tỉnh khác cùng nhau sinh cơ lập nghiệp sống rải rác trên
9 thôn và một phố Trâu Quỳ. Hoà bình lập lại dưới sự lãnh đạo của Đảng và
nhà nước, với chính sách giao đất cho người nông dân, cuộc sống cũng đỡ vất
vả khó khăn hơn. Qua quá trình cải tạo xã, hệ thống sông ngòi mương máng,
thuỷ nông tương đối hoàn chỉnh, đất đai trù phú rất phù hợp cho phát triển cây
nông nghiệp và nuôi trồng các loại cây, con giống. Ngày nay, Trâu Quỳ là
một xã phát triển tương đối toàn diện và là 1 xã điển hình về phát triển kinh tế
của khu vực ngoại thành TP Hà Nội, ngày 01/04/2005 xã Trâu Quỳ đã được
công nhận là một thị trấn và có thể nói Trâu Quỳ sẽ là trung tâm của huyện
Gia Lâm.
3.1.2. Điều kiện tự nhiên
3.1.2.1. Vị trí địa lý
Trâu Quỳ là một xã nằm giữa trung tâm của huyện Gia Lâm cách thủ
đô Hà Nội 3 km về phí đông bắc. Hiện nay xã có tất cả là bảy thôn và hai phố
với vị trí tiếp giáp của xã như sau :
Phía Bắc giáp xã Cổ Bi, Đặng Xá, Phú Thị
Phía Nam giáp xã Đa Tốn, Đông Dư
Phía Tây giáp xã Cự Khối, Thạch Bàn
Phía Đông giáp xã Dương Xá, Kiêu Kỵ
25

Trích đoạn Các yếu tố kỹ thuật Tiềm năng về đất đa Tiềm năng phát triển kinh tế xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status