LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng công bố trong
các luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu khoa học trước đây.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn được sử dụng trong luận
văn đều được ghi rõ nguồn gốc, đảm bảo trích dẫn theo đúng quy định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Phan Diệu Hoa
1
1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình hoàn thành báo cáo này ngoài những nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận được những sự giúp đỡ hết sức tận tình và quý báu từ
nhiều tập thể và cá nhân.
Trước hết tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô
giáo ths. Dương Thị Huyền - Công tác tại bộ môn Sinh Thái Nông Nghiệp Khoa Môi Trường - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã trực tiếp hướng dẫn,
tận tình chỉ bảo và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành báo cáo.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các cán bộ thuộc Hợp Tác
Xã Trâu Qùy, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực tập tại Thị
Trấn Trâu Qùy.
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các Thầy cô
giáo trong Khoa Môi Trường - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình
dậy dỗ, chỉ bảo và truyền cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời
gian tôi theo học tại trường.
Biểu 1: Cơ cấu hộ của thị trấn Trâu Quỳ năm 2013
Biểu 2: Thời điểm phun thuốc38
5
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV
Bảo vệ thực vật
HCBVTV
Hóa chất bảo vệ thực vật
UBND
Ủy ban nhân dân
SXNN
Sản xuất nông nghiệp
N%
Hàm lượng đạm tổng số
P2O5%
1.1 Đặt vấn đề
Bước vào thế kỷ 21, với sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thế giới,
nền kinh tế Việt Nam đang ngày một đi lên sánh vai với các cường quốc trên
thế giới. Sự chuyển đổi mạnh sang nền kinh tế thị trường cùng với việc mở
mang các khu công nghiệp đã và đang nảy sinh vấn đề trong an ninh lương
thực. Bên cạnh đó, sự bùng nổ dân số trong những năm qua đã làm tăng sức
ép lên các vùng đất nông nghiệp làm diện tích đất nông nghiệp đang ngày một
thu hẹp. Vậy làm thế nào để đáp ứng đủ nhu cầu của con người đang là một
vấn đề đặt ra cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Một trong những
biện pháp đó là sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất.
Trong vài thập kỷ gần đây năng xuất cây trồng không ngừng tăng lên, không
chỉ có sự đóng góp to lớn của công tác giống mà còn có vai trò quan trọng của
phân bón. Giống mới chỉ phát huy được tiềm năng năng xuất khi được bón
phân đầy đủ và cân đối. Sự ra đời của phân bón đã làm năng xuất cây trồng
của các nước Tây Âu tăng 50% so với luân canh với cây họ đậu. Theo FAO
(1989), cứ mỗi tấn dinh dưỡng sẽ sản xuất được 10 tấn ngũ cốc.Bón phân đầy
đủ và cân đối không những làm tăng năng suất mà còn tăng chất lượng sản
phẩm . Theo Phùng Minh Phong (2002) nhờ sử dụng HCBVTV mà ít nhất
20% sản phẩm nông nghiệp ở các nước phát triển và 40-50% ở các nước
chậm phát triển không bị phá hoại bởi các loại côn trùng, vi sinh vật gây bệnh
và cỏ dại.
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây trồng cung cấp nguồn
lương thực quan trọng nhất của loài người, với 40% dân số thế giới sử dụng
lúa gạo làm thức ăn chính và có ảnh hưởng đến đời sống của ít nhất 65% dân
số thế giới. Ở Việt Nam, lúa phải đảm bảo an ninh lương thực cho gần 90
triệu dân và đóng góp vào việc xuất khẩu gạo. Năm 1997 Việt Nam đã trở
thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Có được thành tựu trên
là nhờ biết ứng dụng tiến bộ khoa học vào trong sản xuất và sự thay đổi cơ
chế chính sách quản lý của nhà nước.
7
tại thị trấn Trâu quỳ
Đề xuất một số giải pháp sử dụng hợp lý phân bón, thuốc BVTV nhằm
bảo vệ môi trường tại địa phương.
Đánh giá được ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV
trong sản xuất lúa tới môi trường đất nông nghiệp tại thị trấn Trâu Qùy.
8
8
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sử dụng phân bón
2.1.1 Những khái quát chung về phân bón
2.1.1.1 Khái niệm
Phân bón là các chất hữu cơ hoặc vô cơ chứa các nguyên tố dinh dưỡng
cần thiết cho cây trồng, được bón vào đất hay hòa vào nước phun, xử lý hạt
giống, rễ và cây con nhằm tăng năng xuất và cải thiện chất lượng nông sản.
2.1.1.2 Phân loại phân bón
Phân vô cơ: Phân vô cơ hay phân hóa học là các loại phân có chứa yếu
tố dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng ( vô cơ) thu được nhờ các quá trình vật
lý, hóa học. Một số phân bón vô cơ thông dụng hiện nay:
Phân đạm vô cơ gồm có:
•
•
•
Phân Urea [CO(NH2)2] có 46%N
Phân đạm Sunphat còn gọi là đạm SA [(NH4)2SO4] chứa 21%N
Phân Clorua Amon [NH4Cl] có chưá 24-25%N
Phân Lân:
dưỡng vô cơ cho cây trồng thông qua quá trình hấp thụ của bộ rễ. Nhưng cấu
tạo đất không giống nhau, đất ở mỗi vùng khác nhau. Vì vậy cải tạo đất chính
là bổ sung chất dinh dưỡng vào trong đất để cho cây trồng hấp thụ chất dinh
dưỡng nuôi thân cây, lá, hoa quả một cách phù hợp, làm cho cây trồng phát
triển tốt và sản phẩm đạt năng suất cao.
Việc bón phân hợp lý cho cây trồng vừa nhằm đạt năng suất cây
trồng cao thoả đáng với chất lượng tốt, hiệu quả sản xuất cao,
đồng thời để ổn định và bảo vệ được đất trồng trọt. Bên cạnh đó
bón phân còn có thể làm môi trường tốt hơn, cân đối hơn.
- Phân hữu cơ và vôi là các phương tiện cải tạo môi trường đất toàn
diện và hiệu quả:
+ Phân hữu cơ về lâu dài có tác dụng làm cho đất có điều kiện tích luỹ
nhiều mùn, dinh dưỡng, nâng cao độ phì của đất, cải thiện tính chất lý, hoá
sinh của đất trên cơ sở đó có thể tăng lượng phân hoá học để thâm canh đạt
hiệu quả cao.
+ Bón vôi có tác dụng cải tạo hoá tính, lý tính, sinh tính, giúp cây có
thể hút được nhiều dinh dưỡng từ đất, tạo môi trường pH thích hợp cho cây
trồng hút thức ăn cũng như sinh trưởng và phát triển...
-Bón phân hoá học: với liều lượng thích đáng làm tăng cường hoạt
động của vi sinh vật có ích, do đó làm tăng cường sự khoáng hoá chất hữu cơ
có sẵn trong đất, chuyển độ phì tự nhiên của đất thành độ phì thực tế.
+ Bón lân làm tăng cường độ phì một cách rõ rệt, đồng thời lại đảm bảo
giữ cho đất khỏi bị hoá chua, vì hầu hết các loại phân lân thông thường đều có
chứa một lượng canxi cao.
+ Bón kali có tác dụng cải tạo hàm lượng kali cho đất và tăng cường
hiệu quả của phân kali bón về sau.
10
Mật độ gieo trồng và chế độ bón phân có quan hệ rất mật thiết và
phức tạp, phải được xây dựng một cách thích hợp đối với mỗi cây.
-
Tưới tiêu: Đất được tưới tiêu chủ động làm tang hiệu quả phân
bón, có khả năng bón nhiều phân để đạn hiệu quả sản xuất cao hơn. Yêu cầu
về phân bón ở các vùng có tưới và không tưới khác nhau. Đồng thời phân bón
làm giảm lượng nước cần thiết để tạo nên một đơn vị chất khô nên tiết kiệm
được lượng nước cần tưới.
-
Trong công tác bảo vệ thực vật: bón phân cân đối và hợp lý là cơ
sở quan trọng cho việc quản lý dịch hại tổng hợp đạt hiệu quả tốt tạo cho cây
trồng khỏe mạnh ít sâu bệnh hại, giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật, đem lại
thu nhập cao cho người trồng trọt. Các loại phân lân và kali còn có tác dụng
làm tang tính chống chịu( chịu hạn, chịu rét) cho cây.
Vậy: có thể dung chế độ bón phân tốt để khắc phục những nhược điểm
của kỷ thuật trồng trọt. Ngược lại, các biện pháp kỹ thuật khác cũng ảnh
hưởng đến hiệu lực của phân bón.(theo Nguyễn Văn Bộ, 2003- giám đốc viện
11
11
khoa học Việt Nam bón phân không cân đối làm giảm 20-50%, kỹ thuật gieo
cây kém và thời vụ gieo cây không thích hợp làm giảm 20-40%, kỹ thuật làm
đất kém và chế độ nước không hợp lý làm giảm 10-20%).
Nam
2.1.3.1 Trên thế giới
Thực trạng sản xuất và sử dụng phân hóa học
Phân bón là một yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp, từ
khi biết sản xuất nông nghiệp loài người đã biết sử dụng phân bón và cây họ
đậu để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Trong mấy thập kỷ vừa qua, năng
suất cây trồng không ngừng được tăng lên, ngoài vai trò của giống mới còn
có tác dụng quyết ðịnh của phân bón. Giống mới chỉ phát huy ðýợc tiềm nãng
của mình – cho năng suất cao khi được bón đủ phân và hợp lý.
12
12
Theo FAO (2008), dự báo nhu cầu phân bón trong các năm 2008-2009
sẽ tăng 1,9% trong đó đạm tăng 1,4%, lân tăng 2,0% và kali tăng 2,4% nhưng
thực tế th́ trong giai đoạn này lượng phân bón tiêu thụ toàn cầu lại giảm
mạnh, cùng với khủng khoảng kinh tế tại nhiều nước. Mức tiêu thụ phân bón
đạt gần 173 triệu vào năm 2007, sau đó giảm mạnh xuống còn 155,3 triệu tấn
vào năm 2008/2009 và tăng trở lại từ cuối năm 2009 lên 163,5 triệu tấn, đạt
172,6 triệu tấn năm 2010/2011 và 176,8 triệu tấn năm 2011/2012 (Bảng 2.1).
Bảng 2.1: Lượng phân bón tiêu thụ toàn cầu
Đơn vị: triệu tấn
Năm
2007/2008
2008/2009
2009/2010
2010/2011
thụ phân bón lớn nhất, tiếp đến Ấn Độ, Mỹ, Braxin…nhóm 10 nước này
chiếm trên 74% sản lượng tiệu thụ toàn cầu(Bảng 2.2).
Bảng 2.2: Nhóm 10 nước tiêu thụ phân bón lớn nhất toàn cầu năm
2010/2011
Đơn vị: triệu tấn
Nước
Trung
Quốc
Ân Độ
Mỹ
Indonesia
Pakistan
Braxin
Pháp
Canada
Đức
Nga
Tổng cộng
N
34,10
16,15
11,93
3,35
2,93
2,70
2,12
1,94
1,70
Trung Quốc
Mỹ
Braxin
Ân Độ
Indonesia
Malaysia
Pháp
Đức
Nga
Canada
K2O
5,30
4,26
3,80
3,80
1,05
1,00
0,48
0,38
0,35
0,32
20,73
Nước
Trung
Quốc
Ấn Độ
Mỹ
Braxin
phí quá nhiều ngoại tệ để nhập khẩu phân bón vô cơ ,trên thế giới hiện nay sử
dụng phân bón hữu cơ và phân bón hóa học .
Thực trạng sản xuất sử dụng phân hữu cơ trên thế giới
Hiện nay các nước trên thế giới đang quan tâm đến việc sử dụng phân
hữu cơ bao gồm phân chuồng, phân ủ, phân xanh các loại và phân vi sinh.
Ấn Độ hàng năm sản xuất khoảng 286 triệu tấn phân ủ (compost) từ
các chất thải nông thôn và thành phố ước tính tương đương 3,5-4,0 triệu tấn
NPK. Có khoảng 6,7 triệu ha cây phân xanh, mỗi ha thu được tương đương
40-50 kg N. Ước tính thu được 0,3 triệu tấn N.(Theo FAO 1990)
Trung quốc sử dụng phân hữu cơ từ nguồn phân xanh, phân chuồng,
rơm rạ, khô dầu. Ước tính tương đương 9,8 triệu tấn NPK nguyên chất. Phân
sinh học sử dụng cho 1ha tương đương 65kg (N+P2O5+K2O).
Cả hai nước Trung Quốc và Ấn Độ có truyền thống sử dụng phân sinh
học, sau nhiều năm gần đây cũng rút ra kết luận: dinh dưỡng từ phân hữu cơ
không đáp ứng đủ nhu cầu cho cây trồng đạt năng xuất cao, mà phải dùng
phân bón hóa học bổ sung.
2.1.3.2 Ở Việt Nam
Thực trạng sản xuất và sử dụng phân bón hóa học
Theo số liệu của vụ Khoa Học Công Nghệ và chất lượng sản phẩm –
Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, hiện có khoảng 1420 loại phân
bón gồm 6 nhóm chính:
Bảng 2.3 : các loại phân bón hóa học được sử dụng ở Việt Nam
Nhóm
1
2
thị trường khá nhiều chưa kiểm soát được (theo PGS. TS. Nguyễn Kim Vân,
Hội Khoa học Kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam). Nhóm phân bón NPK
( thành phần chủ yếu là nito, photpho và kali) được bà con nông dân sử dụng
nhiều trong sản xuất nông nghiệp vì có giá thành rẻ, hầu như thích hợp với tất
cả các loại cây trồng( tất cả các loại cây trồng đều không thể thiếu N, K, P),
hiệu quả mang lại cao, giúp cây trồng hấp thụ các chất dinh dưỡng tốt hơn.
Loại phân hữu cơ khoáng (79 loại) là loại phân bón được sản xuất từ
phân hữu cơ chế biến công nghiệp hoặc hữu cơ sinh học trộn thêm một hoặc
một số yếu tố dinh dưỡng vô cơ, trong đó có ít nhất một yếu tố dinh dưỡng vô
cơ đa lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Loại phân trung lượng-vi sinh(60 loại) gồm :
•
Phân trung lượng
Là loại phân chứa một loại chất dinh dưỡng chính mà cây trồng sử
dụng với lượng trung bình như: Canxi (Ca), Magiê (Mg), Lưu huỳnh (S) và
Silic (SiO2).
•
Phân vi lượng
Là loại phân chưa những yếu tố dinh dưỡng mà cây trồng sử dụng với
lượng ít gồm: sắt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), bo (B), môlipđen (Mo) mangan
(Mn) và clo (Cl);...Phân vi lương tuy cây trồng cần một lường rất nhỏ nhưng
lại ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây và đặc
biệt là chất lượng của nông sản phẩm vì vậy cần lưu ý bổ sung đầy đủ các yếu
tố vi lượng cho cây để đảm bảo năng suất và tăng tính cạnh tranh cho nông
sản phẩm.
Loại phân vi sinh vật (20 loại) là sản phẩm chứa vi sinh vật (VSV)
sống, đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông
các biện pháp thuỷ nông thích hợp).
Tuy nhiên với Việt Nam, đất sản xuất nông nghiệp nói chung và đất sản
xuất cây lương thực cây thực phẩm nói riêng không những không tăng mà còn
đang giảm đi nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Trong giai đoạn
năm 2000 - 2007, diện tích đất trồng lúa đã giảm đi 361.935 ha(Báo Nông
nghiệp Việt Nam, 11/07/2008). Còn theo báo cáo của các địa phương, từ 2004
đến 2009 thì 29 ngàn dự án đã thu hồi gần 750.000 ha, trong đó trên 80% là
đất nông nghiệp(thời báo kinh tế VN,15/5/2009)Việc mở rộng diện tích canh
16
16
tác gần như là không thể, cả nước hiện chỉ còn 327 ngàn ha đất bằng chưa sử
dụng ( Báo cáo: Hiện trạng sử dụng đất đến 31/12/2010. Viện QHTKNN,
2011) song phần lớn lại nằm vùng ven biển, hoặc nhiễm mặn hoặc là cồn cát
nên khai thác cho nông nghiệp rất khó khăn. Việc tăng vụ cũng không khả
thi, nhiều nơi đã trồng 2-3 vụ lúa/năm; một số vùng trồng rau màu đã đạt 4-5
vụ/năm. Hệ số sử dụng đất đã tăng từ 1,49 năm 1990 lên 1,92 năm 2007
(Theo niên giám thống kê, 2010). Do vậy, giải pháp gần như duy nhất để tăng
sản lượng chỉ có thể là tăng năng suất thông qua thâm canh, mà trước hết là
sử dụng phân bón. Có thể thấy ngay rằng sản lượng nhiều loại cây trồng ở
Việt Nam tăng đáng kể trong thời gian qua (nhất là cây lương thực) chủ yếu là
do năng suất cây trồng tăng. Lấy 4 cây trồng đại diện cho 2 nhóm cây lương
thực và cây công nghiệp, có diện tích lớn và tiêu thụ nhiều phân bón để làm ví
dụ, đó là cây lúa, ngô, cà phê và chè. Bốn cây trồng này phủ 9,65 triệu ha gieo
trồng (chiếm 66% tổng diện tích gieo trồng cây nông nghiệp) và tiêu thụ gần
90% lượng phân bón toàn quốc (Phụ lục 1). Tính từ 1921-2012 (91 năm),diện
tích gieo trồng lúa tăng 1,64 lần, sản lượng tăng 7,07 lần, trong đó năng suất
tăng 4,35 lần. Với các cây trồng khác cũng có chung qui luật: Ngô năng suất
1,64
337
1.140
3,38
119
614
5,15
17
Năng suất
(tấn /ha)
1,31
5,66
4,35
1,15
4,32
3,75
0,77*
2,22*
2,88
Sản lượng
(1000 tấn)
6.211
43.965
7,07
387
4.925
12,7
92
tăng năng suất.
Có 3 con đường để tăng năng suất, đó là:
•
•
•
Cải thiện giống.
Tăng cường đầu tư, trong đó chủ yếu là hệ thống thủy lợi và phân bón
Cải tiến kỹ thuật canh tác.
Với Việt Nam, chúng tôi cho rằng phân bón đóng góp cao hơn bởi vì
trong 40 năm (1970-2010), năng suất lúa (Cây trồng chiếm đến 33 triệu ha tại
Trung Quốc) tăng có 1,92 lần còn ở Việt Nam tăng tương ứng 2,66 lần (Bảng
5). Tốc độ tăng năng suất của Việt Nam cao hơn trung bình của thế giới và
hầu hết các nước trồng lúa (Bảng 2.5, Phụ lục 3).
18
18
Bảng 2.5: Sử dụng phân hoá học và năng suất lúa tại một số nước
Nước
Kg N+P2O5+K2O/ha canh tác
Năng suất lúa, tạ/ha
Trung
1970
6,71
6,51
Quốc
Thái
6,6
16,7
59,7
133,4
2,02
1,89
1,96
2,61
2,88
Lan
Việt
55,2
phân bón ở Việt Nam – Nguyễn Văn Bộ- giám đốc Viện Khoa Học Nông
Nghiệp Việt Nam). Năng suất và sản lượng các cây trồng chính tại Việt Nam
có mối quan hệ chặt chẽ với lượng phân bón sử dụng. Quy luật tương tự cũng
xảy ra với các nước trồng lúa chủ yếu ở khu vực châu Á (Bảng 2.5và2.6).
Một điều lý thú là, những nước có nền thâm canh sớm như Nhật Bản, Hàn
Quốc đều đã sử dụng phân bón rất cao, đạt 300 - 400 kg N+P 2O5 +K2O /ha
canh tác từ những năm 70-80 của thế kỷ 20. Hàn Quốc đã từng bón 418 kg
chất dinh dưỡng/ha canh tác cách đây 23 năm, khi đó lượng bón của Việt
Nam mới chỉ đạt 104 kg/ha. Tuy nhiên các nước thâm canh sớm như Nhật
Bản, Hàn Quốc lại đang giảm nhanh lượng phân bón sử dụng/ha canh tác.
Một phần do chi phí cao, song phần lớn do công nghệ phân bón và kỹ thuật
19
19
bón phân được cải thiện nên hiểu quả sử dụng tang và có thể giảm lượng bón.
Lượng bón của Việt Nam năm 2010 thuộc loại cao trên thế giới, song chúng
ta có hệ số sử dụng đất đạt gần 2 lần, do vậy, thực chất lượng dinh dưỡng bón
cho cây trồng cũng chỉ khoảng 200kg N+P2O5 +K2O /ha/vụ. Lượng bón của
Thái Lan hiện thuộc loại thấp, chủ yếu do nước này có trên 10 triệu ha lúa sử
dụng giống chất lượng cao nên không chịu thâm canh.
Bảng 2.6: Sử dụng phân bón và năng suất cây trồng ở Việt Nam.
Đơn vị: 1000 tấn N+P2O5 +K2O
Năm
1961
1965
1970
1975
1.224
2.267
1.985
2.582
2.935
2.774
3.116
1,34
1,90
2,01
2,12
2,08
2,78
3,19
3,68
4,24
4,89
5,34
5,53
5,66
422
1,15
1,10
1,48
1,55
2,11
2,75
3,60
1,97
255**
2,01
2,43
2,41
2,71
3,58
4,51
6,42
7,03
7,80
388***
1961,%
* So với năm 1970; ** So với 1990 và *** so với 1980
Nguồn: IFA, 2012;( Số liệu thống kê Việt Nam thế kỷ 20), cuốn 1,2.
NXB Thống kê, năm 2004. Niên giám thống kê hàng năm. Báo cáo tổng kết
Bộ Nông nghiệp và PTNT
Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm
trước đây do người dân áp dụng được nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm
canh. Theo Nguyễn Văn Bộ (Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
(VAAS) ), mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn đạm, 456.000 tấn lân và
20
20
402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62%. Song do điều kiện khí hậu
còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy được 30%
21
21
Phân bón chính là những loại hóa chất nếu được sử dụng đúng theo
quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự màu mỡ cho đất
đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người và gia súc. Ngược lại
nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong
những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi
trường sống.
Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI) số liệu
tính toán trong lĩnh vực nông hóa học ở Việt Nam, hiện nay hiệu xuất sử dụng
phân đạm mới chỉ đạt được từ 30-45%, lân từ 40-45%, kali từ 40-50%, tùy
theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp bón, loại phân bón...
Như vậy, c̣n 60-65% lương đạm tương đương với 1,77 triệu tấn ure, 55-60%
lượng lân tương đương 2,07 triệu tấn supe lân và 55-60% lượng kali tương
đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua được bón vào đất nhưng chưa được cây
trồng sử dụng.(theo báo Nông Nghiệp Việt Nam 12/7/2013)
Trong số phân bón chưa được cây trồng sử dụng, một phần còn lại ở
trong đất, một phần được rửa trôi theo nước mặt do mưa, theo các công trình
thủy lợi ra các ao, hồ, sông, suối gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Một phần bị
rửa trôi theo chiều dọc xuống tầng nước ngầm và một phần bị bay hơi do tác
động của nhiệt độ hay quá trình phản nitrat hóa gây ô nhiễm không khí. Trong
số đó phân do sản xuất lúa gây ra đối với việc ô nhiễm môi trường là vấn đề
đáng được quan tâm nhất, vì hàng năm một lượng lớn phân bón được dành
cho sản xuất lúa.
Theo FAO, những vấn đề toàn cầu 2000-2020: Diện tích đất canh tác
chỉ có thể tăng 4%, trong khi đó 45 năm qua 11% diện tích đất trên hành tinh
bị tàn phá, gần 2 tỷ hecta đất đai mất đi thảm thực vật, 30% đất bị xói mòn...
Ảnh hưởng tới khí quyển
Ngoài những ảnh hưởng của công nghiệp, giao thông,.... hoạt động
nông, lâm nghiệp có ảnh hưởng không nhỏ tới khí quyển. Hiệu ứng lớn nhất
mà nông, lâm nghiệp tác động vào khí quyển là các khí thải CO, NO, CH4.
Làm thay đổi tính chất vật lý của đất
Bón phân hóa học liên tục trong nhiều năm sẽ dẫn tới hàm lượng mùn
trong đất giảm xuống, phá vỡ kết cấu viên của đất. Bởi vì kết cấu viên đất
được hình thành do sự gắn kết các hạt đất lại với nhau bởi các axit mùn như
humic và fulvic. Kết cấu viên đất bị phá vỡ sẽ làm cho đất không còn tơi xốp,
23
23
mất dần khả năng thấm nước, thấm khí và chai cứng lại. Đây cũng là một yếu
tố dẫn tới sa mạc hóa đất nông nghiệp.
Làm đất bị chua hóa
Một số loại phân trong thành phần của chúng có chứa một lượng axit
dư tự do (như supe lân, hoặc sulfat đạm có chứa axit sulfuric dư), khi bón vào
đất cũng gây chua cho đất. Ngoài ra khi tăng cường bón phân hóa học, rễ cây
phải hô hấp mạnh để hấp thu dinh dưỡng, như vậy sẽ giải phóng nhiều CO 2,
từ đó hình thành H2CO3, H+ ở bề mặt lông hút sẽ trao đổi vớ các catrion của
dung dịch đất như K+, NH4+, hoặc Ca++ từ đó nó kết hợp với gốc sulfat hoặc
Clo của phân để hình thành lên axit gây chua cho đất.
trồng và còn làm cho đất tăng tích luỹ các yếu tố độc hại như sắt, nhôm,
mangan di động.
Ngoài ra việc bón phân không đủ trả lại lượng chất dinh dưỡng mà cây
trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch, làm suy thoái đất trồng đang là vấn đề
môi trường không nhỏ ở Việt Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới.
Tác động của phân bón tới môi trường
Phân bón gây nên tác động ô nhiễm môi trường do lượng dư thừa và
lượng tôn dư không hấp thụ hết trong đất. Phân bón đi vào nguồn nước mặt
làm tăng nồng độ nitrat trong nước( phân đạm chứa Nitrat) dẫn đến ngộ
độc( tiềm tang của các bệnh ung thư). Một phần bị rữa trôi xuống phần nước
ngầm làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Phần bị bay hơi do tác động của nhiệt
độ hay quá trình phản nitrat hóa gây ô nhiễm không khí( mùi hôi của khí
amniac, phá vỡ tầng ozon, gây mưa axit). Đối với đất thành phần để sản xuất
phân bón chủ yếu là Flo gây độc hai khi hàm lượng của nó trong đất là
10mg/kg đất. Do tập quán bón phân của bà con nông dân thiếu hiểu biết gây
dư thừa lượng phân bón quá nhiều trong đất.
Phân bón trong quá trình bảo quản hoặc bón vãi trên bề mặt gây
ô nhiễm không khí do bị nhiệt làm bay hơi khí amoniac có mùi khai, là
hợp chất độc hại cho người và động vật. Mức độ gây ô nhiễm không
khí trường hợp này nhỏ, hẹp không đáng kể so với mức độ gây ô nhiễm
của các nhà máy sản xuất phân đạm nếu như không xử lý triệt để. Phân
bón ảnh hưởng đến môi trường chủ yếu là do con người gây ra: Bón dư
thừa các yếu tố dinh dưỡng hoặc bón phân không đúng cách Phân bón
gây ô nhiễm môi trường là do lượng dư thừa các chất dinh dưỡng do
cây trồng chưa sử dụng được hoặc do bón không đúng cách… Nguyên
nhân chính là do chưa nắm bắt được số lượng , chất lượng và cách bón
phân đúng cách để cây cối hấp thụ. Phần lớn bà con nông dân sử dụng
phân đạm (urê) là chính với số lượng lớn... mà không cân đối với kali,