LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo nhiệt
tình của các Thầy, Cô giáo ngành Quản lý đất đai của trường đại học tài nguyên và
môi trường Hà Nội, các thầy, cô đã tạo điều kiện để em hoàn thành đề tài tốt nghiệp
này.
Trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới:
Cô giáo Trần Thị Thu Hoài đã giúp đỡ tận tình và trực tiếp hướng dẫn em trong
suốt thời gian em thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ, chỉ bảo ân cần của các Thầy, Cô giáo
ngành Quản Lý Đất Đai - Trường đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội trong
suốt thời gian học tập.
Em xin chân thành cảm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường Thị xã Sơn Tây,
đơn vị đã trực tiếp giúp đỡ em trong thời gian thực tập đề tài tại địa bàn.
Tự đáy lòng mình, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Em xin kính chúc các Thầy, Cô giáo luôn mạnh khoẻ - hạnh phúc.
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2015
Sinh viên
Đặng Trần Quân
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
Đường Lâm, đền Phùng Hưng, lăng Ngô Quyền, đền Và, chùa Mía..., là nơi
có nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng đẹp như các khu du lịch sinh thái hồ Đồng
Mô, hồ Xuân Khanh, khu nghỉ dưỡng ASEAN, sân gôn Thung Lũng Vua, làng
văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam..., là nơi hội tụ của nền văn hóa “Xứ
Đoài” nổi tiếng.
5
Trong những năm gần đây thị xã đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện
công tác quản lý và sử dụng đất tại địa phương. Tuy đã đạt được nhiều thành
công đáng kể nhưng bên cạnh đó vẫn còn gặp phải những khó khăn, vướng
mắc nhất định vì vậy việc đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất trở thành
vấn đề cấp thiết hiện nay.
Xuất phát từ thực tiễn khách quan và nhu cầu sử dụng đất, em xin tiến
hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất tại Thị
xã Sơn Tây – Thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu và yêu cầu của đề tài:
2.1. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn.
- Đánh giá việc thực hiện công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn.
- Tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về
đất đai và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý và sử
dụng đất.
- Biết được tình hình sử dụng đất tại địa phương từ đó có các kế hoạch,
chính sách sử dụng đất nhằm giải quyết, khắc phục những bất hợp lý trong
việc sử dụng đất.
2.2. Yêu cầu của đề tài:
- Nắm được tình hình sử dụng đất trên địa bàn.
- Thu thập đầy đủ, chính xác các số liệu, tài liệu trên địa bàn có liên
quan đến công tác quản lý và sử dụng đất.
- Sử dụng đất đai:
Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được
sử dụng. Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “những hoạt động của
con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc
có tác động lên chúng”.
Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn,
nước, phân hóa học …), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ
mùa vụ …) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động
môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử
dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng
đất khác.
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị
chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế
bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy có thể
khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất.
8
Điều kiện tự nhiên: khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như
diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng…, cần chú ý đến việc thích ứng với
điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố
bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng.
Điều kiện kinh tế - xã hội: bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân
số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất
đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông
nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất
cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Yếu tố không gian: đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất
1.1.2.1. Công tác quản lý đất đai ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 –
1945:
* Thời kỳ đầu lập nước: Thời kỳ này quan hệ đất đai có nhiều hình thức
sở hữu khác nhau quyền sở hữu tối cao thuộc về nhà vua và các quan lại, một
phần thuộc công xã nông thôn.
* Thời kỳ Bắc thuộc: hình thức sở hữu của công xã nông thôn vẫn tồn
tại và phát triển vững chắc. Hình thức này được duy trì suốt 1000 năm Bắc
thuộc. Mặc dù dưới sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, hình thức này
không còn nguyên vẹn như trước.
10
* Thời kỳ phong kiến:
- Nhà Đinh – Lê: Quyền sở hữu tối cao thuộc về nhà vua và các quan
lại, chế độ công xã vẫn được bảo tồn.
- Nhà Lý – Trần: Ruộng đất vẫn thuộc sở hữu của Nhà vua là chủ yếu,
sở hữu tư nhân được công nhận và dần phát triển. Ngoài ra còn có hình thức
sở hữu tập thể.
- Thời nhà Hồ và Hậu Lê: Vào thế kỷ XV chế độ sở hữu nhà nước về
đất đai được xác định đầy đủ. Trong thời kỳ này, nhà nước can thiệp nhiều
vào quan hệ đất đai nhằm tạo ra sự quản lý tập trung thống nhất vào tay Nhà
nước.
Dưới thời nhà Hồ với chính sách “hạn điền” được ban bố nhằm củng cố
chế độ sở hữu nhà nước và hạn chế biến ruộng đất công thành ruộng tư.
Dưới thời nhà Lê nhà vua đã ban hành chính sách “lộc điền” và “quân
điền”, đồng thời tiến hành thống kê đất đai, lập sổ địa bạ nhằm phân phối lại
ruộng đất công cho nhân dân. Đặc biệt trong giai đoạn này, Bộ luật đầu tiên ở
nước ta được ban hành là “Luật Hồng Đức” (1481). Trong đó có 60 điều nói
về Luật đất đai. Tinh thần chính của Luật là điều chỉnh quan hệ đất đai và triệt
bảo hộ bảo vệ.
Tóm lại, trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám 1945 với hình thức sở hữu
Nhà nước về đất đai đóng vai trò chủ đạo, xuyên suốt qua các giai đoạn lịch
sử. Tuy nhiên cùng song song với chế độ sở hữu Nhà nước còn có chế độ sở
hữu công đã tồn tại dai dẳng qua các thời đại, ngoài ra còn tồn tại chế độ sở
hữu tư nhân về đất đai.
1.1.2.2. Công tác Quản lý đất đai ở Việt Nam sau Cách mạng tháng 8 –
1945 đến nay:
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời, ngành Địa chính được duy trì.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta đã phải
trải qua một thời kỳ lịch sử phức tạp, nền kinh tế bị sa sút, lạc hậu, cụ thể là
nạn đói năm 1945. Để khắc phục tình trạng đó Đảng và Chính phủ đã có chủ
trương “Khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp”. Để cứu đói cho dân các chính
sách đất đai lúc này nhằm chấn hưng nông nghiệp. Hàng loạt các Thông tư,
Chỉ thị, Nghị định của Nhà nước được ban hành nhằm tăng cường hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp.
Trong cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, Chính phủ đã có nhiều
chính sách sử dụng đất hoang, đất vắng chủ, đất tịch thu từ bọn thực dân việt
gian phản động. Từ năm 1950, người cày được giảm tô khi canh tác trên đất
vắng chủ.
Ngày 14/02/1953, Quốc hội thông qua luật cải cách ruộng đất, đánh đổ
hoàn toàn chế độ phong kiến thực dân. Triệt để thực hiện khẩu hiệu: “Người
cày có ruộng”.
12
Ngày 03/07/1958 cơ quan Quản lý đất đai được thành lập, đó là Sở địa
chính thuộc Bộ tài chính với chức năng chủ yếu là quản lý ruộng đất để thu
từ một nền nông nghiệp sản xuất tự cung tự cấp sang hướng sản xuất hàng
hóa.
13
* Giai đoạn 1992 đến nay: Hiến pháp 1992 ra đời quy định “Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy
hoạch và theo pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả.
Nhà nước giao đất cho các tổ chức cá nhân sử dụng ổn định lâu dài…”
Năm 1993, Luật đất đai được ban hành lấy Hiến pháp năm 1992 làm
nền tảng. Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế. Ngoài
ra Nhà nước còn có một loạt các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật
đất đai. Đây là cơ sở pháp lý giúp người dân thực sự yên tâm đầu tư phát
triển sản xuất trên mảnh đất được giao. Điều 13 Luật đất đai 1993 còn nêu ra
7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Tiếp theo Luật đất đai 1993 là Luật
sửa đổi và bổ sung một số điều Luật đất đai năm 1998 và năm 2001 để hoàn
thiện chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất.
Trong giai đoạn hiện nay, gắn với quá trình đổi mới đất nước, Đảng và
Nhà nước ta đã xây dựng và ngày càng củng cố và hoàn thiện chế độ sở hữu
toàn dân đối với đất đai, đảm bảo việc quản lý, sử dụng đất có hiệu quả và
bền vững. Điều này được thể hiện qua Luật đất đai 2003 ra đời ngày
26/11/2003 và có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2004, Luật sửa đổi năm 2009
và đến nay đã có dự thảo luật đất đai cùng với đó là một loạt các văn bản
dưới luật hướng dẫn việc thi hành Luật đất đai năm 2003 như: Nghị định
181/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004, Thông tư 08/2007/TT – BTN&MT ngày
02/08/2007, Nghị định 105/2009 NĐ – CP ngày 11/11/2009, Nghị định
120/2010 NĐ - CP ngày 30/12/2010…
Ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, Quốc
hội đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai năm 2013. Đây là sự kiện quan trọng
đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp.
- Nghị định 02/CP ngày 5/01/1994 của Chính phủ quy định về giao đất
lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào
mục đích sản xuất lâm nghiệp.
- Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính Phủ về việc mua bán
kinh doanh nhà thuộc sở hữu Nhà nước.
- Nghị định 88/CP ngày 7/8/1994 của Chính phủ quy định về quản lý sử
dụng đất đô thị.
- Chỉ thị số 10/1998/TTg-CP ngày 20/2/1998 của Chính phủ về việc đẩy
mạnh và hoàn thành việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ quy định về
thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử
dụng đất và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
- Chỉ thị số 05/2004/TTg-CP ngày 9/2/2004 của Chính phủ về việc triển
khai thi hành Luật đất đai 2003, trong đó có chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh
để hoàn thành cơ bản việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong
năm 2005.
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi
hành Luật đất đai.
- Thông tư số 29/2004/TT-BTN&MT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
15
- Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền
sử dụng đất.
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Nghị định 105/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai.
16
- Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Nghị định 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của
Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.
- Thông tư 16/2011/TT-BTNMT ngày 20/5/2011 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường Quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục
hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai.
1.2.2. Giai đoạn từ khi Luật đất đai 2013 ra đời cho đến nay:
- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013.
- Ngày 29/11/2013, Luật Đất đai 2013 được ban hành và có hiệu lực từ
ngày 01/07/2014.
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai.
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính
phủ quy định về giá đất.
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính
phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.
- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính
phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính
phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
Ở Thụy Điển, phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý
và sử dụng đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Vì vậy, toàn bộ
pháp luật và chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hàng đầu là có sự cân bằng
giữa lợi ích riêng của chủ sử dụng đất và lợi ích chung của Nhà nước.
Bộ Luật đất đai của Thụy Điển là một văn bản pháp luật được xếp vào
loại hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp và giải quyết các mối quan hệ đất đai và hoạt
động của toàn xã hội với 36 đạo luật khác nhau.
Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đất như quy hoạch sử dụng
đất, đăng ký đất đai, bất động sản và thông tin địa chính đều được quản lý bởi
ngân hàng dữ liệu đất đai và đều được luật hóa. Pháp luật và chính sách đất
đai ở Thụy Điển về cơ bản dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về đất đai và kinh
tế thị trường, có sự giám sát chung của xã hội.
Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển từ năm 1970 trở lại đây
gắn liền với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật bất động sản tư
nhân. Quy định các vật cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua
bán đất đai, việc thế chấp, quy định về hoa lợi và các hoạt động khác như vấn
đề bồi thường, quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, đăng ký quyền sở hữu đất
đai và hệ thống đăng ký…
* Trung Quốc:
Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đang thi hành chế độ công hữu xã
hội chủ nghĩa về đất đai, đó là chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập
thể của quần chúng lao động. Mọi đơn vị, cá nhân không được xâm chiếm,
mua bán hoặc chuyển nhượng phi pháp đất đai. Vì lợi ích công cộng, Nhà
18
nước có thể tiến hành trưng dụng theo pháp luật đối với đất đai thuộc sở hữu
tập thể và thực hiện chế độ quản chế mục đích sử dụng đất.
Tiết kiệm đất, sử dụng đất đai hợp lý, bảo vệ thiết thực đất canh tác là
quốc sách cơ bản của Trung Quốc.
19
Không gian tư nhân song song tồn tại với không gian công cộng và đảm
bảo lợi ích song hành. Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng
liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của
mình. Chỉ có lợi ích công cộng mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường chỗ
và trong trường hợp đó, lợi ích công cộng phải thực hiện bồi thường một cách
công bằng và tiên quyết với lợi ích tư nhân.
Ở Pháp, chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm
bảo sản xuất nông nghiệp bền vững và tuân thủ việc phân vùng sản xuất. Sử
dụng đất nông nghiệp, luật pháp quy định một số điểm cơ bản sau:
Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở
cũng phải xin phép chính quyền cấp xã quyết định. Nghiêm cấm việc xây
dựng nhà trên đất canh tác để bán cho người khác.
Thực hiện chính sách miễn giảm thuế, được hưởng quy chế ưu tiên đối
với một số đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng,
đất mới dành cho ươm cây trồng.
Khuyến khích việc tích tụ đất nông nghiệp bằng cách tạo điều kiện
thuận lợi để các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau có thể đàm
phán với nhau nhằm tiến hành chuyển đổi ruộng đất, tạo điều kiện tập trung
các thửa đất nhỏ thành các thửa đất lớn.
Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người
mua, muốn bán đất phải xin phép cơ quan giám sát việc mua bán. Việc bán
đất nông nghiệp phải nộp thuế đất và thuế trước bạ. Đất này được ưu tiên bán
cho những người láng giềng để tạo ra các thửa đất có diện tích lớn hơn.
Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát hoạt động
mua bán, chuyển nhượng đất đai. Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ
môi giới và trực tiếp tham gia quá trình mua bán đất. Văn tự chuyển đổi chủ
sở hữu đất đai có Tòa án Hành chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi.
nhiên, luật cũng quy định Nhà nước có quyền trưng thu đất tư nhân để sử
dụng vào mục đích công cộng, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và việc trưng
thu đó gắn liền với việc Nhà nước phải thực hiện bồi thường thỏa đáng.
1.3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam trong những năm
qua:
Năm 2014 và năm 2015 là những năm trọng tâm triển khai tổ chức thi
hành Luật Đất đai năm 2013 đã được Quốc hội thông qua và là năm bản lề
thực hiện thành công kế hoạch 05 năm 2011 - 2015. Với sự chỉ đạo quyết liệt
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi
trường; sự đoàn kết, nhất trí cao của tập thể Lãnh đạo Tổng cục Quản lý đất
đai và sự nỗ lực của các cán bộ, công chức, viên chức trong toàn ngành quản
lý đất đai; sự phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ tích cực của các Bộ, ngành, cơ quan
liên quan ở Trung ương và các địa phương trên cả nước, ngành quản lý đất
đai đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ
giao, góp phần quan trọng vào việc giữ ổn định chính trị, xã hội, đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế của đất nước. Toàn ngành đã nghiêm túc triển khai thực
hiện Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 22/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về triển
21
khai thi hành Luật Đất đai; triển khai thực hiện Chương trình công tác năm
2014, năm 2015 của Chính phủ, của Bộ Tài nguyên và Môi trường và đã đạt
được quan trọng sau đây:
a. Về việc chuẩn bị các điều kiện để tổ chức thi hành Luật Đất đai:
* Về công tác xây dựng chính sách, pháp luật đất đai:
Bộ đã chỉ đạo các địa phương chủ động rà soát các Điều, Khoản được
giao trong Luật, Nghị định để quy định chi tiết thi hành. Đến nay, đã có 63/63
tỉnh ban hành được hơn 360 văn bản quy định chi tiết thi hành Luật và các
Nghị định quy định chi tiết thi hành. Trong đó, các văn bản do địa phương ban
hành tập trung vào các lĩnh vực giá đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; quy
49,93%); có 330 đơn vị hành chính cấp huyện đang triển khai lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất (chiếm 46,81%); còn lại 23 đơn vị hành chính cấp
huyện chưa triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 3,26%).
- Đối với cấp xã: có 6.516 đơn vị hành chính cấp xã được cấp có thẩm
quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 58,41%); có 2.907
đơn vị hành chính cấp xã đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
(chiếm 26,06%); còn lại 1.733 đơn vị hành chính cấp xã chưa triển khai lập
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 15,53%).
* Về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch
sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020):
Trong 6 tháng đầu năm, Bộ đã tập trung triển khai việc điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ
cuối (2016-2020) cấp quốc gia theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ
thị số 08/CT-TTg ngày 20/5/2015. Đến hết tháng 6 năm 2015 đã có 06 Bộ,
ngành và 52 tỉnh gửi Báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất và đăng ký nhu cầu sử dụng đất giai đoạn 2016-2020 và còn một số tỉnh,
thành phố chưa gửi báo cáo. Bộ cũng đã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực
hiện việc kiểm tra các địa phương trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) các cấp.
c. Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất:
Trong năm 2014 và 6 tháng đầu năm 2015, đặc biệt là sau khi Luật Đất
đai có hiệu lực thi hành, Bộ TN&MT đã tích cực, chủ động chỉ đạo, hướng dẫn
các địa phương thực hiện công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, bảo
đảm theo đúng các quy định của pháp luật về đất đai. Bộ đã có Công văn số
1622/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 06/5/2014 và Công văn số 3398/BTNMTTCQLĐĐ ngày 14/8/2014 gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc chuyển mục
đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực
hiện các công trình, dự án của các địa phương. Bộ cũng đã thực hiện việc rà
soát hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc
dụng của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để trình Thủ tướng Chính
phủ xem xét, quyết định.
thành phố Yên Bái - Yên Bái, huyện Tân Lạc - Hoà Bình, huyện Lộc Bình Lạng Sơn, thành phố Nam Định - Nam Định, thị xã Ba Đồn - Quảng Bình, thị
xã Buôn Hồ - Đắk Lắk, thành phố Bạc Liêu - Bạc Liêu.
f. Về công tác thống kê, kiểm kê đất đai:
Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố, hiện đã có:
- 10840 đơn vị hành chính cấp xã đã hoàn thành việc điều tra khoanh vẽ
các chỉ tiêu kiểm kê ngoài thực địa (chiếm 97,09% tổng số xã).
- 8.662 đơn vị hành chính cấp xã đã hoàn thành việc xây dựng bản đồ
kết quả điều tra điều tra kiểm kê (chiếm 77,58% số xã).
24
- 5.875 đơn vị hành chính cấp xã hoàn thành tổng hợp số bộ số liệu cấp
xã (chiếm 52,61% tổng số xã).
- 3.492 đơn vị hành chính cấp xã đã hoàn thành xây dựng bản đồ hiện
trạng sử dụng đất (chiếm 31,27% tổng số xã).
- 2.924 đơn vị hành chính cấp xã đã hoàn thành xây dựng báo cáo kết
quả thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp xã năm
2014 (chiếm 26,29% tổng số xã).
g. Về công tác định giá đất:
* Tại Trung ương:
Thực hiện Luật Đất đai năm 2013, Bộ đã chủ trì xây dựng trình Chính
phủ ban hành Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá
đất; Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14/11/2014 quy định về khung giá
đất. Bộ đã ban hành Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 quy
định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất,
định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất; Thông tư số 20/2015/TTBTNMT ngày 20/4/2015 ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật để lập dự toán
ngân sách nhà nước phục vụ công tác định giá đất.
* Tại địa phương:
Về xây dựng bảng giá đất:
- Căn cứ quy định của pháp luật và chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Tài