ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ NHIÊN
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỪ KHI
CÓ LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003 ĐẾN NAY Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã ngành: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Nông
tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã
tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn Thạc sỹ này.
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS. Nguyễn
Ngọc Nông, giáo viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của Thầy, Cô giáo Khoa Tài
nguyên và Môi trường, Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cám ơn Lãnh đạo HĐND-UBND thành phố Lạng
Sơn, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài chính - Kế hoạch, phòng
Thống kê, Thanh tra thành phố, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố, Văn
phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Lạng Sơn và Lãnh đạo, cán bộ
địa chính các phường, xã trên địa bàn thành phố Lạng Sơn đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài trên địa bàn.
Tôi xin cám ơn gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn
bè đã tạo điều kiện về mọi mặt giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./.
Tác giả luận văn Lê Thị Nhiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2.3.5. Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu 34
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1. Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Lạng
Sơn 36
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 39
3.1.3. Thực trạng phát triển của một số ngành kinh tế 40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
3.1.4. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 41
3.1.5. Thực trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật 43
3.2. Tình hình tổ chức quản lý, sử dụng đất của thành phố Lạng Sơn 44
3.2.1. Bộ máy quản lý đất đai của thành phố Lạng Sơn 44
3.2.2. Khái quát tình hình sử dụng đất của thành phố Lạng Sơn 46
3.3. Đánh giá công tác quản lý đất đai theo 13 nội dung quản lý nhà nước
về đất đai trên địa bàn thành phố Lạng Sơn từ khi có Luật Đất đai 2003
đến nay 48
3.3.1. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử
dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó 48
3.3.2. Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa
giới hành chính, lập bản đồ hành chính 49
3.3.3. Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa
chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất 50
3.3.4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 53
3.3.5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích
sử dụng đất 56
3.3.6. Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa
chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Thống kê, kiểm kê đất
đai………………………………………………………………………60
: Hội đồng nhân dân
TN&MT
: Tài nguyên và Môi trường
VPĐKĐQSDĐ
: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
BT-GPMB
: Bồi thường giải phóng mặt bằng
TĐC
: Tái định cư
GCNQSD
: Giấy chứng nhận quyền sử dụng
KCN
: Khu công nghiệp
HNK
: Hàng năm khác
QĐ-UBND
: Quyết định ủy ban nhân dân
CNH-HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NĐ-CP
: Nghị định Chính phủ
HTKT
: hạ tầng ký thuật
NSDĐ
: Người sử dụng đất
KTTT
: Kinh tế thị trường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Bảng 3.15. Tổng hợp tiếp nhận đơn thư và kết quả giải quyết đơn của
công dân từ năm 2004 đến 31/12/2011 72
Bảng 3.16. Biến động đất đai giai đoạn 2005-2010 74
Bảng 3.17. Biến động đất đai giai đoạn 2010 - 2011 79 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Cơ cấu đất đai năm 2011 thành phố Lạng Sơn 46
Hình 3.2. Cơ cấu đất đai theo đối tượng quản lý, sử dụng 64
Hình 3.3. Biến động đất đai trên địa thành phố Lạng Sơn các năm
2005, 2010, 2011 75
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là yếu tố cấu thành lãnh
thổ của mỗi quốc gia, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là
địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh và quốc phòng Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, có vị trí cố
định trong không gian, có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh
tế xã hội đất nước. Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý một cách hợp lý, sử
dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
thành phố Lạng Sơn từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay”.
2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu
2.1. Mục đích
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và những căn cứ pháp lý của quản lý Nhà
nước về đất đai.
- Tìm hiểu công tác quản lý và sử dụng đất của địa bàn thành phố Lạng
Sơn từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay. Trên cơ sở đó, đánh giá việc
thực hiện 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai và tình hình quản lý sử
dụng đất của thành phố trên các mặt tích cực và tiêu cực.
- Đề xuất một số phương hướng, biện pháp nhằm phát huy mặt tích
cực, hạn chế, khắc phục những mặt tồn đọng trong công tác quản lý Nhà nước
về đất đai, giúp cơ quan quản lý Nhà nước quản lý chặt chẽ, hiệu quả nguồn
tài nguyên đất.
2.2. Yêu cầu
- Nắm chắc 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai và các văn bản
pháp luật hiện hành về quản lý đất đai.
- Hiểu và vận dụng tốt các quy trình, quy phạm, văn bản pháp luật về
công tác quản lý Nhà nước về đất đai
- Điều tra, thu thập số liệu, đánh giá đúng thực trạng quản lý Nhà nước
và sử dụng đất đai của địa phương.
- Đưa ra những kiến nghị, đề xuất có cơ sở khoa học, có tính khả thi,
phù hợp với thực tế của địa phương và quy định của Nhà nước về quản lý và
sử dụng đất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
4
Điều kiện kinh tế - xã hội: bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân
số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất
đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông
nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất
cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Yếu tố không gian: đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do
đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con
người. Đất đai hạn chế về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất
không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội. [5]
- Vấn đề quản lý đất đai:
Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến
việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất
đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc bán, cho thuê
hoặc thu thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và
quyền sử dụng đất.
Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất
đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp Luật đất đai
và pháp luật liên quan đến đất đai. Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước
xác định một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước;
tập trung và phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của
lĩnh vực công và tư nhân; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức
địa chính, quản lý nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp
về chuyên gia tư vấn và kỹ thuật; hợp tác quốc tế.
1.1.2. Cở sở pháp lý về quản lý sử dụng đất đai
Ở Việt Nam, công tác quản lý tài nguyên đất đã được quan tâm từ rất
sớm. Những năm đầu của thập kỷ 80, Nhà nước đã xây dựng một hệ thống
chính sách về đất đai phù hợp với tình hình đất nước thể hiện ở chính sách
nhằm thể chế hóa các chính sách đất đai đã ban hành, đồng thời, qui định và
điều chỉnh các quan hệ kinh tế-xã hội theo hướng dài hạn. Điều 13, Luật Đất
đai 1993 quy định rõ 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Các nội dung trên luôn có mối quan hệ biện chứng tạo ra những tiền đề
bổ sung, hỗ trợ cho nhau giúp công tác quản lý Nhà nước về đất đai được chặt
chẽ và đạt hiệu quả cao. Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 quy định về việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào
mục đích sản xuất nông nghiệp. Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính
phủ quy định về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp.
Tiếp theo Luật Đất đai 1993 là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều ở
Luật đất đai 1998 và 2001 lấy Hiến pháp 1992 làm nền tảng đã khẳng định rõ
hơn về chế độ sử dụng đất cũng như phương thức quản lý sử dụng đất trong
thời kỳ đổi mới kinh tế nước ta. Điểm nổi bật trong chính sách quản lý đất đai
được thể hiện là cho phép người sử dụng đất có 5 quyền: chuyển đổi, chuyển
nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê. Như vậy là đã công nhận tính chất hàng
hóa của đất đai và giá trị của đất. Chính điều này đã tạo điều kiện cho việc
hình thành thị trường đất đai phát triển một cách sôi động và lành mạnh,
người dân có thể yên tâm đầu tư phát triển sản xuất làm chủ trên mảnh đất
được giao.
Ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật
Đất đai năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004. Luật Đất đai 2003
và hệ thống pháp luật về đất đai sau này đã vận dụng cũng như kế thừa những
chính sách mang tính đổi mới, tiến bộ của hệ thống pháp Luật Đất đai trước
đây đồng thời tiếp thu, đón đầu những chính sách pháp Luật Đất đai tiên tiến,
hiện đại, phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước.
Tại Điều 6 Luật Đất đai 2003 quy định 13 nội dung quản lý Nhà nước
luật khá hoàn chỉnh, thể hiện những quan điểm đổi mới của Đảng phù hợp với
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hoá đất nước. Luật và các văn bản dưới Luật đã nhanh chóng đi vào
cuộc sống, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội.[3]
Như vậy chúng ta có thể thấy, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau,
Nhà nước ta luôn đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý sử dụng đất. Ứng với
mỗi thời kỳ, Nhà nước ban hành một hệ thống văn bản pháp luật về đất đai phù
hợp với chế độ chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước với các hình
thức tổ chức và tên gọi khác nhau nhằm từng bước triển khai và hoàn thiện
trong công tác quản lý và sử dụng đất nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia,
phù hợp và góp phần tích cực vào tiến trình CNH-HĐH đất nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
1.2. Tnh hnh quản lí và sử dụng đấ t đai trên thế giớ i và ở Việ t Nam
1.2.1.Tình hình quản lý sử dụng đất đai ở một số nước trên thế giới
1.2.1.1. Nước Thụy Điển
Ở Thuỵ Điển, phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản
lý và sử dụng đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Vì vậy, toàn bộ
pháp luật và chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hàng đầu là có sự cân bằng
giữa lợi ích riêng của chủ sử dụng đất và lợi ích chung của Nhà nước.
Bộ Luật đất đai của Thụy Điển là một văn bản pháp luật được xếp vào
loại hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp và giải quyết các mối quan hệ dất đai và hoạt
động của toàn xã hội với 36 đạo luật khác nhau.
Pháp luật và chính sách đất đai ở Thuỵ Điển từ năm 1970 trở lại đây
gắn liền với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật bất động sản tư
nhân. Quy định các vật cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua
bán đất đai, việc thế chấp, quy định về hoa lợi và các hoạt động khác như vấn
đề bồi thường, quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, đăng ký quyền sở hữu đất
ích công cộng có đặc điểm là không thể chuyển nhượng, tức là không mua,
bán được. Không gian công cộng gồm các công sở, trường học, bệnh viện,
nhà văn hoá, bảo tàng
Không gian tư nhân song song tồn tại với không gian công cộng và
đảm bảo lợi ích song hành. Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và
thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu
của mình. Chỉ có lợi ích công cộng mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường
chỗ và trong trường hợp đó, lợi ích công cộng phải thực hiện bồi thường một
cách công bằng và tiên quyết với lợi ích tư nhân.
Ở Pháp, chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm
bảo sản xuất nông nghiệp bền vững và tuân thủ việc phân vùng sản xuất. Sử
dụng đất nông nghiệp, luật pháp quy định một số điểm cơ bản sau:
Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở
cũng phải xin phép chính quyền cấp xã quyết định. Nghiêm cấm việc xây
dựng nhà trên đất canh tác để bán cho người khác.
Thực hiện chính sách miễn giảm thuế, được hưởng quy chế ưu tiên đối
với một số đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng,
đất mới dành cho ươm cây trồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
Khuyến khích việc tích tụ đất nông nghiệp bằng cách tạo điều kiện
thuận lợi để các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau có thể đàm
phán với nhau nhằm tiến hành chuyển đổi ruộng đất, tạo điều kiện tập trung
các thửa đất nhỏ thành các thửa đất lớn.
Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát hoạt động
mua bán, chuyển nhượng đất đai. Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ
môi giới và trực tiếp tham gia quá trình mua bán đất. Văn tự chuyển đổi chủ
sở hữu đất đai có Toà án Hành chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi.
hành chính, lập bản đồ địa chính
Ranh giới hành chính được xác định bằng các yếu tố địa vật cố định
hoặc các điểm mốc giới và được khoanh vẽ trên bản đồ.
Thực hiện Chỉ thị 364/CP ngày 06/11/1991, các địa phương trên cả
nước đã tiến hành đo đạc, xác định địa giới hành chính trên cơ sở vùng lãnh
thổ đã được xác định theo Chỉ thị số 299/CT-TTg ngày 10/11/1980.
Tính đến 31/12/2008 toàn quốc có 63 Tỉnh, thành phố với tổng diện
tích tự nhiên là 33.121.159 ha.
Hồ sơ địa giới hành chính là hồ sơ phục vụ công tác quản lý Nhà nước
đối với địa giới hành chính.
Hồ sơ địa giới hành chính được xây dựng trên cơ sở Chỉ thị 364/CP đã
được xây dựng hoàn thiện tới từng xã, phường, thị trấn. Cơ bản địa giới hành
chính đã được xác định cụ thể, rõ ràng và được quản lý theo đúng quy định
của Nhà nước.
Bản đồ hành chính thể hiện ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo
địa danh và một số yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội. Hiện nay toàn quốc cơ
bản đã xây dựng xong hệ thống bản đồ hành chính của 63 tỉnh, thành phố. [4]
1.2.2.3. Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa
chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có
liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền xác nhận.
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại
đất tại một thời điểm xác định, được lập theo đơn vị hành chính.
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là bản đồ được lập tại thời điểm đầu kỳ
quy hoạch, thể hiện sự phân bổ các loại đất tại thời điểm cuối kỳ quy hoạch.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
động thông qua chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, tạo việc làm mới, tăng thu
nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân.[3]
1.2.2.5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử
dụng đất
Thực hiện việc giao đất, cho thuê đất đã góp phần quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và bước đầu phát huy nguồn lực của đất đai
trong phát triển của đất nước. Tổng diện tích đất đã được Nhà nước giao, cho
thuê và công nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng là 24.996
nghìn ha, chiếm 75,53% tổng diện tích tự nhiên cả nước; cụ thể như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng 14.878 nghìn ha chiếm 59,52%
tổng diện tích đã giao, cho thuê; trong đó diện tích đất nông nghiệp 13.915
nghìn ha, chiếm 93,53% diện tích đất nông nghiệp Nhà nước đã giao, cho
thuê cho các đối tượng sử dụng;
- Các tổ chức trong nước sử dụng 9.735 nghìn ha chiếm 38,95 % tổng
diện tích đã giao, cho thuê; trong đó diện tích đất phi nông nghiệp 1.021
nghìn ha, chiếm 59,50% diện tích đất phi nông nghiệp Nhà nước đã giao cho
các đối tượng sử dụng;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được thuê sử dụng 56 nghìn ha (chỉ
chiếm 0,22% tổng diện tích đã giao, cho thuê), trong đó đất nông nghiệp 30
nghìn ha (53,57%), đất phi nông nghiệp 26 nghìn ha (46,43%);
- Cộng đồng dân cư được giao 325 nghìn ha (chiếm 1,30% tổng diện
tích đã giao, cho thuê), trong đó đất nông nghiệp 274 nghìn ha (1,10%), đất
phi nông nghiệp 6 nghìn ha (0,20%).
Trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đã
được thực hiện theo đúng quy định; đã từng bước khắc phục tình trạng giao
đất, cho thuê đất trái thẩm quyền, không đúng đối tượng. Đất được giao, cho
đạt 82,1% diện tích, đất ở đô thị đạt 63,5%, đất chuyên dùng đạt 54,9% diện
tích, đất cơ sở tôn giáo đạt 81,6 % diện tích. Trong đó, việc cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
trong hơn 01 năm qua, cả nước đã cấp được 1.348.152 giấy với diện tích
898.030 ha.
- Việc lập hồ sơ địa chính đã được các địa phương quan tâm, chú trọng
thực hiện, kết quả đến nay đã có trên 70% số xã, phường, thị trấn đã xây dựng
được hồ sơ, sổ sách địa chính phục vụ cho yêu cầu quản lý đất đai. [3]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
1.2.2.7. Công tác thống kê, kiểm kê đất đai
Công tác kiểm kê đất đai được thực hiện định kỳ 5 năm một lần. Công
tác kiểm kê đất đai được đánh giá là vô cùng quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế, chính trị, xã hội; kết quả kiểm kê đất đai là căn cứ để UBND các
cấp nghiên cứu, hoạch định các chủ trương, chính sách đảm bảo mục tiêu phát
triển bền vững; tính toán các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai;
làm căn cứ cho việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển của vùng lãnh thổ.
Đã tổ chức thực hiện và hoàn thành việc thống kê đất định kỳ hàng năm
và kiểm kê đất các năm 2005, 2010. Ngoài ra, còn thực hiện nhiều cuộc điều
tra chuyên đề để phục vụ các yêu cầu khác nhau trong quản lý đất đai, điển
hình là việc kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của tổ chức được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm
2007 của Thủ tướng Chính phủ. Kết quả đã xác lập được bộ số liệu đất đai đầy
đủ của cả nước, đáp ứng yêu cầu thông tin đất đai phục vụ cho quản lý đất đai,
quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh của các cấp và các ngành; đã đánh giá đầy đủ, đúng thực trạng
tình hình quản lý, sử dụng đất đai và đề xuất nhiều biện pháp, chính sách, pháp
luật nhằm chấn chỉnh, tăng cường quản lý đất đai, kiểm tra, thanh tra xử lý tình
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tính thuế, lệ phí và các khoản thu tài
chính khác.
Nguyên tắc xác định giá đất sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng
đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường được xác lập và triển
khai thực hiện, bước đầu làm lành mạnh hóa các quan hệ đất đai, là cơ sở để
giải quyết tốt hơn quyền lợi của người có đất bị thu hồi, đồng thời góp phần
hạn chế tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng đất. [3]
1.2.2.9. Công tác quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị
trường bất động sản
- Luật Đất đai năm 2003 đã chấp nhận sự tồn tại của thị trường quyền
sử dụng đất cũng như thị trường bất động sản thể hiện đường lối phát triển
của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ mới.
Thị trường bất động sản ở Việt Nam thực chất đã ngầm phát triển từ lâu
song lại không có một điều khoản nào trong Luật đất đai trước đây quy định.
Trước khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, thị trường
quyền sử dụng đất nói riêng và thị trường bất động sản nói chung phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
ngoài vòng kiểm soát của pháp luật. Nhà nước không quản lý được thị trường
này nên phát triển một cách lộn xộn đã đẩy giá đất lên rất cao và trở thành giá
ảo trong cuối năm 2003.
Việc quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
bất động sản trong những năm gần đây mới thực sự được quan tâm vì cơ sở
vật chất, tiền đề để phát triển thị trường này đòi hỏi phải xây dựng một cách
hoàn thiện và đầy đủ. Để phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị
trường bất động sản cần phải có một hệ thống cơ sở vật chất tốt như hệ thống
quy hoạch đất đai đầy đủ, rõ ràng, công khai và minh bạch; phù hợp với điều
kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương; các loại bản đồ phải đầy đủ,