1. Mở Đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất là tài sản vô cùng quý giá đối với với mỗi quốc gia và là t liệu sản
xuất đặc biệt hàng đầu không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Nó còn
là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trờng sống, đất không chỉ là tài
nguyên thiên nhiên quí giá mà còn là nền tảng để định canh định c, tổ chức
các hoạt động kinh tế xã hội.
Xã hội ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh, đòi hỏi ngày càng tăng
về lơng thực, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp, các nhu cầu về văn hoá
xã hội... Điều đó tạo nên áp lực ngày càng lớn đến đất đai làm cho quỹ đất nông
nghiệp luôn có nguy cơ bị giảm, trong khi đó khả năng khai hoang đất mới lại
rất hạn chế. Để giải quyết các vấn đề này, ngoài việc nghiên cứu về đất đai,
chúng ta cần phải đánh giá đầy đủ các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội có liên
quan đến quá trình sử dụng đất hiện tại và tơng lai, nhằm mục đích sử dụng
đất hợp lý và lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả. Công việc này đòi
hỏi phải đánh giá một cách tổng hợp trên nhiều phơng diện nh: mức độ thích
hợp của từng loại cây trồng, khả năng đầu t cho phép, lợi nhuận thu đợc, mức
tiêu thụ sản phẩm, phong tục tập quán ở từng địa phơng và của từng dân tộc,
bảo vệ đợc môi trờng sinh thái, từ đó xây dựng đúng và lựa chọn các loại
hình sử dụng đất có triển vọng.
Sa Pa là một huyện vùng cao nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lào Cai,
với diện tích tự nhiên 67.864,0 ha, chiếm 8,24% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Huyện có 17 xã và một thị trấn là nơi c trú của 6 nhóm dân tộc anh em cùng
sinh sống với nhiều phong tục tập quán khác nhau với nguồn tài nguyên đa
dạng và phong phú.
Hiện nay, ngời dân ở Sa Pa đang phải đối mặt với nhiều áp lực nh các
hệ sinh thái tự nhiên bị phá vỡ, tài nguyên đất, nớc, rừng bị suy thoái, do nạn
1
chặt phá rừng và khai thác bừa bãi dẫn đến tình trạng đất bị xói mòn rửa trôi,
- Xác định đợc các loại hình sử dụng đất, những nguyên nhân hình
thành, duy trì và phát triển các loại hình sử dụng đất của 2 dân tộc Dao và
HMông.
- Đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên các khía cạnh
kinh tế, xã hội và môi trờng.
- So sánh các loại hình sử dụng đất của 2 dân tộc về nguyên nhân hình
thành, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trờng làm cơ sở cho việc đề xuất loại
hình sử dụng đất thích hợp cho mỗi dân tộc. 3
2. Tổng quan tài liệu
hữu đất đai [44].
Nh vậy, loại hình sử dụng đất là đơn vị xếp dới hệ thống canh tác và
liên quan chặt chẽ với các đơn vị đất đai. Mức độ chi tiết của các loại hình sử
dụng đất phụ thuộc vào mục tiêu, quy mô và tỷ lệ bản đồ sử dụng trong đánh
giá đất [31].
Trong nghiên cứu, đánh giá và quy hoạch sử dụng đất đai, các loại hình
sử dụng đất hiện có sẽ đợc xác định và mô tả về tình hình sản xuất, hình thức
quản lý sản xuất, quy mô nông trại, các biện pháp canh tác, mức độ đầu t,
năng suất, hiệu quả sản xuất và yêu cầu đất đai. Từ đó lựa chọn các loại hình
sử dụng đất thích hợp, bền vững về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả
môi trờng và lấy nó làm đối tợng trong đánh giá đất đai (FAO, 1976) [11].
ở Việt Nam, khái niệm này đã đợc Bùi Quang Toản giới thiệu từ năm
1977. Qua thử nghiệm cho thấy loại hình sử dụng đất đai trong nông nghiệp có
thể đợc áp dụng rộng rãi nh: chuyên lúa, lúa và cây trồng cạn, chuyên cây
trồng cạn, vờn cây, cây trồng thức ăn gia súc (đối với đất đồng bằng); Cây hàng
năm, cây lâu năm, đồng cỏ chăn thả, rừng trồng và khai thác, rừng bảo vệ (đối
với đất đồi núi) [34].
2.1.2. Hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác, hệ thống cây trồng ở
miền núi và vùng cao
Hệ thống nông nghiệp là một phức hợp của đất đai, nguồn nớc, cây
trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi đặc trng khác trong một ngoại cảnh
mà nông hộ quản lý tuỳ theo sở thích và khả năng kỹ thuật có thể có.
Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn, trong đó
con ngời đóng vai trò trung tâm, con ngời quản lý và điều khiển các hệ
thống theo nhiều quy luật nhất định nhằm mang lại hiệu quả cho hệ thống
nông nghiệp [28].
5
Theo Sectisan.M [22], hệ thống canh tác là sản phẩm của nhóm biến số:
môi trờng vật lý, kỹ thuật sản xuất, chi phối của tài nguyên và điều kiện kinh
nông nghiệp này cần có những điều kiện tự nhiên nh tập trung về ruộng đất,
phát triển giao thông và hạ tầng cơ sở, có thị trờng tiêu thụ khá ổn định. Việc
áp dụng không đúng các biện pháp kỹ thuật của hệ thống này đã lộ một số
mặt tiêu cực cần đợc đánh giá (ô nhiễm môi trờng do bón phân không đúng,
khủng hoảng nớc vùng chuyên canh tập trung, xói mòn mạnh do lạm dụng
cơ giới nặng,...) [24].
Lịch sử phát triển hệ thống cây trồng gắn liền với quá trình phát triển
nông nghiệp. Đặc biệt là sự chuyển đổi hệ thống cây trồng gắn liền với sự ra
đời của các công cụ sản xuất mới, các kỹ thuật canh tác tiên tiến, các giống
cây trồng mới, cũng nh các công tác trinh phục thiên nhiên, trị thuỷ các dòng
sông. Hệ thống cây trồng luôn tiến triển và ngày càng hoàn thiện hơn.
Zandastra H.G [50] cho rằng hệ thống cây trồng là hoạt động sản xuất
cây trồng trong nông trại, nó bao gồm tất cả các hợp phần cần thiết để sản
xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại, mối liên hệ của chúng với môi
trờng. Các hợp phần này bao gồm các yếu tố tự nhiên, sinh học cần thiết
cũng nh kỹ thuật lao động và yếu tố quản lý.
Đào Thế Tuấn (1984) [38] cho rằng cơ cấu cây trồng là thành phần các
giống và loại cây trồng đợc bố trí theo không gian và thời gian trong hệ sinh
thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất nguồn lợi tự nhiên - kinh tế - xã
hội của nó. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp,
nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái. Một cơ cấu cây trồng hợp lý khi
nó lợi dụng tốt nhất điều kiện khí hậu, nguồn nớc, tránh thiên tai, lợi dụng
đặc tính sinh học của cây trồng, tránh sâu bệnh và cỏ dại, bảo đảm sản lợng
cao, tỷ lệ sản phẩm có chất lợng lớn, đảm bảo phát triển tốt ngành chăn nuôi
và các ngành kinh tế hỗ trợ, sử dụng lao động vật t kỹ thuật tốt.
7
Nguyễn Văn Luật (1991) [14] cho rằng hệ thống cây trồng là tổ hợp
cây trồng bố trí theo không gian và thời gian với biện pháp kỹ thuật đợc thực
hiện nhằm đạt năng suất cây trồng cao, nâng cao độ phì nhiêu của đất, đồng
tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng vào nông nghiệp vì:
Quá dốc 2,682 tỷ ha (18%)
Quá khô 2,533 tỷ ha (17%)
Quá lạnh 2,235 tỷ ha (15%)
Đóng băng 1,490 tỷ ha (10%)
Quá mỏng 1,341 tỷ ha (9%)
Quá nghèo dinh dỡng 0,745 tỷ ha (5%)
Quá lầy 0,596 tỷ ha (4%)
Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, ta có loại đất cha sử dụng nhng có
khả năng trồng trọt. Đất trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (chiếm xấp
xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt, nh vậy
còn 54% đất có khả năng trồng trọt cha đợc khai thác [39].
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,5 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó
con ngời đã khai thác khoảng 1,5 tỷ ha và có xu hớng ngày càng mở rộng
quy mô. Diện tích đất nông nghiệp đợc phân bố nh sau: Châu Mỹ chiếm
35%, Châu á chiếm 26%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Phi chiếm 20%, Châu
Đại dơng chiếm 6%. Nh vậy Châu á và Châu Phi có tiềm năng đất nông
nghiệp lớn nhất. Tuy nhiên nguồn đất ở Châu á gần nh đã cạn kiệt, đồng thời
với c ngụ của gần 1/2 dân số trên thế giới, Châu á là nơi có đất canh tác chịu
nhiều áp lực nhất của sự gia tăng dân số [48].
Đất canh tác của thế giới có hạn chế và đợc dự đoán là ngày càng tăng do
khai thác thêm những diện tích đất có khả năng làm nông nghiệp nhằm đáp ứng
nhu cầu về lơng thực thực phẩm cho loài ngời. Tuy nhiên do dân số ngày một
tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu ngời ngày một giảm.
9
Bảng 1. Tình hình diễn biến và dự báo diện tích đất canh tác
và dân số trên thế giới
Năm Dân số
(triệu ngời)
thấp nhất trên thế giới. Theo báo cáo của Tổng cục Địa chính năm 1997 so với
10 nớc khu vực Đông Nam á, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên đứng
hàng thứ 4, nhng dân số đứng hàng thứ hai nên bình quân diện tích trên đầu
ngời của nớc ta đứng hàng thứ 9, chỉ cao hơn Singapore [9].
Bảng 2. Biến động diện tích về sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
(năm 1990-1998)
Năm
Tổng DT đất
nông nghiệp
(1000 ha)
Tổng DT đất cây
trồng hàng năm
(1000 ha)
Dân số
(1000
ngời)
Bình quân DT đất
cây trồng hàng
năm/ ngời (m
2
)
1990 9.040,8 8.101,5 66.233,3 1.223
1991 9.409,7 8.475,1 67.774,1 1.250
1992 9.752,0 8.755,2 69.405,2 1.261
1993 9.979,9 8.894,4 71.025,6 1.252
1994 10.381,4 9.000,6 72.509,5 1.241
1995 10.496,9 9.224,4 73.962,4 1.247
1996 10.928,9 9.486,1 75.355,2 1.258
1997 11.316,4 9.680,9 76.714,5 1.261
1998 11.704,8 10.011,3 76.325,0 1.311
2.302.566 24,21 Đất trồng cây lâu năm
- Đất trồng cây công nghiệp lâu năm
1.618.251 70,28
Đất vờn tạp 615.899 6,48
Đất mặt nớc nuôi trồng thủy sản 589.111 6,19
(Nguồn: Tổng Cục Địa chính [25])
Nớc ta là nớc có diện tích tự nhiên xếp hàng thứ 59 trong tổng số 200
11
nớc trên thế giới, nhng có dân số xếp hàng thứ 13 trên thế giới. Theo thống
kê, bình quân đất đai trên đầu ngời của thế giới là 3,0 ha, úc là 52,4 ha,
Canada là 11,2 ha, Trung Quốc là 0,8 ha, còn Việt Nam là 0,43 ha [46]. Nh
vậy bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu ngời ở nớc ta chỉ bằng 1/7
bình quân diện tích đất trên đầu ngời của thế giới. Là một nớc có đa phần
dân số làm nghề nông, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu ngời nông
dân rất thấp là một trở ngại to lớn. Để vợt qua, phát triển một nền nông
nghiệp đủ sức cung cấp lơng thực, thực phẩm cho toàn dân và có một phần
xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, triệt để tiết kiệm đất, sử dụng
đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
2.1.4. Những định hớng chính trong sử dụng bền vững đất đồi núi ở
vùng núi phía Bắc
Hội nghị quốc tế về quản lý đất đồi núi tại Bắc Kinh kêu gọi: "... một tiềm
năng lớn lao đang nằm trong các vùng cao nhiệt đới, các nớc phát triển cũng
nh đang phát triển cần tăng cờng đầu t và nỗ lực tăng sức sản xuất của vùng
cao. Điều đó sẽ có lợi không những chỉ cho nông dân địa phơng mà còn cho cả
nhân loại nói chung"[23].
Hiện nay ở phần lớn các nớc đang phát triển, hớng phát triển sản xuất
nông lâm nghiệp là mở rộng ở các vùng đồi núi, bởi vì do sự gia tăng nhanh về
dân số nên hầu hết các vùng đồng bằng đất đai đã đợc đa vào khai thác sử
dụng và Việt Nam cũng không nằm ngoài ngoại lệ này.
macma bazơ và trung tính, đá sét và biến chất ở những vùng phần nhiều
đất có tầng dày để trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, cây dợc
liệu và làm đồng cỏ chăn thả.
- Duy trì, cải thiện độ phì đất cho những diện tích có điều kiện
thâm canh ở vùng thung lũng, lòng chảo hoặc ruộng bậc thang, sử dụng
đi đôi với cải tạo và bảo vệ diện tích đất nông ngiệp hiện có trong vùng
đồng thời từng bớc khai thác thêm đất còn có khả năng phát triển nông
nghiệp.
13
2.2. Đánh giá sử dụng đất bền vững
2.2.1. Quan điểm sử dụng đất bền vững
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn, đất đai đã trở thành cơ
sở cần thiết cho sự sống và cho tơng lai phát triển của loài ngời.
Trớc đây, khi dân số còn ít để đáp ứng yêu cầu của con ngời việc
khai thác từ đất khá dễ dàng và cha có những ảnh hởng lớn đến tài nguyên
đất. Nhng ngày nay, mật độ dân số ngày càng tăng, đặc biệt là ở các nớc
đang phát triển thì vấn đề đảm bảo lơng thực cho sự gia tăng dân số đã trở
thành sức ép ngày càng mạnh mẽ lên đất đai. Diện tích đất thích hợp cho sản
xuất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt, con ngời phải mở mang thêm diện tích
canh tác trên các vùng đất không thích hợp cho sản xuất, hậu quả đã gây ra
quá trình thoái hoá đất một cách nghiêm trọng [49].
Tác động của con ngời tới đất đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày
càng suy giảm và dẫn đến thoái hoá đất, lúc đó rất khó có khả năng phục hồi
độ phì đất hoặc phải chi phí rất tốn kém mới có thể phục hồi đợc. Đất với 5
chức năng chính là Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá và địa hoá học; phân
phối nớc; tích trữ và phân phối vật chất; mang tính đệm và phân phối năng
lợng (De Kimpe và Warkentin - 1998) [43], là những trợ giúp cần thiết cho
các hệ sinh thái. Mục đích của sản xuất là tạo ra lợi nhuận luôn chi phối các
tác động của con ngời lên đất đai và môi trờng tự nhiên, những giải pháp sử
lòng tin cho ngời dân [29].
2.2.2. Đánh giá sử dụng đất bền vững
Để duy trì đợc sự bền vững của đất đai, Smyth A.J và Dumanski.J [49]
đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sử dụng đất bền vững là:
- Duy trì nâng cao các hoạt động sản xuất (hiệu quả sản xuất)
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá
đối với chất lợng đất và nớc (bảo vệ)
15
- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)
- Đợc chấp nhận của xã hội
Nh vậy, theo tác giả sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt
tự nhiên mà còn cả về mặt môi trờng, lợi ích kinh tế và xã hội. Năm nguyên
tắc trên đợc coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững là những mục tiêu
cần phải đạt đợc. Nếu thực tế mà diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu thì khả
năng bền vững sẽ đạt đợc. Nếu chỉ đạt một hay vài mục tiêu mà không phải
tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận [10].
Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất đợc
xem là bền vững thì phải đạt 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, đợc thị
trờng chấp nhận.
- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút đợc lao động, đảm bảo đời sống xã
hội phát triển.
- Bền vững về môi trờng: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ đợc độ
màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trờng sinh thái.
Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng
đất hiện tại. Thông qua việc xem xét và đánh giá theo các yêu cầu trên để giúp
cho việc định hớng phát triển nông nghiệp ở từng vùng sinh thái [29].
Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con ngời diễn ra hết sức
phẩm, trong đó có cả những biện pháp có hại cho đất. Với việc sử dụng ngày
một tăng và không hợp lý các sản phẩm công nghiệp hoá nh phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật, hoá chất, chất tăng trởng... đã làm cho đất đai bị thoái hoá,
không những thế còn kéo theo các thảm họa về môi trờng sinh thái nghiêm
trọng. Nhận thức đợc nguy cơ đó, thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm
ra một hớng đi thích hợp trong sử dụng đất nông nghiệp. Một trong những
quan điểm phổ biến hiện nay là phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Theo Rosemary Morrow thì nông nghiệp bền vững đợc xây dựng trên nền
17
tảng của sinh thái học, tức là sự nghiên cứu những mối liên hệ và tơng quan
giữa các cơ thể sống và môi trờng của chúng. Hiệu quả của một phơng pháp
mới là làm bền vững và phong phú hơn cho cuộc sống mà không gây suy thoái
môi trờng thiên nhiên và xã hội [21].
Các tác giả Bill Mollison và R.M. Slay trong cuốn Đại cơng về nông
nghiệp bền vững cho rằng: Nông nghiệp bền vững là sự thiết kế những hệ
thống định canh lâu bền. Đó là triết lý và một cách tiếp cận về sử dụng đất đai,
liên kết tiểu khí hậu, cây trồng hàng năm và lâu năm, vật nuôi, đất, nớc và
những nhu cầu của con ngời, xây dựng nên những cộng đồng chặt chẽ và có
hiệu quả[15].
Nghiên cứu về nông nghiệp bền vững, có thể thấy những nét chủ yếu là:
- Một hệ thống tạo ra những mô hình định canh lâu bền bằng cách kết
hợp thiết kế sinh thái.
- Một sự tổng hợp hiểu biết truyền thống với khoa học hiện đại, áp dụng
cho cả thành thị và nông thôn.
- Nông nghiệp bền vững lấy các hệ thống thiên nhiên làm mẫu và hành
động hoà hợp với thiên nhiên nhằm thiết kế những môi trờng lâu bền cung
cấp những nhu cầu cơ bản cho con ngời.
- Nông nghiệp bền vững thúc đẩy chúng ta tham gia có ý thức vào việc
giải quyết nhiều vấn đề đặt ra ở phạm vi địa phơng và toàn cầu [21].
cây quế trong thời kỳ bỏ hoá. Dờng nh ngời Dao gắn bó với rừng nhiều
hơn, tuy họ cùng sống trên vùng đất dốc. Về canh tác trên đất dốc, nhờ đã
từng trải lâu đời trên mảnh đất của mình nên ngời dân miền núi vùng cao tích
luỹ đợc nhiều tri thức và kinh nghiệm trên cơ sở đó xây dựng các kỹ thuật
khai thác nguồn tài nguyên đất, nớc, khí hậu rất phù hợp với hoàn cảnh của
họ. Tính đa dạng và địa phơng hoá cao độ của các tri thức và kỹ thuật bản địa
làm cho chúng ta rất khó khái quát hoá chúng, vả lại việc khái quát hoá cao độ
sẽ làm mất tính địa phơng và cũng làm mất luôn giá trị ứng dụng của chúng
19
[24]. Nói chung ở miền núi, ruộng đợc cày bừa nhiều lần, nếu đã giầm thì
dùng trâu quần đảo nhiều lần cho rơm rạ trộn với bùn chóng hoai mục. Bờ
đợc làm rất công phu, vít kín lỗ thủng và là nhẵn, bảo đảm giữ nớc suốt vụ.
Trên ruộng cạn cây trồng đợc bón cả phân chuồng và cả rác hun khói. Còn
việc quản lý nuớc là một kỹ thuật rất thuần thục của cộng đồng ngời Dao và
ngời HMông ở phía Bắc. Mặc dù địa hình rất phức tạp nớc đợc dẫn vào
ruộng khá chủ động và tiết kiệm .
Việc chọn giống, để giống: đối với giống lúa, đồng bào dân tộc chọn
từng bông ngay tại ruộng để làm giống, và cất giữ riêng từng nơi cho nên
giống đã trồng vài vụ thì vấn đề để lẫn giống ít xảy ra... Giống đợc cất giữ
trên gác cao, khô ráo quanh năm, thờng ở vị trí trên bếp lửa nên có độ ẩm rất
thấp và tránh đợc côn trùng. Nhờ vậy mà giống ít bị mọt, hạt đều và tỷ lệ nẩy
mầm cao. Còn giống ngô cũng đợc bà con chọn lựa rất kỹ và bảo quản trong
các quả bầu khô trộn với tro và đặt nơi cao trên bếp, tránh ẩm và nóng. Về
việc sắp xếp thời vụ, bảo vệ đất, nông nghiệp hữu cơ, sử dụng lao động... mỗi
nơi đều có kinh nghiệm riêng phù hợp với địa phơng mình mà ngời từ ngoài
đến phải nghiên cứu kế thừa trớc khi đa vào những cải tiến.
Bên cạnh những kiến thức về kỹ thuật tiên tiến thì tri thức ở địa phơng
cũng rất quan trọng, bởi nó đợc tích luỹ qua kinh nghiệm to lớn nhờ tiếp xúc
chặt chẽ với thiên nhiên, dới áp lực chọn lọc trong quá trình tiến hoá của sinh
đồng bào không cuốc lỗ gieo hạt mà mà vại nh gieo mạ. Bằng cách này mật
độ cây lúa sẽ cao hơn, chống đợc xói mòn, mà vẫn đủ dinh dỡng cho cây.
Vài ba năm sau khi đất bắt đầu nghèo đồng bào gieo vài mùa đậu. Đậu cho
năng suất cao, vừa cải thiện điều kiện đất [40].
Nhng cho đến nay cuộc sống của một số đồng bào vẫn phải đối mặt
với những khó khăn về cả vật chất lẫn tinh thần. Từ xa, đến nay n
ơng rẫy
vẫn là nguồn sống quan trọng của đồng bào miền núi vùng cao. Đây chính là
nơi xảy ra những tác động mạnh mẽ nhất giữa con ngời với sinh quyển.
21
Trong nông nghiệp, canh tác nơng rẫy là hình thái nông nghiệp cổ sơ nhất và
là hình thức tàn phá tài nguyên rừng. Đó là phơng thức đốt phá, là khởi đầu
của nền trồng trọt. Hiện nay nó vẫn còn phổ biến ở nhiều vùng dân tộc đặc
biệt là ở những nơi vùng cao biên giới. Việc canh tác nơng rẫy còn mang tính
quảng canh, nghĩa là họ trồng một thời gian sau đó tiến hành bỏ hoá. Trong
quá trình bỏ hoá, họ không bồi dỡng cho đất bằng bất kỳ hình thức nào, ngay
cả việc trồng cây phân xanh, chính vì thế mà đất đai rất khó hồi phục lại nh
trạng thái ban đầu. Trong những năm gần đây, do dân số tăng lên nhu cầu về
lơng thực của ngời dân vùng cao cũng tăng theo. Hầu hết các khu đất có
khả năng sản xuất nông nghiệp đều đã có chủ và đợc đa vào khai thác sử
dụng. Nên không có đất để mở rộng diện tích canh tác nữa, đòi hỏi họ phải
duy trì trên các khu đất cũ và cũng từ đây nguồn phân vô cơ mới đợc bà con
đa vào sử dụng. Do đồng bào dân tộc ở vùng núi cao chỉ có thể tiến hành
trồng một vụ một năm, ngời nông dân ở đây trồng nhiều lúa, ngô, khoai khác
nhau. Đồng thời họ đã biết trồng xen các loại rau màu trên nơng ngô. Theo
Nguyễn Văn Thắng (1995) [37], hiện nay ngời dân tại một số địa phơng đã
biết trồng xen nhiều loại cây trồng trên cùng một mảnh nơng, trồng cây theo
băng để hạn chế xói mòn đất. Phơng thức canh tác này không những bảo vệ
đợc đất mà cung cấp chất dinh dỡng cho đất. Đây chính là kinh nghiệm sản
phần ổn định đời sống và giữ gìn cảnh quan môi trờng. Đối với ruộng lúa
nớc, hiện tại nhiều hộ gia đình đã sử dụng một số giống lúa mới, chủ yếu là
giống của Trung Quốc. Việc sử dụng giống lúa mới yêu cầu sử dụng nhiều
phân hóa học và thuốc trừ sâu hơn. Hiện có khoảng dới 50% hộ gia đình sử
dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu. Năng suất thu đợc từ giống lúa mới với
đầu t đủ phân hóa học và thuốc trừ sâu cao hơn 20 - 30%. Tuy nhiên, mỗi
năm ở đây vẫn chỉ canh tác đợc có một vụ.
Cây lơng thực chính trồng trên n
ơng rẫy trên núi cao là sắn. Sắn đợc
thu hoạch sau hai năm. Đôi khi ngời dân cũng trồng lạc và đậu, nhng đấy
23
cũng chỉ là trờng hợp hạn hữu. Đậu, lạc và rau thờng trồng xen trên đất
trồng chè hoặc trong vờn nhà.
Phơng thức sử dụng đất của các cộng đồng ngời Dao và ngời
HMông ở Sa Pa chủ yếu bao gồm việc xây dựng ruộng bậc thang và làm
nơng rẫy trồng sắn, ngô. Tại những nơi có đủ nguồn nớc cung cấp và đất
không dốc lắm, ruộng bậc thang lúa nớc đợc xây dựng. Cả hai nhóm dân
tộc này có kiến thức cơ bản về làm ruộng bậc thang và cách bảo vệ ruộng bậc
thang khỏi bị xói mòn và sạt lở, chủ yếu bằng cách lắp đặt hệ thống thoát
nớc bằng ống tre để duy trì nớc ở mức độ an toàn. Hiện nay, họ chỉ làm một
vụ trong một năm. Nơng rẫy đợc canh tác theo hình thức chọc tỉa: chọc lỗ
nhỏ trên mặt đất để gieo hạt, chứ không dùng cày. Thờng ngời ta không
chặt trắng toàn bộ rừng để làm rẫy, mà giữ lại một số bụi cây để chống xói
mòn đất. Phơng pháp này tạo mô hình trồng sắn, lúa và ngô bền vững trên
nơng, duy trì dinh dỡng của đất. Theo truyền thống, ngời HMông chủ yếu
trồng ngô vì họ sống trên các sờn núi cao, nơi điều kiện tự nhiên phù hợp cho
trồng ngô. Thông thờng bữa ăn của ngời HMông không có cơm, cho mãi
đến những năm 60, lơng thực chính của họ vẫn là ngô. Ngời Dao, và cả một
số tộc ngời HMông, trồng sắn trên các sờn đồi dốc.
định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội [30].
Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng
đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các
loại cây trồng và gia súc, các phơng pháp trồng trọt và chăn nuôi, cờng độ
lao động, vốn đầu t, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá
của sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995) [30].
Kết quả nghiên cứu về bảo vệ đất tại một số vùng của Indonesia cho
thấy: ở thềm đất dốc biện pháp phủ đất kết hợp với làm đất tối thiểu tốt hơn
làm đất xới xáo mà không phủ đất. Hệ thống xen canh với cây họ đậu làm
giảm xói mòn và dòng chảy. Phơng pháp bảo vệ đất tốt nhất là dùng dải băng
25