THỰC TRẠNG GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN
TỘC THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CHO HỌC SINH
TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ HUYỆN
QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA
- Đặc điểm kinh tế xã hội và trường phổ thông dân tộc nội
trú huyện Quỳnh Nhai
- Điều kiện địa lý, kinh tế xã hội huyện Quỳnh Nhai
Quỳnh Nhai nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Sơn La. Trước
năm 1908, vùng đất này thuộc châu Quỳnh Nhai, phủ Điện
Biên, tỉnh Hưng Hóa. Từ năm 1955-1962, thuộc khu tự trị
Thái Mèo. Sau khi giải thể hành chính cấp khu năm 1975,
Quỳnh Nhai là huyện thuộc tỉnh Sơn La.
Quỳnh Nhai là một trong 5 huyện nghèo của tỉnh Sơn
La, nằm trong 64 huyện nghèo của cả nước. Tổng diện tích tự
nhiên 106.090 ha. Trước ngày 21/02/2011, huyện Quỳnh Nhai
có 13 đơn vị hành chính, 185 bản. Đến nay, huyện Quỳnh
Nhai có 11 đơn vị hành chính, 191 bản, xóm. Trong đó có 6
xã vùng III, 4 xã vùng II và 01 xã vùng I.
Dân số 61.550 người với 13.695 hộ, huyện có 06 dân
tộc. Trong đó dân tộc Thái 83,35%, dân tộc Kinh 4,37%, dân
tộc Mông 3,96%, dân tộc Kháng 3,96%, dân tộc Dao 1,73%,
dân tộc La Ha 2,5%, dân tộc Khơ Mú 0,05%, dân tộc khác
0,09%.Từ năm 2006, khi khởi công nhà máy thủy điện Sơn
La, Quỳnh Nhai là vùng trọng điểm của Dự án di dân tái định
cư. Huyện phải di chuyển trung tâm hành chính ra Phiêng
Lanh xã Mường Giàng.
1. Về kinh tế: Nông nghiệp vẫn là chính, đến nay
nông thôn mới; thực hiện mục tiêu Quốc gia giảm nghèo...
phấn đấu nâng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện đạt 12.719
tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cả giai đoạn từ
10-12%/năm.
- Trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Quỳnh Nhai
Trường phổ thông dân tộc nội trú Quỳnh Nhai có tiền
thân là trường Thiếu nhi dân tộc huyện Quỳnh Nhai được
UBND tỉnh Sơn La quyết định thành lập ngày 01/9/1979.
Năm học 1983-1984 sáp nhập với trường Thanh niên dân tộc,
trường Bổ túc văn hóa và được gọi là Trường văn hóa tập
trung. Từ năm học 1988- 1989, trường giải thể hệ bổ túc và hệ
vừa học vừa làm, đồng thời xác định lại tên gọi của trường là
trường Thiếu nhi dân tộc nội trú Quỳnh Nhai và chỉ thực hiện
nhiệm vụ giáo dục bậc tiểu học. Năm 1994, trường Thiếu nhi
dân tộc nội trú Quỳnh Nhai đổi tên thành Trường Phổ thông
dân tộc nội trú huyện Quỳnh Nhai. Nhiệm vụ, mục tiêu của
Nhà trường là giáo dục liên cấp I+II (từ lớp 1 đến lớp 9).
Từ năm học 2000- 2001, trường chấm dứt hệ giáo dục
tiểu học, tập trung hoàn chỉnh giáo dục hệ THCS (từ lớp 6
đến lớp 9).
Năm 2009 trường thực hiện nhiệm vụ di dân tái định cư
thủy điện Sơn La. Năm 2010, Nhà trường di chuyển hoàn
toàn về tái định cư ở địa điểm Phiêng Nèn, xã Mường Giàng.
Nhà trường được quy hoạch ổn định trên diện tích 2 ha; cơ sở
vật chất trường, lớp học được đầu tư xây dựng cơ bản kiên cố
hóa, bao gồm: 15 phòng học, trong đó 5 phòng học bộ môn;
Nhà hiệu bộ đủ các phòng và các thiết bị làm việc; khu nội trú
học sinh có 39 phòng được trang bị cơ bản phương tiện sinh
16
45
Khơ
Mú
5
La Ha
14
DT
khác
0
Bảng cho thấy: số học sinh người Thái chiếm tới 60,8%,
sau đó là học sinh người Kháng, người Mông, còn lại là các
dân tộc khác. Vì vậy, các hoạt động trong trường chủ yếu theo
phong tục tập quán người Thái. Các phong tục tập quán của
dân tộc khác vẫn được tôn trọng nhưng vì ít học sinh nên
thường không tổ chức lớn như các hoạt động của học sinh dân
tộc Thái.
Số lượng học sinh của các lớp
Năm học và số học sinh
Tổng
số
60
59
Số lớp
8
2
2
2
2
Học sinh
260
70
69
63
58
Năm học
Tăng 1,2%
Khá
139
53,5%
60%
Giảm 6,5%
Trung bình
102
39,2%
35%
Giảm 4,2%
Yếu
3
1,2%
0
82%
Tăng 3%
Khá
25
9,6%
16%
Giảm 6,4%
Trung bình
14
5,4%
2%
Tăng 3,4%
Yếu
0
0
2016 -
Thừ Thiế
2017
2017
3
3
Giáo viên
19
17
Giáo vụ
1
1
Chức danh
Cán bộ quản
lí
Ghi chú
1
Văn thư
1
1
Thư viện
1
1
Thiết bị
1
1
1
1
Bảo vệ
2
2
Làm rõ thực trạng các giá trị văn hóa dân tộc Thái và
thực trạng giáo dục bắc sắc văn hóa dân tộc Thái dựa cộng
đồng cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện
Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La để có cơ sở thực tiễn đề xuất các
biện pháp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Thái cho học sinh.
- Nội dung khảo sát
- Thực trạng các hoạt động văn hóa của dân tộc Thái ở
huyện Quỳnh Nhai và nhận thức của cán bộ lãnh đạo, học
sinh, cha mẹ học sinh, giáo viên về các giá trị văn hóa và sự
cần thiết giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc Thái cho học sinh
- Thực trạng hoạt động giáo dục bản bản sắc văn hóa dân
tộc Thái dựa vào cộng đồng cho học sinh trường Phổ thông
dân tộc nội trú Quỳnh Nhai.
- Đối tượng khảo sát
Nghiên cứu được tiến hành trên 30 giáo viên, 70 cán bộ
chính quyền và cán bộ văn hóa của huyện và xã, 120 học sinh
người Thái và 120 người dân là cha mẹ học sinh người Thái
của trường phổ thông dân tộc nội trú. Tổng số người được
khảo sát là 340 người.
- Phương pháp khảo sát
Phương pháp điều bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp
chủ yếu của đề tài bằng cách xây dựng 4 bộ câu hỏi cho 4 đối
tượng: giáo viên, cán bộ lãnh đạo, học sinh, cha mẹ học sinh.
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn, tham khảo ý kiến
cán bộ quản lý lãnh đạo chính quyền và ngành văn hóa, ngành
giáo dục và đào tạo của huyện, cha mẹ học sinh và học sinh.
Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động văn hóa,
hoạt động giáo dục giữ gìn bản sắc văn hóa cho học sinh bằng
%
100
120
100
92,8
108
90,0
85,7
102
85,0
82,8
98
81,7
Hệ sinh thái nhân văn (Văn hóa 70
thung lũng)
bảo tồn. Cả bốn giá trị cơ bản đều có số ý kiến cho rằng cần
bảo tồn từ 81,7% trở lên. Trong đó, giá trị hệ sinh thái nhân
văn được 100% ý kiến của cán bộ quản lý và người dân là
những người dân tộc Thái đồng ý phải bảo tồn. Đây là điều dễ
hiểu bởi hệ sinh thái nhân văn gắn với đặc điểm quần cư
(trong thung lũng), gắn với các đặc điểm nhà cửa, ăn, ở và lối
sống gần gũi với thiên nhiên của cộng đồng người Thái. Đây
là những đặc điểm về mặt hình thức rất dễ nhận ra ở người
Thái. Đồng thời là những nét đẹp từ nếp nhà đến ẩm thực và
các hoạt động khác.
Các giá trị khác của văn hóa dân tộc Thái như đặc trưng
lao động sản xuất, nền nếp sinh hoạt, vui chơi giải trí, các
thiết chế gia đình, xã hội và hệ thống tư tưởng, tri thức của
người Thái cũng được đa số cán bộ quản lý và người dân thấy
cần được bảo tồn.
Tuy nhiên, bốn đặc trưng văn hóa này luôn vận động,
phát triển nên việc bảo tồn chúng cần được các thế hệ người
Thái quan tâm giữ gìn và phát triển phù hợp với sự thay đổi
của các điều kiện kinh tế xã hội, nhưng không làm thay đổi
bản chất của chúng.
Đây được coi là quá trình văn hóa dân tộc người mở. Vì
vậy, rất khó bảo tồn một nền văn hóa nào thuần khiết mà có ít
nhiều sự giao thoa. Tuy nhiên, bảo tồn có nghĩa phải giữ được
bản chất của các giá trị đó mới có thể làm cho văn hóa dân tộc
vừa phát triển vừa giữ được bản sắc; không đánh mất bản sắc
nhưng cũng không đóng kín, bảo thủ. Yêu cầu này đặt ra cho
giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc phải chọn lọc được các nội
dung giáo dục phù hợp và - Ý kiến của giáo viên và học sinh
100
110
91,7
25
83,3
104
86,7
23
76,7
92
76,7
28
93,3
116
96,7
ở khác đi sẽ rất dễ phá vỡ các nếp sinh hoạt của cộng đồng.
Tuy nhiên, một số học sinh không đồng tình với quan điểm
này. Điều đó cho thấy: đã có một số học sinh có điều kiện ăn
ở khác (ở thị trấn hoặc khu dân cư đông đúc có nhiều dân tộc
khác sinh sống) đã có những suy nghĩ khác nên không đồng
tình với quan điểm này.
Các giá trị khác cũng được đa số các giáo viên và sinh
thấy cần được bảo tồn. Nhưng giá trị Thiết chế xã hội- gia
đình, bản mường chỉ được trên 70% số ý kiến của giáo viên
và học sinh đồng ý. Điều đó có nghĩa, giáo viên và học sinh
trường phổ thông dân tộc nội trú đã không thấy cần bảo tồn
một số thiết chế không phù hợp hoặc không chấp nhận các
thiết chế đó. Ví dụ các phong tục lấy vợ lấy chồng sớm, cha
mẹ quyết định mọi việc của con...Do đó, đây là một gợi ý rất
quan trọng cho việc bảo tồn phát triển các giá trị văn hóa của
dân tộc Thái sao cho phù hợp yêu cầu giữ gìn bản sắc và phát
triển văn hóa, giao thoa nhưng không bị đánh mất bản sắc.
Giá trịHệ thống tư tưởng và tri thức của dân tộc lại được
tuyệt đại đa số (trên 90%) giáo viên và học sinh thấy cần được
bảo tồn. Điều này có nghĩa hệ tư tưởng và tri thức của người
Thái được mọi người nhận thức rõ giá trị của nó và thấy cần
giữ gìn và phát huy. Có thể các giáo viên và học sinh là những
người được học hành nhiều, được tiếp xúc thường xuyên với
các dân tộc khác nên có điều kiện sơ sánh và nhận thức được
giá trị của tư tưởng và tri thức của dân tộc mình.
Dân tộc Thái là một trong 54 dân tộc anh em ở nước ta.
Đến nay, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều thuận lợi để các
dân tộc phát huy bản sắc văn hóa củ mình thì người Thái đã
Mức độ cần thiết
SL
%
S
%
SL
%
SL
%
70,
16
73,
8
2
6
0
0
10
8,3
14
6,4
4
Không cần thiết
0
0
0
0
0
0
0
10
0
25
20,
Cần thiết
3
9
30,
85
0
Qua số liệu bảng có thể nhận xét: Đa số cán bộ quản lý,
giáo viên và người dân đều nhận thầy sự cần thiết phải giáo
dục bản sắc văn hóa dân tộc Thái cho học sinh. Nếu tính tổng
cả ba đối tượng được khảo sát thì có tới 93,6% cho rằng cần
và rất cấn giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh. Đối
với giáo viên, những người có hiểu biết và có nhiệm vụ giáo
dục toàn diện cho học sinh thì 100% sô sý kiến cho rằng cần
và rất cần giáo dục bản sắ văn hóa dân tộc Thái cho học sinh.
bày dưới đây.
- Nhu cầu được giáo dục bản sắc văn hóa Thái của học
sinh
Ý kiến
T
Nhu cầu được giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
SL
%
115
95,8
101
84,2
109
90,8
95
79,2
6
Muốn biết văn hóa các dân tộc khác
112
93,3
7
Muốn được tham gia nhiều lễ hội của dân tộc mình
117
97,5
8
Các nhu cầu khác…
0
0
Số liệu bảng cho thấy: Các em học sinh người Thái trường
phổ thông dân tộc nội trú huyện Quỳnh Nhai muốn được hiểu
biết những vấn đề khá cụ thể bản sắc văn hóa dân tộc Thái. Các
nội dung các em muốn được giáo dục khá đa dạng. Trong đó các
đánh giá về văn hóa dân tộc mình. Như thế, các em rất muốn
được biết sự đánh giá của các dân tộc khác về văn hóa dân tộc
mình và quảng bá văn hóa dân tộc mình với mọi người. Đây
là biểu hiện của lòng tự hào về bản sắc, giá trị văn hóa dân tộc
của các em học sinh người Thái, điều rất đáng hoan nghênh
và phát huy ở các em.
Như vậy, để thỏa mãn nhu cầu được giáo dục của các
em, riêng nhà trường không thể tổ chức các hoạt động và các
lễ hội, không thể chỉ rõ được những gì các em cần giữ gìn,
những gì cần phát triển. Nhà trường cần phải dựa vào cộng
đồng mới có thể giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho các em.
Vì vậy, đây là một gợi ý quan trọng để nhà trường, cộng đồng
có phương thức giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho các em.
- Thực trạng giáo dục bản sắc văn hóa dựa vào cộng đồng
cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú
- Xác định các mục tiêu giáo dục bản sắc văn hóa dựa vào
cộng đồng cho học sinh
Để có thể dựa vào cộng đồng tổ chức giáo dục bản sắc
văn hóa dân tộc Thái cho học sinh một cách hiệu quả. Cần xác
định rõ được mục tiêu giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho
học sinh trên cơ sở phát huy được thế mạnh của cộng đồng,
huy động được sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt
động giáo dục. Nội dung hoạt động này được các đối tượng
đánh giá như sau:
- Kết quả xác định mục tiêu giáo dục bản sắc văn hóa dựa
vào cộng đồng cho học sinh
Các mục tiêu