Sáng kiến kinh nghiệm Về cách lấy ví dụ
trong giảng dạy phân môn tiếng việt
************
I- Đặt vấn đề.
1. Nh chúng ta đã biết ngôn ngữ là sản phẩm của t duy.Ngôn ngữ là yếu tố quan
trọng để tạo thành văn bản nói và văn bản viết.Một tác phẩm văn chơng của các nhà văn
hay một bài viết của học sinh chỉ hay khi ngoài các thao tác thể hiện kỹ thuật, t tởng
khác trong đó phải nói tới các thủ pháp nghệ thuật ngôn từ của ngời viết.Để đạt đợc mục
đích trên phải dạy Tiếng Việt cho các thế hệ học sinh. Để dạy Tiếng Việt cho các em
đầu tiên phải bàn đến phơng pháp dạy bộ môn này.
2. Việc dạy học ở trờng THCS còn nhiều bất cập
+ GV còn lúng túng khi soạn và dạy Tiếng Việt với quan niệm Dạy Tiếng Việt là
khô, là khó.
Trong khi dạy Tiếng Việt GV còn ngại sử dụng đồ dùng dạy học nên HS còn tiếp
thu một cách thụ động.
Từ đó dẫn tới kết quả học Tiếng Việt của học sinh hạn chế. Một số học sinh không
thích học giờ Tiếng Việt.
- Khả năng nghe, nói, đọc, viết hạn chế.
- Khả năng vận dụng từ Tiếng Việt còn yếu: Sai từ vựng, sai câu, diễn đạt vụng về...
Trong phạm vi có hạn với khuân khổ bài viết của mình, sau đây tôi xin trình bày một số
vấn đề chính liên quan đến việc dạy phân môn Tiếng Việt để đạt hiệu quả cao trong giờ dạy
Tiếng Việt.
II- Giải quyết vấn đề
1. Trong chơng trình phân môn Tiếng Việt ở cấp THCS nói chung và sách Ngữ văn 9 nói
riêng, hầu nh các bài học đều có hệ thống ngữ liệu khá đầy đủ, có thể giúp cho giáo viên
và học sinh tiến hành tốt một tiết Tiếng Việt. Từ lâu trong khi giảng dạy các bài học
Tiếng Việt đã có nhiều giáo viên mạnh dạn lấy thêm nhiều ngữ liệu ngoài SGK để cung
cấp cho học sinh, nhng bên cạnh đó có nhiều giáo viên chỉ khai thác ví dụ trong SGK mà
thôi. Có nhiều ý kiến cho rằng giáo viên dạy đã quá lạm dụng các ngữ liệu ngoài SGK
mà không khai thác kỹ các ngữ liệu có sẵn trong sách ...
Nói tới vấn đề này đã có nhiều ý kiến khác nhau ... vì có nhiều ngời cho rằng các ví dụ
vào cấu trúc cú pháp của câu).
Từ chắc và từ có lẽ đóng vai trò gì trong câu? (Thể hiện cái nhìn của ngời nói đối với
sự việc trong câu).
Hai từ ấy thể hiện nhận định gì của ngời nói đối với sự việc trong câu (chắc thể hiện
độ tin cậy cao... ; có lẽ thể hiện thái độ tin cậy không chắc chắn.
Nếu bỏ hai từ chắc, có lẽ ý nghĩa sự việc trong câu có thay đổi không? Vì sao? (không
thay đổi vì hai từ này không phải là thông tin sự việc của câu).
Từ việc phân tích ngữ liệu học sinh thấy đợc từ chắc và từ có lẽ là thành phần
tình thái. Giáo viên có thể lấy thêm ví dụ ngoài SGK ( trong các văn bản học sinh đã
học) về việc sử dụng tình thái.
VD1: Chả nhẽ cái bọn ở làng đổ đốn đến thế đợc
VD2: Theo tôi đọc sách cần phải đọc rộng và sâu.
VD3: Tha cô hình nh bạn ấy bị ốm ạ.
Nh vậy đối với phần này nếu ta chỉ sử dụng các ngữ liệu trong SGK thì ta cha thể giúp học sinh
nắm đợc tình thái trong câu, có những loại khác nhau, có những tác dụng khác nhau và đôi khi nó
diễn đạt rất tinh tế, gợi cho ngời đọc nhiều suy ngẫm và triết lý sâu sắc. Vậy để nâng cao
khắc sâu kiến thức cho học sinh lớp 9 thì ở phần này giáo viên nên chuẩn bị sẵn các ngữ liệu...
Hay cũng trong mục II thành phần cảm thán (trang 18,19) thì ngoài các ngữ liệu về thành phần
cảm thán mà SGK đa ra giáo viên cũng cần lấy thêm ví dụ khác thông dụng có trong đời sống,
trong thơ văn. Sau đó tiếp tục lấy ví dụ để phân biệt sự khác nhau giữa thành phần cảm thán và
câu cảm thán.
VD: ơ kìa, cô bé nói hay sao
Nhà của tôi ai lại hỏi chào
( Tố Hữu)
VD: Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
(Thế Lữ)
( Khi đặt sau phần cảm thán dấu ! thì trở thành câu cảm thán)
Không chỉ trong các bài học mà trong các tiết kiểm tra giáo viên cũng có thể lấy thêm ngữ liệu ở
ngoài SGK để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ... còn nhiều các bài học khác về
phân môn Tiếng Việt trong chơng trình ngữ văn 9 mà trong phạm vi bài viết này tôi cha có điều