Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Liên Bang Nga –Tình hình và triển vọng - Pdf 60

Trờng đại học ngoại thơng
Khoa kinh tế ngoại thơng
Khoá luận tốt nghiệp
Tên đề tài
Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Liên Bang Nga- tình hình
và triển vọng
Giáo viên hớng dẫn: PGS-TS Nguyễn Phúc Khanh
Sinh viên thực hiện : Phùng Thế Anh
Lớp Nga-K37C
Hà nội 12-2002
lời nói đầu
Trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới Việt Nam đã đạt đợc một
số thành tựu đáng kể, từ một nớc kinh tế chậm phát triển đã trở thành một trong
những quốc gia có tốc độ tăng trởng nhanh nhất khu vực Đông Nam á và thế
giới. Một trong những thành tựu của Kinh tế đối ngoại Việt Nam trong những
năm đổi mới vừa qua là việc cho ra đời Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
Có thể nói Đầu t trực tiếp nớc ngoài là một trong những nhân tố quan
trọng nhất của nền Kinh tế đối ngoại, nó phản ảnh tình hình và xu thế phát triển
kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua việc giải quyết vấn đề thiếu
vốn, đẩy mạnh quá trình đổi mới và chuyển dịch cơ cấu nền Kinh tế, phát triển
khoa học công nghệ, giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao tay nghề và trình độ
chuyên môn của đội ngũ lao động, thúc đẩy xuất khẩu
Tuy nhiên thực tế của hoạt động Kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động
Đầu t nớc ngoài nói riêng của Việt Nam trong những năm qua vẫn còn nhiều bất
cập và hạn chế. Điều này đợc lý giải bởi nhiều nguyên nhân nhng có thể thấy
đầu tiên là do luật pháp và cơ chế chính sách của nhà nớc ta còn cha hoàn thiện,
còn nhiều thiếu sót và do chúng ta còn thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý và
điều hành nền Kinh tế đối ngoại. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải tích cực tìm
hiểu và học hỏi kinh nghiệm của các nớc trên thế giới, nhất là các nớc có nền
kinh tế đang chuyển đổi giống Việt Nam. Liên Bang Nga chính là một ví dụ điển
hình để Việt Nam chúng ta nghiên cứu và rút ra bài học kinh nghiệm. Sở dĩ nh

nghiên cứu phân tích tổng hợp số liệu kết hợp với so sánh đối chiếu để rút ra
những nhận xét đánh giá và kiến nghị.
Ngoài lời mở đầu, kết luận mục lục và tài liệu tham khảo khoá luận này
gồm 3 chơng:
Chơng I: Khái quát chung về đầu t trực tiếp nớc ngoài và luật đầu t nớc
ngoài của Liên bang Nga
Chơng II: Tình hình đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Liên Bang Nga trong
những năm gần đây ( 1995-2002)
Chơng III: Triển vọng đầu t trực tiếp nớc ngoài của Liên Bang Nga trong
những năm tới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Do trình độ và điều kiện thu thập thông tin còn hạn chế nên chắc chắn
Khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, ngời viết rất mong nhận đợc sự
thông cảm và đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn sinh viên để khoá luận đợc
hoàn thiện hơn. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn PGS-TS Nguyễn Phúc Khanh,
ngời đã tận tình hớng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này. Tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến các thầy cô giáo bộ môn tiếng Nga trờng Đại học ngoại thơng
(ĐHNT), các cán bộ thuộc trung tâm nghiên cứu Châu Âu, Viện nghiên cứu kinh
tế quốc tế, th viện Quốc gia, th viện trờng ĐHNT và các bạn sinh viên
Hà Nội 12-2002
Chơng I:
Khái quát chung về đầu t Trực tiếp nớc ngoài
và luật đầu t nớc ngoài của Liên bang Nga .
I. KháI niệm về đầu t trực tiếp nớc ngoài:
1. Khái niệm và đặc trng của đầu t trực tiếp nớc ngoài:
Quyền sở hữu và sự khác nhau về các yếu tố sản xuất, vị trí địa lý, tài
nguyên thiên nhiên và trình độ phát triển không đồng đều về lực lợng sản xuất
đã thúc đẩy sự trao đổi và phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so sánh
giữa các quốc gia, đồng thời cùng với sự khác nhau giữa nhu cầu và khả năng
tích luỹ về vốn ở các nớc đã làm gia tăng nhu cầu đầu t ra nớc ngoài để xâm

thổ.
- Bên nớc ngoài trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh của doanh nghiệp,
nên họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và đa ra các quyết định có lợi nhất cho
việc đầu t. Vì vậy mức độ khả thi của công cuộc đầu t khá cao, đặc biệt trong
việc tiếp cận thị trờng.
Các chủ đầu t trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn
và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động vốn của mình tuỳ theo mức độ góp
vốn. Các chủ đầu t nớc ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định
của dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài tuỳ theo vốn của từng nớc (chẳng hạn, Mỹ
quy định là 10%, một số nớc khác là 20% hoặc 25%, các nớc kinh tế thị trờng
phơng tây quy định lợng vốn này phải chiếm trên 10%. Theo Điều 8 của Luật
đầu t nớc ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 thì phần góp vốn của bên nớc
ngoài hoặc các bên nớc ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh
không dới 30% vốn pháp định trừ trờng hợp do Chính phủ).
- Do quyền lợi của chủ đầu t nớc ngoài gắn chặt với lợi ích do đầu t đem
lại, cho nên có thể lựa chọn kỹ thuật, công nghệ thích hợp, nâng cao dần trình độ
quản lý, tay nghề cho công nhân ở nớc tiếp nhận đầu t.
Từ khái niệm FDI đã nêu, vấn đề cần lu ý là khi tính lợng FDI thu hút đợc
chỉ nên tính phần vốn do bên ngoài đa vào. Do vậy trong các dự án liên doanh
với nớc ngoài, thì vốn FDI của dự án chỉ tính phần vốn pháp định của nhà đầu t
nớc ngoài và phần vốn doanh nghiệp liên doanh vay nớc ngoài. Thực tế ở Việt
Nam, khi tính vốn FDI trong các doanh nghiệp liên doanh vay trong nớc. Cách
tính này cha phù hợp với cách tính vốn FDI của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và
ngân hàng thế giới (WB).
2. Vai trò của FDI:
FDI là một đặc trng nổi bật của nền kinh tế thế giới hiện đại, một yếu tố
quan trọng thúc đẩy toàn quá trình toàn cầu hoá. Trên phơng diện lý thuyết cũng
nh thực tiễn, khó có một lợi ích nào không đòi hỏi chi phí. FDI mang lại lợi ích
và rủi ro cho cả nớc chủ đầu t và nớc tiếp nhận đầu t. Tác động của FDI đợc thể
hiện:

rút ngắn) sang các nớc kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, kéo dài thêm chu
kỳ sống của sản phẩm, hoặc để khấu hao mau, cũng nh để tăng sản xuất tiêu thụ,
giúp thu hồi vốn và tăng thêm lợi nhuận.
FDI giúp các n ớc chủ đầu t xây dựng đ ợc thị tr ờng cung cấp nguyên vật
liệu ổn định với giá cả phải chăng. Nhiều nớc nhận đầu t có tài nguyên dồi dào,
nhng do hạn chế về tiền vốn, kỹ thuật, công nghệ cho nên những tài nguyên cha
đợc khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả. Thông qua việc đầu t khai thác
tài nguyên (nhất là dầu thô), các nớc chủ đầu t ổn định đợc nguồn nguyên liệu
nhập khẩu phục vụ cho ngành sản xuất ở nớc mình.
Việc đầu t ra nớc ngoài còn ảnh hởng đến cán cân thanh toán của nớc đầu
t. Do việc chuyển một phần lợi nhuận về nớc nên có ảnh hởng tích cực, do lu
động vốn ra bên ngoài nên có ảnh hởng tiêu cực, tạm thời. Trong những năm có
đầu t ra nớc ngoài, chi tiêu bên ngoài của nớc đầu t tăng lên và gây ra sự thâm
hụt tạm thời trong cán cân thanh toán. vì vậy nó khiến cho một số ngành trong n-
ớc không đợc đầu t đầy đủ. Sự thâm hụt này dần dần đợc giảm bớt nhờ việc xuất
khẩu t bản và thiết bị, phụ tùng, máy móc sau đó là dòng lợi nhuận t bản
khổng lồ đổ về nớc. Các chuyên gia ớc tính thời gian hoàn vốn cho một dòng t
bản trung bình từ 5 đến 10 năm.
Một yếu tố ảnh hởng khác nữa là việc xuất khẩu t bản có nguy cơ tạo ra
thất nghiệp ở nớc đầu t. Các nhà đầu t t bản đầu t ra nớc ngoài nhằm sử dụng lao
động không lành nghề, giá rẻ ở các nớc đang phát triển cho nên nó làm tăng thất
nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề ở nớc đầu t. Thêm vào đó nớc
chủ nhà lại có thể xuất khẩu sang nớc đầu t hoặc thay cho việc nhập khẩu trớc
đây từ nớc đầu t càng làm cho nguy cơ thất nghiệp thêm trầm trọng. Mặt khác,
do sản xuất và viếc làm tại nớc chủ nhà tăng lên mà nhập khẩu của họ cũng tăng,
tất nhiên trong đó có nhập khẩu từ nớc đầu t. Điều đó lại có tác động làm tăng
việc làm cho công nhân lành nghề, các cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý. Bởi vậy
mà FDI đã làm thay đổi cơ cấu việc làm trong các n ớc đầu t .
Nh vậy, tác động của FDI đối với nớc chủ đầu t là rất lớn. Tuy nhiên, nếu
việc đầu t ra nớc ngoài quá nhiều có thể làm giảm nguồn vốn cần thiết cho đầu t

hàng hoá xuất khẩu sản xuất trong nớc với sự giúp đỡ và xúc tiến của FDI, nớc
tiếp nhận đầu t có điều kiện tiếp cận, mở mang thị trờng quốc tế, cũng nh mở
rộng ngay thị trờng nội địa.
Một ví dụ điển hìnhvề điều này là ngành công nghiệp sản xuất ô tô ở các
nớc Đông Nam á. Các hãng sản xuất ô tô nổi tiếng nh Toyota, Honda, Nissan,
Mazda đều thực hiện chiến lợc lập mạng lới sản xuất xuyên biên giới, theo đó
các điểm sản xuất và lắp ráp đều đợc đặt ở các nớc khác nhau và đợc gắn bó với
nhau thông qua buôn bán nội bộ công ty. Quá trình này đợc đẩy mạnh bởi sự tự
do hoá thơng mại trong khu vực.
Có thể nói, FDI chính là một trong các phơng cách hiệu quả nhất để các n-
ớc, nhất là các nớc đang phát triển tiếp cận nhanh, rẻ với các thành quả tiến bộ
chung của thế giới không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong nhiều lĩnh
vực khác của xã hội, và đóng vai trò nh một cú huých ban đầu tạo đà cho sự
cất cánh của nền kinh tế.
Thứ hai, FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm
quản lý kinh doanh của n ớc ngoài.
Khi nói đến việc bắt nhịp vào làn sóng chuyển dịch cơ cấu nh trên là đã
hàm ý việc chuyển giao công nghệ vốn có của mình, còn đối với các nớc đang
phát triển trình độ công nghệ lạc hậu, thấp kém thì FDI đợc coi là phơng tiện hữu
hiệu để nhập công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoài vào bằng các con đờng
khác nhau.
Hoặc, thông qua việc mua bằng sáng chế phát minh và cải tiến công nghệ
nhập khẩu thành công nghệ phù hợp cho mình (nh Nhật Bản và Hàn Quốc đã đi).
Nó giúp các nớc này tạo lập đợc nền tảng công nghệ riêng và giảm mức độ phụ
thuộc vào công nghệ nớc ngoài.
Hoặc, khi triển khai dự án đầu t vào một nớc, chủ đầu t nớc ngoài không
chỉ chuyển vào đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật nh máy móc,
thiết bị, nguyên vật liệu (còn gọi là công nghệ cứng) và vốn vô hình nh công
nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cận thị trờng (còn gọi là
công nghệ mềm) cũng nh đa các chuyên gia nớc ngoài vào hoặc đào tạo các

định trong một số ngành của nền kinh tế. ở những nền kinh tế mới công nghiệp
hoá, đầu t của các công ty xuyên quốc gia tập chung vào lĩnh vực chế tạo. Ví dụ,
ở Singapore, các công ty nớc ngoài chiếm từ 66-75% số t bản đầu t vào công
nghiệp chế tạo trong khoảng thời gian 1977-1981; ở Thái Lan năm 1988 FDI
vào nông nghiệp, khai thác mỏ, thăm dò dầu khí chiếm 12,2% còn gần 90% tập
chung vào công nghiệp. Điều này giải thích tại sao FDI đã đóng vai trò tích cực
trong việc thúc đẩy sản xuất xuất khẩu sản phẩm công nghiệp ở Thái Lan.
Thứ t , FDI ảnh h ởng tích cực đối với cán cân thanh toán.
Sự tác động của FDI đối với cán cân thanh toán các nớc đang phát triển
vẫn còn đang đợc các nhà kinh tế bàn luận. Nếu xét FDI trong mối quan hệ với
các nguồn vốn nớc ngoài khác nh tín dụng quốc tế, chứng khoán quốc tế,ODA
thì FDI cho phép các nớc đang phát triển tránh đợc gánh nặng nợ nần và do đó
ảnh hởng tích cực đến cán cân thanh toán trong thời gian trợc mắt. Tuy nhiên về
dài hạn, để phân tích ảnh hởng của FDI đến cán cân thanh toán nh thế nào thì
cần phải xem xét trong một thời kỳ nhất định với các thông số kiểm soát đợc. Dù
xem xét dới góc độ nào, các nhà kinh tế đề có một kết luận là nhìn chung sự gia
tăng dòng FDI có ảnh hởng tích cực đối với cán cân thanh toán của các nớc đang
phát triển, và điều quan trọng hơn nữa là FDI có hiệu ứng tích cực đối với toàn
bộ hệ thống tài chính của nớc nhận đầu t.
Thứ năm, FDI bổ sung nguồn vốn cho sự phát triển, củng cố sức mạnh
đồng bản tệ và thức đẩy sự phát triển thị tr ờng tài chính trong n ớc.
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, các nớc đang phát triển đều bị
thiếu vốn đầu t do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không có tích luỹ nên rất cần nguồn
vốn từ bên ngoài bổ sung cho vốn đầu t phát triển. Loại hình FDI không quy định
mức đầu t vốn tối đa mà chỉ quy định mức tối thiểu do vậy cho phép các nớc sở
tại khai thác đợc nguồn vốn bên ngoài, làm tăng thêm nguồn lực để tăng trởng và
phát triển kinh tế. Nguồn vốn FDI có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống kinh tế xã hội và thờng là vốn đầu t dài hạn, do các nhà
đầu t nớc ngoài tự làm, tự chịu, nên có hiệu quả để tăng trởng kinh tế bền
vững. Hơn nữa, nhờ dòng ngoại tệ và các nguồn lực từ ngoài đa vào, cũng nhờ sự

động bởi tiền lơng trả từ các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thờng lớn hơn
các doanh nghiệp trong nớc góp phần làm mặt bằng tiền lơng trong nớc tăng lên.
Thông qua FDI, một bộ phận dân c có thể có mức thu nhập cao và kéo theo đó là
mức tiêu dùng và tiết kiệm cao thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển cũng
nh mở rộng hoạt động tái đầu t.
Nh vậy rõ ràng là qua sự phân tích ở trên ta thấy việc tiếp nhận vốn FDI
mang lại những lợi ích to lớn cho nớc tiếp nhận đầu t trong quá trình tăng trởng
và phát triển kinh tế. Với những u điểm nổi bật của mình, việc thu hút ngày càng
nhiều FDI đã trở thành chiến lợc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên,
nguồn vốn nớc ngoài dù quan trọng đến đâu cũng không thể đóng vai trò quyết
định đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, bởi vì xét về lâu dài để xem
xét nền kinh tế của mỗi quốc gia có hùng mạnh hay không thì phải xem xét bản
thân nội lực nền kinh tế của quốc gia đó.
Nh đã đề cập ở trên, FDI luôn có tính hai mặt của nó. Ngoài những tác
động tích cực nh đã phân tích ở trên, việc thu hút và sử dụng vốn nớc ngoài đồng
thời có thể mang lại một số tác động tiêu cực:
+ Do chủ đầu t trực tiếp sở hữu và quản lý vốn và vì các mục tiêu của
mình nên họ thờng đầu t vào các ngành, các vĩnh vực nhiều khi không trùng
khớp với mong muốn của nớc sở tại. Nếu không có những quy hoạch và cơ chế
quản lý FDI hữu hiệu, sẽ có thể dẫn đến tình trạng đầu t tràn lan kép hiệu quả, tài
nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, nạn ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng,
cơ chế kinh tế méo mó hoặc chậm đợc cải thiện và tích tụ những nguy cơ mất ổn
định chung của đời sống kinh tế xã hội quốc gia (gắn với việc dòng FDI bị rút
ra đột ngột hoặt sự sa thải công nhân đồng loạt, nợ nần khó thanh toán của các
đối tác trong nớc tham gia các dự án FDI kém hiệu quả )
Mục đích chủ yếu của nhà đầu t là kiếm lời, nên họ chỉ đầu t vào những
nơi có lợi nhất. Vì thế nhiều khi lợng vốn nớc ngoài đã làm gia tăng sự mất cân
đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này có thể gây
mất ổn định về chính trị.
+ Nớc sở tại phải đơng đầu với các chủ đầu t quốc tế giầu kinh nghiệm,

nhng so với đầu t gián tiếp thì mức vốn trung bình của một dự án đầu t thờng nhỏ
hơn nhiều. Do vậy tác động kịp thời của một sự án FDI cũng không túc thì nh
dự án đầu t trực tiếp. Hơn nữa các nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài thờng thiếu sự
trung thành với thị trờng đang đầu t, do đó lờng vốn FDI cũng thất thờng.
Trên đây là những tác động mặt trái có thể FDI với mức độ nặng nhẹ hoặc
dài ngắn còn phụ thuộc vào chính sách đối ứng hiệu quả của nớc sở tại. Điều này
đòi hỏi nớc tiếp nhận đầu t phải có chính sách thích hợp, những biện pháp kiểm
soát hữu hiệu để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của
FDI.
II. Những Quy định chủ yếu trong luật đầu t nớc ngoài
của Liên bang Nga
1. Phạm vi điều chỉnh và các khái niệm cơ bản đợc sử dụng trong luật đầu t
nớc ngoài của Liên bang Nga (đợc ban hành ngày 9/07/1999)
1.1Phạm vi điều chỉnh của luật.
Điều 1 luật đầu t nớc ngoài Liên bang Nga quy định:
- Đạo luật này điều chỉnh các mối quan hệ liên quan tới việc bảo đảm của
nhà nớc đối với những quyền lợi của nhà đầu t nớc ngoài khi thực hiện
việc đầu t trên lãnh thổ Liên bang Nga
- Đạo luật này không áp dụng cho các mối quan hệ có liên quan tới việc
đầu t nớc ngoài vào các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác cũng nh là
vào các tổ chức bảo hiểm. Những quan hệ đó đợc điều chỉnh bởi bộ luật
của Liên bang Nga về ngân hàng và các hoạt động của ngân hàng cũng
nh bộ luật của Liên bang Nga về bảo hiểm.
- Đạo luật này cũng không áp dụng cho các mối quan hệ có liên quan tới
việc đầu t nớc ngoài vào các tổ chức phi thơng mại nhằm mục đích xã
hội nh khoa học, giáo dục đào tạo, hoạt động từ thiện và tôn giáo. Những
lĩnh vực này đợc điều chỉnh bởi bộ luật liên bang Nga về các tổ chức phi
thơng mại.
1.2 Các khái niệm cơ bản đợc sử dụng trong đạo luật này
Theo điều 2 luật đầu t nớc ngoài của Liên bang Nga thì :

vụ và thông tin.
- Đầu t trực tiếp n ớc ngoà i: Là việc nhà đầu t nớc ngoài sở hữu phần vốn
góp tối thiểu bằng 10% tổng số vốn điều lệ của doanh nghiệp đợc thành
lập hay tái thành lập trên lãnh thổ Liên bang Nga dới hình thức các công
ty, hiệp hội kinh tế và các hình thức khác theo quy định của bộ luật dân
sự Liên bang Nga; Việc đầu t vào vốn cố định của các chi nhánh thuộc
pháp nhân nớc ngoài đợc thành lập trên lãnh thổ Liên bang Nga ; nhà
đầu t nớc ngoài với t cách là ngời cho thuê thực hiện việc cho thuê tài
chính (Leasing) trên lãnh thổ Liên bang Nga các trang thiết bị đợc nêu
trong chơng XVI và XVII của danh mục các mặt hàng trong hoạt động
kinh tế đối ngoại của các nớc SNG (Cộng đồng các quốc gia độc lập)
mà có giá trị về mặt thuế quan tối thiểu là một triệu Rúp .
- Dự án đầu t n ớc ngoài : Là một bản luận chứng chứng minh tính hợp lý
về mặt kinh tế, khối lợng và thời hạn thực hiện của đầu t trực tiếp nớc
ngoài, bao gồm cả những giấy tờ tài liệu dự tính sơ bộ đợc soạn thảo
theo những mẫu chuẩn do luật Liên bang Nga quy định.
- Dự án đầu t u đãi : Là dự án đầu t có tổng giá trị vốn đầu t nớc ngoài tối
thiểu là 1 tỷ Rúp (hoặc bằng ngoại có giá trị tơng đơng tính theo tỷ giá
của ngân hàng trung ơng Liên bang Nga tại ngày mà đạo luật này bắt
đầu có hiệu lực), hoặc là dự án đầu t có tỷ trọng đóng góp tối thiểu của
phía nớc ngoài trong vốn điều lệ của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài trên 100 triệu Rúp ( hoặc bằng ngoại tệ có giá trị tơng tính theo tỷ
giá của ngân hàng trung ơng Liên bang Nga tại ngày mà đạo luật này bắt
đầu có hiệu lực), bao gồm cả những dự án nằm trong danh mục do chính
phủ Liên bang Nga quy định.
- Thời hạn hoàn vốn của dự án đầu t : là thời hạn kể từ ngày bắt đầu đợc
cấp vốn của dự án có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài cho đến khi mà hiệu
số giữa tổng lợi nhuận ròng thu đợc so với các khoản khấu trừ hao mòn
và tổng những chi phí đầu t của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài,
hoặc chi nhánh của pháp nhân nớc ngoài, hoặc là ngời cho thuê theo hợp

cũng nh những u đãi theo luật khi chúng thực hiện các hoạt động kinh
doanh trên lãnh thổ Liên bang Nga.
- Nhà đầu t nớc ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài thành lập trên
lãnh thổ Liên bang Nga, trong đó nhà đầu t nớc ngoài góp tồi thiểu là
10% vốn điều lệ, khi tái đầu t đợc hởng đầy đủ sự bảo vệ của pháp luật
cũng nh các bảo đảm và u đãi đợc quy định theo đạo luật này.
- Doanh nghiệp của Nga có t cách là doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
kể từ ngày các nhà đầu t nớc ngoài chính thức là thành viên của doanh
nghiệp. Kể từ thời điểm này doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và nhà
đầu t nớc ngoài sẽ đợc hởng sự bảo vệ uyền lợi, các bảo đảm và u đãi đ-
ợc quy định trong luật này.
Doanh nghiệp sẽ không còn t cách là doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài kể từ ngày nhà đầu t nớc ngoài ra khỏi doanh nghiệp (nếu có
nhiều nhà đầu t nớc ngoài kể từ ngày tất cả các nhà đầu t nớc ngoài ra
khỏi doanh nghiệp ). Từ ngày này doanh nghiệp sẽ không đợc bảo vệ
quyền lợi, hởng sự u đãi và bảo đảm đợc quy định trong luật này.
Việc thành lập và giải thể các doanh nghiệp có vốn đầu t n ớc ngoài đợc quy định
tại điều 20 và 21 của luật nh sau:
-Việc thành lập và giải thể doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc tiến
hành theo các điều kiện và trình tự quy định trong bộ luật dân sự Liên bang Nga
và các luật khác, trừ những trờng hợp quy định trong khoản 2 điều 4 của luật
này.
- Các pháp nhân là các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài phải đăng ký
hoạt động tại cơ quan t pháp trong vòng 1 tháng kể từ ngày xuất trình các chững
từ sau đây:
+Điều lệ của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và thỏa thuận sáng lập
(Trong những trờng hợp luật dân sự Liên bang Nga yêu cầu)
+Bản trích lục từ danh bạ thơng mại của quốc gia, nơi mà tại đó nhà đầu t n-
ớc ngoài đợc thành lập hoặc từ một tài liệu khác xác nhận vị thế pháp nhân của
nhà đầu t nớc ngoài .

mọi sự bảo vệ bởi pháp luật hiện hành và các văn bản pháp luật khác của Liên
bang Nga, các hiệp định quốc tế mà chính phủ Nga đã ký kết. Các quy định đãi
ngộ với các nhà đầu t nớc ngoài không đợc thua thiệt hơn các doanh nhân trong
nớc trong vấn đề tài sản, quyền sở hữu tài sản.Tất cả mọi cá nhân hợp pháp nớc
ngoài đầu t tại Nga, làm việc tại Nga và công dân Nga đều phải tuân thủ theo
luật hiện hành. Ngoài ra còn có sự u đãi đặc biệt giành cho những nhà đầu t nớc
ngoài đầu t trong những lĩnh vực đợc đặc biệt u tiên tại Nga . Chủ đầu t nớc
ngoài đợc bảo đảm có quyền lợi bình đẳng nh các công dân Nga trong giới hạn
quyền lợi mà luật pháp nớc Nga quy định.
Bảo lãnh của chính phủ khi luật pháp thay đổi
Chính phủ đảm bảo sẽ bảo vệ sự ổn định về quyền lợi của nhà đầu t nớc
ngoài và các điều kiện đầu t. Trong trờng hợp có những thay đổi về pháp luật
chứa đựng những hạn chế tới quyền lợi của chủ đầu t nớc ngoài thì một số điều
khoản sau đó sẽ đợc ban hành có hiệu lực trong vòng 3 năm , xem xét tới quyền
lợi của những nhà đầu t đã tham gia hoạt động đầu t tại Nga . Những điều khoản
nói trên sẽ không áp dụng trong trờng hợp mọi sự thay đổi có liên quan đến vấn
đề quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ môi trờng và chống độc
quyền.
Những văn bản quy phạm pháp luật của nhà chức trách Nga mà đợc áp
dụng bổ xung, không đợc quy định bởi luật và những nghị định của chính phủ
hạn chế hoạt động đầu t nớc ngoài tại Nga không có hiệu lực và không áp dụng
đối với nhà đầu t .
Bảo lãnh với các nhà đầu t nớc ngoài trong trờng hợp bị bắt buộc rút vốn đầu
t và những hành động phạm pháp của các cơ quan nhà nớc và công chức.
Tài sản đầu t vào Nga sẽ không bị quốc hữu hoá trừ khi nhà đầu t có hành
động gây phơng hại tới quyền lợi của nhà nớc Liên bang Nga .
Vốn đầu t nớc ngoài sẽ không bị trng thu trừ trờng hợp thiên tai, bệnh dịch
và các trờng hợp khác đợc coi là bất khả kháng. Trong trờng hợp mà vốn đầu t n-
ớc ngoài bị quốc hữu hoá hoặc trng thu, nhà đầu t sẽ đợc đền bù đầy đủ và nhanh
chóng.

kết với các chính phủ trong đó nhà đầu t đợc hởng những khoản thuận lợi ).
Quyền của nhà đầu t nớc ngoài về miễn thuế bổ sung và bảo lãnh
Đối với các dự án đầu t nớc ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh
tế xã hội và thuộc diện mà chủ đầu t đợc quyền u tiên, lợi ích đặc biệt và bảo
đảm của chính phủ miễn là những dự án này đợc chính phủ phê duyệt.
Trớc khi phê duyệt, chính phủ sẽ thẩm định bằng các thành lập một hội đồng hợp
tác chuyên gia và các cơ quan đặc biệt do chính phủ bổ nhiệm.
Bảo lãnh của nhà nớc đối với các dự án đầu t đặc biệt quan trọng
1.Sự bảo lãnh của nhà nớc đối với các dự án đầu t đặc biệt quan trọng là
những điều khoản bổ sung với những nghĩa vụ viết trong hợp đồng đầu t do cơ
quan đợc chính phủ bổ nhiệm giành cho việc thực thi những điều kiện mà trong
đó thu hút vốn đầu t. Sự đảm bảo của nhà nớc đối với các dự án đầu t đặc biệt
quan trọng phải đợc quốc hội nhà nớc Liên bang Nga thông qua.
2. Đầu t đặc biệt quan trọng là tất cả các tài sản và quyền sở hữu tài sản
cũng nh các bản quyền duy nhất do nhà đầu t tạo ra trong việc thực hiện các dự
án đầu t đặc biệt.
3. Hợp đồng đầu t chính là thỏa thuận đã đạt đợc và viết bằng văn bản
giữa chủ đầu t và phía thuộc nớc Liên bang Nga trong hợp đồng mà quy định
quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh.
4.Sự bảo đảm của nhà nớc Liên bang Nga với các dự án đầu t đặc biệt
quan trọng có thể bao gồm các nghĩa vụ pháp lý và kinh tế :
a) Nghĩa vụ pháp lý :
* Đóng góp cho việc thực hiện dự án đầu t nớc ngoài trong khuôn khổ Hiến pháp
hiện hành
* Không cản trở sự thực hiện các dự án đầu t đặc biệt quan trọng
* Không cản trở các nhà đầu t trong việc sử dụng tài sản của mình.
* Thông báo cho các nhà đầu t kịp thời về những sửa đổi và bổ sung của luật
pháp hiện hành mà có thể ảnh hởng tới các điều kiện thực hiện dự án đầu t nớc
ngoài.
* Thông báo chủ đầu t việc không áp dụng các văn bản pháp lý hay những hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status