luận văn thạc sĩ cơ chế hỗ trợ tài chính cho các dự án PPP để thu hút nhà đầu tư nước ngoài kinh nghiệm quốc tế và bài học cho việt nam - Pdf 61

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC

--------o0o--------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO CÁC DỰ ÁN PPP
THU HÚT CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

Hà Nội, năm 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC

--------o0o--------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO CÁC DỰ ÁN PPP
THU HÚT CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Ngành: Kinh tế Quốc tế
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số: 83.10.106
Họ và tên học viên


ii

LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn, em đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ,
động viên từ cơ quan, tổ chức và cá nhân. Luận văn được hoàn thành dựa trên sự
tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo
chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu…
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô PGS.TS Nguyễn Thị
Tường Anh người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề
tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè cùng đồng nghiệp đã tạo điều kiện
nghiên cứu để em có thể hoàn thành đề tài này.
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính
mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp
và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................................................. iv
LỜI CẢM ƠN....................................................................................................................................... v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT....................................................................................... vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH, BẢNG...................................................................................... vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN..................................................... viii
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH
THU HÚT VỐN TỪ CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC DỰ ÁN

HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO CÁC DỰ ÁN PPP THU HÚT CÁC NHÀ ĐẦU
TƯ NƯỚC NGOÀI............................................................................................... 45
3.1 Tổng quan về sự tham gia của khu vực tư nhân vào các dự án PPP tại Việt Nam
45
3.1.1 Tình hình triển khai các dự án PPP theo NĐ 15/2015/NĐ – CP.....................45
3.1.2 Tình hình triển khai các dự án PPP theo NĐ 63/2018/NĐ – CP sửa đổi bổ
sung cho nghị định 15/2015/NĐ – CP..................................................................... 49
3.2 Thực trạng thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào các dự án PPP
ở Việt Nam.............................................................................................................. 51
3.2.1 Khung cơ chế chính sách hỗ trợ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào các dự
án PPP của Việt Nam............................................................................................... 51
3.2.2 Cơ chế hỗ trợ tài chính của chính phủ trong việc thu hút đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam................................................................................................................. 53
3.2.3 Đánh giá về cơ chế tài chính thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào các dự án
PPP của Việt Nam................................................................................................... 58
3.3 Một số đề xuất nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào các dự án PPP của
Việt Nam................................................................................................................. 65
3.3.1 Nhóm đề xuất về cơ chế hỗ trợ trực tiếp......................................................... 65
3.3.2 Nhóm đề xuất cơ chế hỗ trợ gián tiếp............................................................. 70
3.3.3 Một số đề xuất khác....................................................................................... 71
KẾT LUẬN............................................................................................................ 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 75


v

DANH MỤC HÌNH, BẢNG, SƠ ĐỒ
Hình
Hình 1.1: Cam kết đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng có sự tham gia của khu vực tư
nhân vào các nước phát triển theo lĩnh vực giai đoạn 1990 -2005...........................17

Build – Own – Operate –
Xây dựng – sở hữu – kinh doanh Tranfer
chuyển giao
Build – Lease – Transfer
Xây dựng – thuê dịch vụ - chuyển giao
Build – Transfer – Lease
Xây dựng – chuyển giao – thuê dịch vụ
Contract of Agency
Hợp đồng nhượng quyền
Design – Build – Finance - Thiết kế - xây dựng – chuyển giao – kinh
Operate
doanh
EUR
Euro
South Korea Won
Đơn vị tiền của hàn quốc
Korea Development Institue
Học viện phát triển Hàn quốc
Multilaterat
Investment Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương của
Guarantee Agency
ngân hàng thế giới
Minimum Revenue Guarantee Bảo lãnh doanh thu tối thiểu
State Budget
Ngân sách nhà nước
Official
Development Hỗ trợ phát triển chính thức
Assistance
Power Purchase Agreement
Hợp đồng mua điện

PPIAF
PPIP
PPP
VGF

Nghĩa tiếng Việt
Ngân hàng phát triển Châu Á


viii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Trong bối cảnh ngân sách quốc gia của các nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam còn eo hẹp, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) sụt giảm, việc huy
động sự tham gia của khu vực tư nhân (đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài) vào các
dự án cơ sở hạ tầng là rất cần thiết, mà phương thức hợp tác công – tư (PPP) là một
hình thức thích hợp, đã có lịch sử phát triển lâu dài ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, thực tiễn thí điểm triển khai các dự án theo hình thức PPP ở Việt Nam đã
đạt được một số kết quả nhất định, song cũng còn không ít trở ngại, khó khăn cả về
nhận thức, khuôn khổ thể chế và thực tiễn quá trình triển khai. Trong khi đó, mô
hình PPP đã xuất hiện khá sớm trên thế giới và thực tiễn áp dụng các phương thức
thu hút đầu tư tư nhân trong dự án PPP cũng vô cùng phong phú. Đã có nhiều báo
cáo, tài liệu phân tích cụ thể các đặc điểm và hiệu quả của việc thu hút đầu tư tư
nhân trong dự án PPP tại các quốc gia trên thế giới đã được ban hành và hoàn toàn
có thể học tập tham khảo để ứng dụng vào Việt Nam. Chính vì vậy, việc nghiên cứu
và đúc rút ra kinh nghiệm từ những ví dụ điển hình quốc tế để từ đó đưa ra được
những kiến nghị phù hợp với Việt Nam là hết sức cần thiết.
Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này của mình, tác giả đã đưa cơ sở lý luận
bao gồm những khái niệm cơ bản, các hình thức của mô hình PPP, nhưng ưu điểm
và hạn chế của mô hình này, và khái quát những phương thức nhằm thu hút đầu tư

này được áp dụng phổ biến ở các quốc gia trên thế giới và mang lại những thành
công phát triển to lớn. Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình hợp tác công tư ở Việt Nam
còn khá hạn chế, đặc biệt sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài gần như không
đáng kể. Trên thực tế, cũng đã từng có rất nhiều NĐT Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ…
đến “gõ cửa” Bộ GTVT, nhưng tất cả đều dừng lại ở việc “ngắm” dự án, mà không
hẹn ngày trở lại. Đến nay, hầu hết các dự án giao thông mới chỉ thu hút được sự
quan tâm của các nhà đầu tư trong nước. Trong khi đó, nhiều nhà đầu tư trong nước
sau khi đầu tư vào giao thông đã phải ngậm ngùi nếm “trái đắng”.Có rất nhiều lý do
dẫn đến thực trạng này cả về phương dienj thể chế, chính sách lẫ mức độ rủi ro và
tính hấp dẫn của dự án. Nhận thức được điều đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Cơ chế hỗ trợ tài chính cho các dự án PPP để thu hút nhà đầu tư nước ngoài:
Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp


2
của mình. Luận văn sẽ đi sâu tập trung vào nghiên cứu về kinh nghiệm thu hút đầu
tư khu vực tư nhân của các nước trên thế giới vào các dự án PPP, từ đó rút ra kinh
nghiệm thực tiễn cho Việt Nam trong quá trình thực thi các dự án PPP trong tương
lai.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
 Tình hình nghiên cứu trong nước
Liên quan đến đề tài này, đã có một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, luận văn
tốt nghiệp đại học hay những công trình nghiên cứu khoa học, bài báo đã tiếp cận và
nghiên cứu từ nhiều cách nhìn khác nhau:
-

Huỳnh Thị Thúy Giang với luận án Tiến sĩ năm 2012: “ Hình thức hợp tác
công tư ( Public – Private – Partnership) để phát triển cơ sở hạ tầng giao
thông đường bộ tại Việt Nam” Luận án phân tích thực trạng phát triển hạ
tầng giao thông đường bộ theo mô hình hợp tác công tư tại một số quốc gia

Việt Nam trong quá trình triển khai mô hình này.

 Tình hình nghiên cứu quốc tế
-

E.R.Yescombe (2007): “Public Private Partnerships: Principles of Policy and
Finance” Cuốn sách đã đưa ra những khái niệm, công cụ phân tích tài chính,
cấu trúc và pháp lý tài chính trong các mô hình PPP. Vai trò của Khối tư
nhân, phân chia lợi ích cũng như rủi ro của các chủ thể tham gia trong mỗi
mô hình PPP.

-

Jeffrey Delmon and Victoria Rigby Delmon (2012): “International Project
Finance and PPPs”. Cuốn sách đưa ra tầm quan trọng của PPP trong việc
phát triển cơ sở hạ tầng, tăng tưởng kinh tế. Những khó khăn, thách thức
cũng như cơ hội mà bất kì chính phủ nào cũng sẽ gặp phải khi triển khai mô
hình PPP để từ đó đưa ra khung chính sách, cơ chế quản lý tài chính hiệu
quả, phù hợp với từng mô hình của dự án PPP.

-

Rory Hearne (2011): “Public Private Partnerships in Ireland”: Cuốn sách giới
thiệu về cách các dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng phát triển trên quy mô
lớn trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 20 tại các tiểu bang của Ireland. Từ
những thất bại ban đầu, sự nỗ lực của chính phủ trong quá trình thay đổi,
hoàn thiện chính sách, tài chính, luật… để áp dụng thành công như hiện tại.
Bài học kinh nghiệm được đưa ra cho các nước đang phát triển cơ sở hạ tầng
đinh hướng PPP.


trên thực trạng triển khai mô hình PPP của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam.
Thực trạng triển khai mô hình PPP, tầm quan trọng của khu vực tư nhân đặc biệt là
nguồn đầu tư từ nước ngoài vào các dự án PPP của Việt Nam. Nghiên cứu những
kinh nghiệm quốc tế trong thu hút khu vực tư nhân đặc biệt là các nhà đầu tư nước
ngoài tham gia vào các dự án PPP nói chung và phát triển cơ sở hạ tầng nói riêng tại
Việt Nam
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kinh nghiệm thu hút đầu tư nước ngoài vào các dự án

PPP trên thế giới và bài học cho Việt Nam


5
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu tình hình thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào các dự án PPP từ năm 1950 đến nay ở một số quốc gia trên thế giới.
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu kinh nghiệm ở quốc gia: Hàn Quốc,
Anh, Nhật Bản, Mexico, Ấn Độ, Hà Lan, Trung Quốc và Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để tiến hành nghiên cứu, luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Luận văn tạo dựng khung lý thuyết
vững chắc làm cơ sở để phân tích thực trạng và tìm ra các vấn đề cần giải quyết của
Việt Nam trong quá trình triển khai mô hình PPP
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Luận văn đã thu thập tài liệu, số liệu sơ
cấp và thứ cấp về thực trạng sự tham gia của khu vực tư nhân đặc biệt khu vực nước
ngoài tham gia các dự án PPP của Việt Nam.
- Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: Phương pháp phân tích nhằm tìm ra
những vấn đề cơ bản quá trình triển khai các dự án PPP, phương pháp so sánh thể

Theo Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (2007), PPP là những thỏa thuận giữa
chính phủ và các tổ chức tư nhân dựa trên lợi ích của cộng đồng. Ở Hoa Kỳ, Hội
đồng quốc gia về đối tác Công – Tư, định nghĩa PPP là một “thỏa thuận hợp đồng
giữa một cơ quan khu vực công và một khu vực tư nhân có lợi nhuận, nhờ đó các
nguồn lực và rủi ro được chia sẻ, mục tiêu là cung cấp dịch vụ công hoặc phát triển
cơ sở hạ tầng công cộng” (Li và Akintoye, 2003; Chương trình phát triển quốc tế,
2005). Tại Canada, Hội đồng Quan hệ đối tác Công – Tư (2004) định nghĩa PPP như
là một “sự hợp tác giữa công chúng và tư nhân, được xây dựng trên sự chuyên môn
của mỗi đối tác, trong đó đáp ứng tốt nhất nhu cầu công cộng, thông qua phân bổ
nguồn lực, rủi ro và lợi nhuận”. Tổ chức Liên minh châu Âu (EU) đã đưa ra một
định nghĩa khác “sự thỏa thuận giữa khu vực công và các khu vực tư nhân mang lại
những yếu tố bổ sung cho dự án, với mức độ tham gia khác nhau và chia sẻ trách
nhiệm, với mục đích cung cấp các dịch vụ công cộng hoặc dự án xây dựng”.
Trong cuốn sách “PPP: Hướng dẫn cho chính quyền địa phương” xuất bản
tháng 5/1999, Chính quyền bang British Columbia, Canada coi Đối tác công tư là
“sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ và tổ chức tư nhân nhằm mục đích cung


7
cấp cơ sở hạ tầng công, các tiện nghi cho cộng đồng và các dịch vụ liên quan”
(Ministry of Municipal Affair, 1999). Trong nghiên cứu “Khai thác lợi thế của PPP:
Vai trò của chiến lược hỗ trợ tài chính trong phát triển bền vững”, Colverson và
Perera coi PPP “là một hình thức được áp dụng trong một số dạng hợp đồng giữa
nhà nước và khu vực tư nhân nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ và phát triển cơ sở hạ
tầng” (Colverson và Perera, 2012).
Tham khảo định nghĩa từ từ điển MerriamWebster, Investopedia, và
Entrepreneur thì đối tác (Partner) có nghĩa là một trong hai hay nhiều cá nhân/ tổ
chức cùng làm việc với nhau hoặc cùng nhau kinh doanh. Còn mối quan hệ đối tác
(Partnership) là một quan hệ pháp luật hiện hữu giữa hai hay nhiều cá nhân/ tổ chức
trên cơ sở các nguyên tắc của hợp đồng, cùng chia sẻ công tác quản lý và lợi nhuận.

của mỗi bên. Điểm nhấn trong phương thức này là thu hút sự tham gia đầu tư của
khu vực tư nhân trong các dự án vốn được coi là ít có khả năng sinh lời, do vậy cần
có sự tham gia, sự cam kết của nhà nước để dự án trở thành khả thi (Viability Gap).
Thỏa thuận PPP cũng gắn liền với phát triển cơ sở hạ tầng. Trong dự án PPP,
nhà đầu tư tư nhân được đặc quyền xây dựng và kinh doanh công trình cơ sở hạ
tầng do chính phủ thực hiện. Nhà đầu tư tư nhân này cũng có trách nhiệm tài trợ,
thiết kế dự án vào cuối giai đoạn đặc quyền nhà đầu tư sẽ chuyển giao công trình
cho nhà nước. Giai đoạn đặc quyền chủ yếu xác định bởi độ dài thời gian cần thiết
để doanh thu từ công trình trả hết được nợ của doanh nghiệp và tạo ra được một tỷ
suất sinh lời hợp lý cho việc đầu tư và rủi ro mà doanh nghiệp đó phải chịu. Để thực
hiện dự án PPP, đòi hỏi có nhiều hợp đồng được ký kết, song hợp đồng PPP là cơ sở
pháp lý quan trọng nhất, là tiền đề cho việc hình thành doanh nghiệp dự án và việc
ký kết các hợp đồng liên quan để thực hiện dự án. Hợp đồng PPP là “luật riêng” của
mỗi dự án và là tập hợp các thỏa thuận cho phép nhà đầu tư quyền được thực hiện
dự án với những cam kết đối với nhà nước trong việc phát triển công trình cơ sở hạ
tầng.
Như vậy, ở bình diện chung nhất, PPP được hiểu là một thỏa thuận pháp lý để
thực hiện một phương thức đầu tư nhằm huy động nguồn vốn từ khu vực tư nhân để
tài trợ và kinh doanh dự án cơ sở hạ tầng vốn thuộc về trách nhiệm của nhà nước,
làm giảm gánh nặng bội chi trong ngân sách nhà nước đồng thời tạo ra một cơ chế
hữu hiệu trong việc đầu tư của tư nhân phục vụ lợi ích công cộng.


9
1.1.1.2 Đặc điểm của phương thức hợp tác công tư
Từ sau 1950 khi khái niệm về PPP còn chưa được hình thành, đã có sự hợp tác
giữa khu vực công và khu vực tư nhân trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cung
cấp các dịch vụ thiết yếu tại một số quốc gia. Trong giai đoạn này, Nhà nước đóng
vai trò chủ đạo trong việc cung cấp các dịch vụ công và là người cung cấp các
khoản tài chính chủ yếu cho khu vực tư nhân để thực hiện nhiệm vụ này. Các công

nguồn tài chính để phát triển và duy trì cơ sở hạ tầng theo yêu cầu của sự gia tăng
của dân số. Các chính phủ gặp khó khăn bởi nhu cầu đô thị hóa ngày càng tăng, nhu
cầu tu bổ những cơ sở hạ tầng đã được xây dựng lâu năm, nhu cầu mở rộng mạng
lưới dịch vụ cho dân số mới tăng lên và nhu cầu đem lại dịch vụ cho những khu vực
trước đây chưa được cung cấp hoặc được cung cấp chưa đầy đủ. Hơn nữa, các dịch
vụ cơ sở hạ tầng thường có doanh thu thấp hơn chi phí, vì vậy phải bù đắp thông
qua trợ cấp và do đó làm cho nguồn lực nhà nước bị hao mòn thêm. Cùng với khả
năng tài chính hạn chế của chính phủ, những áp lực kể trên dẫn tới mong muốn huy
động vốn từ khu vực tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng. Được cơ cấu một cách
phù hợp, mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân có thể huy động các nguồn lực
trước đây chưa được khai thác của khu vực tư nhân tại địa bàn sở tại, trong khu vực
đang tìm kiếm các cơ hội đầu tư.
Mục đích của khu vực tư nhân trong việc tham gia vào mối quan hệ đối tác
nhà nước - tư nhân là tạo ra lợi nhuận từ năng lực và kinh nghiệm quản lý kinh
doanh của mình (đặc biệt là trong ngành dịch vụ công ích). Khu vực tư nhân tìm
kiếm sự đền bù cho các khoản đầu tư vào các dịch vụ bằng các khoản phí dịch vụ,
mang lại một khoản hoàn vốn đầu tư phù hợp.
Thứ hai: Tăng năng suất và sử dụng các nguồn lực có sẵn một cách hiệu quả hơn.
Sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiếm hoi của nhà nước là một thách thức lớn đối
với chính phủ và là một trong những nguyên nhân chính làm nhiều chính phủ không
hoàn thành được các mục tiêu đặt ra. Nguyên nhân là do đặc thù của khu vực nhà
nước có quá ít hoặc không có động cơ thiết lập tính hiệu quả trong tổ chức và quy
trình hoạt động của mình, vì thế có vị thế không thuận lợi trong việc xây dựng và
điều hành các cơ sở hạ tầng một cách hiệu quả. Việc đưa những động cơ khuyến


11
khích như vậy vào khu vực nhà nước là khó khăn, mặc dù không phải không thực
hiện được.
Thứ ba: Cải cách các lĩnh vực thông qua việc phân bổ lại vai trò, động cơ và trách

nhà nước xây dựng và sở hữu (sau đây gọi là tài sản/cơ sở hạ tầng sẵn có), nhượng
lại quyền khai thác, kinh doanh cho khu vực tư nhân. Trong mô hình này, đối tác tư
nhân được lựa chọn sẽ được dành quyền vận hành và duy trì dịch vụ công. Có hai
hình thức cụ thể đối với phương thức này, đó là: Nhượng quyền khai thác
(Franchise) và cho thuê (Leasing).
- Hình thức cho thuê (Leasing): Với hình thức này, Cơ quan nhà nước cho đối tác
tư nhân thuê tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng sẵn có thuộc sở hữu của cơ quan nhà
nước, để thực hiện khai thác, vận hành, và cung cấp các dịch vụ công. Theo thoả
thuận cho thuê, đối tác tư nhân phải thanh toán tiền thuê cho cơ quan nhà nước một
khoản cố định, không phụ thuộc vào khả năng thu phí từ người sử dụng. Và do đó,
đối tác tư nhân chịu hoàn toàn rủi ro kinh doanh.
- Hình thức nhượng quyền khai thác (Franchise): Là hình thức PPP trong đó, cơ
quan nhà nước nhượng lại quyền vận hành, khai thác và cung cấp dịch vụ công cho
đối tác tư nhân dựa trên các tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng sẵn có, thuộc quyền sở
hữu của khu vực nhà nước. Nhưng khác với hình thức cho thuê, đối tác tư nhân phải
trả một khoản phí cố định theo thoả thuận cho cơ quan nhà nước, thì trong hình thức
nhượng quyền, đối tác tư nhân được phép thu phí từ người sử dụng dịch vụ và trả
một khoản phí cho cơ quan nhà nước theo tỷ lệ trên một đơn vị dịch vụ bán ra, đồng
thời được phép giữ lại một phần doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ công. Theo đó,
với hình thức nhượng quyền khai thác, rủi ro kinh doanh của khu vực tư nhân
thường thấp hơn so với hình thức cho thuê.
Thiết kế-xây dựng-tài trợ-vận hành (DBFO:Design-Build- Finance - Operate)
DBFO là một phương thức PPP, trong đó đối tác tư nhân thực hiện tất cả các giai
đoạn của một dự án để cung cấp dịch vụ công, bao gồm: thiết kế (D), xây dựng (B),
tài trợ (F) và vận hành dự án (O) thông qua một hợp đồng dài hạn.
Dự án đủ phải hấp dẫn đối với khu vực tư nhân (về lợi nhuận, những ưu đãi
cũng như những rủi ro có thể gặp phải). Thường sử dụng trong các dự án xây dựng


13

14
1.2.1 Cấu trúc về nguồn vốn của các dự án PPP
Các mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân luôn cần cấp vốn, đó là các nguồn
tài chính cần thiết cho chi phí đầu tư ban đầu và sẽ được thu lại theo thời gian từ các
nguồn doanh thu trong tương lai. Các khoản tài chính này có thể từ khu vực nhà
nước hoặc khu vực tư nhân. Bất kể nguồn tài chính từ đâu, những khoản tiền này đi
kèm với chi phí và do đó có tác động tới các vấn đề kinh tế của dự án và biểu phí
đặt ra (và cả khả năng thanh toán).
Chi phí cấp vốn của chính phủ thông thường thấp hơn so với chi phí cấp vốn
của nhà điều hành tư nhân, thậm chí cả khi nhà điều hành tư nhân cũng là ở trong
nước. Do đó, việc cấp vốn của khu vực tư nhân có thể làm tăng chi phí tài chính của
việc thiết lập mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân. Tuy nhiên, hiệu quả đạt được
từ mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân được kỳ vọng là sẽ lớn hơn chi phí tăng
thêm và mang lại những khoản tiết kiệm ròng cũng như tăng thêm hiệu quả, và cuối
cùng mang đến lợi ích cho các khách hàng. Ngoài ra, nguồn vốn ở khu vực nhà
nước thường khan hiếm, điều này tạo ra một trong những động lực ban đầu cho mối
quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân.
Thỏa thuận PPP sau khi được ký kết sẽ là căn cứ triển khai thực hiện Dự án
PPP theo quy định, theo đó việc thực hiện trách nhiệm huy động vốn góp cho Dự án
PPP là hết sức quan trọng. Việc góp vốn và nguồn gốc huy động vốn là yếu tố quyết
định để một dự án PPP hiệu quả, thành công hay không. Nếu việc huy động vốn của
một trong các bên không thực hiện theo đúng tiến độ thì sẽ dẫn tới Dự án PPP kém
hiệu quả hoặc không thực hiện được, dẫn đến thất bại. Do vậy, để phát huy được
hiệu quả dự án trước hết cần xác định được tỷ lệ góp vốn của các bên tham gia
trong dự án PPP. Cơ cấu nguồn vốn góp dự án PPP gồm 2 nguồn chính, gồm:
Vốn góp của nhà đầu tư tham gia thực hiện dự án PPP
Nhà đầu tư có tránh nhiệm góp vốn chủ sở hữu và huy động các nguồn vốn
khác (từ các tổ chức tín dụng hoặc cá nhân khác) để thực hiện dự án PPP. Để đảm
bảo năng lực của mình đối với từng dự án PPP cụ thể thì có thể quy định tỷ lệ vốn


song phương và đa phương, từ việc phát hành trái phiếu dự án, và đôi khi từ chính


16
phủ sở tại v.v… Việc trả nợ vay thường được ràng buộc về lãi suất (thả nổi hay cố
định) và theo chương trình trả nợ định kỳ. Các ngân hàng thương mại thường được
ưa chuộng hơn với tư cách là nhà cung cấp vốn vay dài hạn, do các ngân hàng này
thường uyển chuyển hơn trong việc đàm phán lại các khoản vay, cũng như trong
việc đối phó với các tình huống mới hay bất ngờ xảy ra. Ngược lại, các chủ nợ nắm
giữ trái phiếu dự án thì thường không có được những sự uyển chuyển này....
- Nguồn tài chính thứ ba nằm ở dưới dạng bảo lãnh hay thư tín dụng của ngân
hàng. Nhờ có các bảo lãnh và thư tín dụng từ phía ngân hàng, các đối tác, ví dụ nhà
cung cấp hàng hóa và dịch vụ, sẽ nhận ngay được tiền thanh toán từ công ty dự án,
trong khi công ty dự án không cần phải thu xếp tiền sẵn sàng cho thanh toán thì mới
nhận được các hàng hóa và dịch vụ đó.
- Nguồn tài chính thứ tư là từ thị trường trái phiếu và chứng khoán. Việc phát
hành trái phiếu cho phép, ví dụ, công ty dự án tiếp cận trực tiếp được với các cá
nhân và tổ chức nắm giữ vốn mà không cần phải thông qua kênh trung gian là các
ngân hàng thương mại. Thông thường, vào giai đoạn ban đầu của dự án thì việc
phát hành trái phiếu không được thuận lợi do nhà đầu tư chưa tin tưởng vào khả
năng hoàn thành dự án. Nhưng một khi rủi ro hoàn thành dự án đã giảm thiểu thì
việc phát hành trái phiếu để huy động trở nên phổ biến. Lợi ích của việc phát hành
trực tiếp các công cụ nợ này là lãi suất thường thấp hơn lãi suất vay ngân hàng, có
kỳ hạn vay dài hơn (điều rất thuận lợi cho các dự án có vòng đời dài). Ngược lại,
trái phiếu có những bất lợi như phải trả lãi ngay từ ngày phát hành cho đến hết kỳ
hạn của nó (bất kể người phát hành đã giải ngân, dùng đến vốn huy động hay chưa);
trái phiếu không có tính uyển chuyển như các khoản vay ngân hàng (trong việc nhà
phát hành thương lượng lại với chủ nợ).
Ngoài ra, các đối tác của dự án có thể phát hành cổ phiếu trên thị trường
chứng khoán để huy động vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình vào dự án có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status