BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
DƯƠNG LÝ THU THẢO
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ ĐỘC LẬP QUẢN TRỊ
ĐẾN VIỆC THU HÚT NHÀ ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------------------------------------------
DƯƠNG LÝ THU THẢO
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ ĐỘC LẬP QUẢN TRỊ
ĐẾN VIỆC THU HÚT NHÀ ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
1.1.
Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
1.2.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu ................................................................. 2
1.3.
Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu....................................... 3
1.4.
Những đóng góp mới của luận văn ............................................................ 3
1.5.
Kết cấu của luận văn .................................................................................. 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG VÀ CÁC
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM............................................................................ 5
2.1.
Tổng Quan Các Lý Thuyết Nền Tảng......................................................... 5
2.1.1.
Lý thuyết về quản trị công ty ..................................................................5
Hiệu quả hoạt động công ty và tỷ lệ sở hữu nước ngoài ......................22
2.3.
Tóm lược kết quả nghiên cứu ................................................................... 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................. 25
3.1.
Chọn mẫu và nguồn dữ liệu ..................................................................... 26
3.2.
Giả thiết nghiên cứu ................................................................................. 27
3.2.1.
ngoài
Tương quan giữa nhóm yếu tố quản trị công ty với tỷ lệ sở hữu nước
..............................................................................................................27
3.2.2. Tương quan giữa sự kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT và Tổng giám
đốc/giám đốc điều hành với tỷ lệ sở hữu nước ngoài ........................................27
3.2.3.
Tương quan giữa quy mô HĐQT với tỷ lệ sở hữu nước ngoài ............28
3.2.4.
4.3.1.
Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến....................................................53
4.3.2.
Kiểm định tự tương quan ......................................................................53
4.3.3.
Kiểm định phương sai thay đổi.............................................................54
4.3.4.
Kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy ...........................................54
4.4.
Kết quả phân tích hồi quy mô hình .......................................................... 55
4.4.1.
Kết quả phân tích hồi quy mô hình (1) .................................................55
4.4.2.
Kết quả phân tích hồi quy mô hình (2) .................................................60
4.5.
PHỤ LỤC 11 ............................................................................................................ 95
PHỤ LỤC 12 ............................................................................................................ 97
PHỤ LỤC 13 ............................................................................................................ 99
PHỤ LỤC 14 .......................................................................................................... 101
PHỤ LỤC 15 .......................................................................................................... 103
Danh mục các từ viết tắt
Chữ viết tắt
BCTC
Tên đầy đủ
Báo cáo tài chính
BGĐ
Ban Giám đốc
FEM
Fixed Effect Model
GĐ
Giám đốc
HĐQT
Hội Đồng Quản Trị
Bảng 4.5: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình (2) ................ 52
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định ................................................................................. 53
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định tự tương quan .......................................................... 53
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định phương sai thay đổi ................................................. 54
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy mô hình (1) ......... 54
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định lựa chọn phương pháp hồi quy mô hình (2) ....... 55
Bảng 4.11: Kết quả phân tích hồi quy qua các phương pháp mô hình (1) .......... 56
Bảng 4.12: Kết quả phân tích hồi quy qua các phương pháp mô hình (2) .......... 61
Bảng 4.13: So sánh kết quả nghiên cứu và kỳ vọng cho mô hình (1)..................64
Bảng 4.14: So sánh kết quả nghiên cứu và kỳ vọng cho mô hình (2).................. 65
TÓM TẮT
Nghiên cứu này kiểm định tác động của sự độc lập Hội Đồng Quản Trị đến
khả năng thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào vốn cổ phần (cổ đông nước ngoài) của
các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mẫu nghiên cứu gồm
233 doanh nghiệp đang niêm yết tại Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí
Minh (HOSE) trong giai đoạn 2011 – 2014, đại diện cho các công ty hoạt động trong
nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau nhằm kiểm định khả năng áp dụng lý thuyết đối với
thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên
nghiên cứu của Miletkov, Poulsen và Wintoki (2014).
Bài nghiên cứu kỳ vọng tìm được những bằng chứng thực nghiệm tại Việt
Nam liên quan đến việc một công ty có thể thu hút được vốn đầu tư từ các cổ đông
nước ngoài, bằng cách thiết lập gia tăng sự độc lập trong Hội Đồng Quản Trị. Những
công ty với một Hội Đồng Quản Trị độc lập hơn thường gắn liền với tỷ lệ sở hữu của
các cổ đông nước ngoài cao hơn, mặc cho hiện tượng thiên vị vốn cổ phần nước nhà
tồn tại. Cụ thể hơn, công ty có thể chỉ định và bổ nhiệm những giám đốc độc lập vào
Hội Đồng Quản Trị của công ty, từ đó gián tiếp thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư
nước ngoài. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng kỳ vọng rằng các cổ đông là tổ chức
nước ngoài yêu thích đầu tư vào những công ty với Hội Đồng Quản Trị độc lập.
cổ đông, các nhà đầu tư, hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểm soát và những
người liên quan khác của công ty như người lao động, nhà cung cấp. Hay nói cách
khác, việc xây dựng bộ máy quản trị công ty là việc xây dựng các nguyên tắc và quy
trình, thủ tục ra quyết định trong công ty, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực
và chức vụ, giảm thiểu những rủi ro liên quan đến hoặc có nguồn gốc từ những giao
dịch với các bên có liên quan, những giao dịch nội gián, những xung đột lợi ích tiềm
năng, những hành động thanh lọc cổ đông thiểu số và từ việc không có tiêu chuẩn rõ
ràng hoặc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin và không minh bạch.
Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa các
mối quan hệ giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền
lợi liên quan trong doanh nghiệp, từ đó tạo nên định hướng và sự kiểm soát quá trình
2
phát triển của doanh nghiệp. Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường
khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực
vào việc tăng cường giá trị doanh nghiệp, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững
cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Ở một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, quản trị công ty là một phạm trù
tương đối mới không chỉ đối với các nhà quản lý công ty, mà còn đối với các cơ quan
quản lý nhà nước và các bên liên quan khác như các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính
trung gian. Vì vậy, các nghiên cứu về tác động của các nhân tố liên quan đến quản trị
công ty ảnh hưởng đến công ty như thế nào, nhằm đóng góp vào hệ thống lý luận về
quản trị công ty đang trở thành một nhu cầu cấp thiết.
Có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam nghiên cứu về mối quan hệ
giữa các đặc tính, cấu trúc quản trị và hiệu quả hoạt động, giá trị doanh nghiệp. Tuy
nhiên, tác giả chưa tìm thấy một nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu về mối quan hệ
giữa các đặc tính, cấu trúc quản trị và tỷ lệ sở hữu của các cổ đông nước ngoài tại
Việt Nam. Do đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Ảnh Hưởng Của Sự Độc Lập
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là phương pháp nghiên
cứu định lượng thông qua thống kê mô tả và sử dụng các mô hình hồi quy kinh tế
lượng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, dựa trên dữ liệu báo cáo tài chính đã được
kiểm toán của 233 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE từ năm 2011 đến năm 2014.
1.4.
Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất, bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu về vai trò của các giám đốc độc
lập trong Hội Đồng Quản Trị đến việc nắm giữ vốn cổ phần của các cổ đông nước
ngoài tại công ty.
Trong khi các nghiên cứu trước đây nghiên cứu về quản trị công ty trên khía
cạnh tập trung vào các tác động tiêu cực liên quan đến việc tước đoạt của cải của các
cổ đông thiểu số bởi các cổ đông nội bộ, chính phủ hoặc các nhóm cổ đông khác. Tác
giả tranh luận rằng một Hội Đồng Quản Trị độc lập hơn sẽ làm giảm chi phí quản lý
công ty bởi các nhà đầu tư nước ngoài, và tác giả dự đoán rằng tỷ lệ sở hữu nước
ngoài sẽ cao hơn ở những công ty có nhiều giám đốc độc lập hơn. Từ đó, bài nghiên
làm sáng tỏ được tác động của sự độc lập Hội Đồng Quản Trị đến cấu trúc sở hữu
công ty thế nào.
4
Thứ hai, bài nghiên cứu còn đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm liên quan
đến các lý thuyết về cấu trúc quản trị công ty và hiệu quả hoạt động công ty, thông
qua tỷ lệ nắm giữ vốn cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài khi họ thực thi mục tiêu
tối đa hóa giá trị tài sản mà họ đang nắm giữ.
1.5.
Kết cấu của luận văn
Tổng Quan Các Lý Thuyết Nền Tảng
2.1.1. Lý thuyết về quản trị công ty
Có khá nhiều định nghĩa về “Corporate governance” (quản trị công ty/điều
hành công ty). Quan niệm và nội dung của quản trị công ty ở các quốc gia khác nhau
là rất khác nhau. Điều này do sự khác nhau về nguồn gốc thể chế luật pháp, đặc tính
quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi nước… từ đó
ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông, quyền lợi của chủ nợ, và thực thi quyền tư
hữu.
Theo “Các nguyên tắc quản trị công ty” của Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế (OECD) xuất bản năm 1999 thì quản trị công ty là hệ thống được xây dựng
để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp. Cấu trúc quản trị công ty chỉ ra cách
thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên
quan tới doanh nghiệp như Hội đồng quản trị (HĐQT), giám đốc, cổ đông và những
chủ thế khác có liên quan. Cấu trúc quản trị công ty củng giải thích rõ quy tắc và thủ
tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành doanh nghiệp. Bằng cách này, cấu
trúc quản trị công ty cũng góp phần thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện
để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc.
“Quản trị công ty giải quyết vấn đề mà các nhà đầu tư tài chính cho doanh
nghiệp đảm bảo quyền lợi của mình có thể thu về lợi tức từ các khoản đầu tư của
mình” (Shleifer và Vishmy, (1997, trang 737)).
Theo Maw và cộng sự (1994) thì quản trị công ty là chủ đề, mặc dù chưa có
một định nghĩa chuẩn xác rõ ràng, nhưng lại được xem như một đối tượng, mục tiêu
và thể chế nhằm đảm bảo điều lợi ích cao nhất cho cổ đông, nhân viên, khách hàng,
chủ nợ và gia tăng danh tiếng, vị thế của công ty trong nền kinh tế.
6
Theo Denis và McConnell (2003), quản trị công ty là thiết lập cơ chế nhằm
ty, ngăn ngừa và hạn chế những người quản lý lạm dụng quyền và nhiệm vụ được
giao sử dụng tài sản và cơ hội kinh doanh của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của
bản thân hoặc của người khác, hoặc làm thất thoát nguồn lực do công ty kiểm soát.
Tóm lại, quản trị công ty là mô hình cân bằng và kiềm chế quyền lực giữa các bên
liên quan của công ty, nhằm đảm bảo sự phát triển dài hạn và bền vững của công ty.
Lý thuyết về quản trị công ty cho rằng tính hiệu quả của cơ chế quản trị thể
hiện ở việc kiểm soát và đảm bảo nhà quản lý hành động vì lợi ích của các cổ đông,
từ đó làm giảm khả năng các nhà quản lý hành động lệch khỏi mục tiêu tối đa hóa lợi
ích của các cổ đông và mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Cơ chế quản trị doanh
nghiệp được dự đoán là sẽ có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng công bố thông
tin của công ty ra bên ngoài. Đặc biệt, quy định quản trị doanh nghiệp hiệu quả có
thể cải thiện tính minh bạch của doanh nghiệp nhờ giảm thiểu khả năng và động cơ
thúc đẩy nhà quản lý giảm đi hoặc bóp méo công bố thông tin.
Theo Bob Tricker, cha đẻ của “Corporate Governance”, thành viên hội đồng
quản trị độc lập (và không tham gia điều hành) là người mà ngoài quan hệ là thành
viên HĐQT, không có một mối quan hệ nào với công ty có ảnh hưởng hoặc được coi
là có thể ảnh hưởng lên các phán quyết độc lập của họ. Tỷ lệ thành viên độc lập trong
hội đồng quản trị chính là nhân tố để đánh giá sự độc lập quản trị của một doanh
nghiệp. HĐQT, trong đó nếu có sự tham gia của các thành viên độc lập sẽ khắc phục
được tình trạng “CEO và ban điều hành là người chịu trách nhiệm chính trong việc
đề xuất và phát triển chiến lược, nhưng HĐQT lại có các thành viên tham gia điều
hành, nghĩa là vừa hoạch định, vừa thực thi và kiểm soát chính mình”. Ngoài ra, với
sự tham gia của các thành viên độc lập, các mục tiêu và định hướng chiến lược của
công ty sẽ có được một góc nhìn rộng hơn từ phía trên (doanh nghiệp) nhìn xuống,
và khách quan hơn từ ngoài vào trong ở bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội và công
nghệ vô cùng rộng lớn. Vấn đề còn lại là liệu thành viên độc lập này có đủ hiểu biết
về công ty, về ngành, quỹ thời gian và sự quan tâm đúng mực để có thể đóng góp
thực sự cho tư duy chiến lược của HĐQT hay không mà thôi.
9
Tuy nhiên, chính uỷ quyền trên lại gây sự tách rời hay sự chia cắt quyền sở
hữu và quyền quản lý một doanh nghiệp. Sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền
quản lý doanh nghiệp làm nảy sinh các mối lo ngại rằng, những người quản lý sẽ theo
đuổi những mục tiêu vì lợi ích cá nhân, song chưa chắc đã có lợi cho các cổ đông,
cho công ty.
Ví dụ, một giám đốc, khi cân nhắc giữa hai công ty cung cấp cùng một loại
dịch vụ, có thể sẽ lựa chọn công ty có dịch vụ kém chất lượng hơn với giá cao hơn,
chỉ vị họ sẵn sàng "lại quả" cho ông ta đậm đà hơn công ty kia. Trong ví dụ này, rõ
ràng, vị giám đốc đã bỏ qua lợi ích chung của doanh nghiệp, cái đáng ra phải là mục
đích cao nhất của ông ta, để tư túi cho riêng mình. Ở một mức độ nào đó, như trong
tình huống này, lợi ích của người uỷ quyền (công ty, cổ đông) và lợi ích của người
được uỷ quyền (giám đốc) đã mâu thuẫn với nhau. Mâu thuẫn này được biết đến dưới
cái tên "vấn đề đại diện".
Người uỷ quyền, chính là các cổ đông, phải tìm cách nào đó để đảm bảo người
được uỷ quyền (các nhà quản lý) hành động vì quyền lợi của người uỷ quyền. Muốn
đạt được điều này các cổ đông phải bỏ ra các "chi phí đại diện" để giám sát hoạt động
của các nhà quản lý và tạo ra những cơ chế khuyến khích các nhà quản lý theo đuổi
việc tối đa hoá lợi ích cho các cổ đông chứ không phải chỉ vì lợi ích cá nhân.
Chi phí đại diện là chi phí phát sinh khi xảy ra sự thiếu đồng thuận, xung đột
lợi ích giữa mục đích của người quản trị (người điều hành) và người sở hữu (cổ đông)
trong một công ty. Người đại diện là người thay mặt cho người sở hữu công ty tham
gia vào việc điều hành công ty. Do cổ đông của công ty không hoặc có rất ít điều kiện
giám sát thường xuyên các hoạt động của người quản trị, dẫn đến việc phát sinh tình
trạng thông tin bất cân xứng, vốn dĩ là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề liên quan đến
rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch trong việc thực hiện các mục tiêu tối đa hóa giá
trị tài sản của doanh nghiệp hay tối đa hóa giá trị sở hữu của các cổ đông.
bị thâu tóm: hầu hết các cổ đông lớn (đặc biệt là các tổ chức đầu tư) của các công ty
11
niêm yết lớn đều không có ý định bỏ ra những khoản chi phí lớn để điều hành và
giám sát tất cả các công ty mà nó giữ cổ phiếu. Hoàn toàn bình thường, phản ứng đầu
tiên của các cổ đông lớn khi họ phát hiện ra rằng hoạt động quản trị đang không diễn
ra theo cách mà họ cho là sẽ đem lại lợi ích tối đa là bán các cổ phiếu đó đi thay vì
can thiệp vào các hoạt động đó. Điều này sẽ làm giảm giá cổ phiếu và khiến việc huy
động vốn trở nên khó khăn hơn. Nếu quá trình này kéo dài, công ty có thể sẽ đứng
trước nguy cơ bị thâu tóm bởi một công ty khác, và đương nhiên các vị trí quản lý
cấp cao sẽ mất việc. Nỗi sợ hãi bị thâu tóm có thể sẽ tạo ra một số điểm dừng nhất
định để ngăn ngừa việc lợi ích của các cổ đông hoàn toàn bị bỏ qua. Các quy định về
quản chế tập đoàn: có rất nhiều áp lực về mặt pháp lý cũng như về giám sát (vd: Luật
công ty) được tạo ra để thúc đẩy các nhà quản lý hành động vì lợi ích của cổ đông.
Ví dụ, theo các quy định này ban giám đốc không thể do một người duy nhất đứng
đầu vừa với tư cách chủ tịch vừa với tư các tổng giám đốc. Đồng thời, các giám đốc
không mang tính chất điều hành, nên có thêm quyền lực để đại diện cho lợi ích cổ
đông, đặc biệt, họ phải chiếm đa số trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến
lương thưởng của các giám đốc và sổ sách kế toán của công ty. Kiểm soát dòng thông
tin: các công ty kiểm toán, công ty chứng khoán, sàn giao dịch chứng khoán, các cơ
quan quản lý và cộng đồng đầu tư liên tục đấu tranh để đòi các công ty đưa ra những
thông tin chính xác, kịp thời và chi tiết về hoạt động của họ. Các báo cáo tài chính,
báo cáo thường niên với chất lượng cao hơn và sự hiện diện của các thông tin khác
cho nhà đầu tư và các chuyên gia phân tích như các báo cáo tóm lược của công ty và
các thông cáo báo chí sẽ giúp giám sát các công ty tốt hơn, và sớm phát hiện ra bất
cứ một động thái nào của các nhà quản lý bướng bỉnh gây tổn hại lợi ích cho các cổ
đông.
Theo Healy và Palepu (2001) hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu
Hơn nữa, những người quản lý có thể không phải cổ đông nắm giữa phần vốn góp
đáng kể nhưng lại là người ra quyết định điều hành mọi hoạt động của công ty, vì vậy
họ có thể ưu tiên lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hơn lợi ích cổ đông.
Do đó, luật về quản trị doanh nghiệp của các quốc gia cũng như quy định của
thị trường chứng khoán thường yêu cầu trong cơ cấu HĐQT phải có sự tham gia cảu
các thành viên độc lập.
13
Ngược lại, cũng có lập luận cho rằng các thành viên điều hành trong HĐQT
thường được tín nhiệm hơn các thành viên độc lập vì các thành viên này có được
những thông tin tốt hơn về công ty. Bên cạnh đó, các thành viên HĐQT độc lập có
thể đồng thời là thành viên HĐQT của các công ty khác và thường làm việc bán thời
gian, nên sẽ gặp một số khó khăn nhất định trong việc thấu hiểu và giải quyết các vấn
đề trong công ty, và cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng bất cân xứng thông tin,
từ đó làm phát sinh vần đề chi phí đại diện.
2.2.
Các nghiên cứu thực nghiệm
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả chưa tìm thấy nhiều bằng chứng thực
nghiệm nghiên cứu về tác động của sự độc lập quản trị đến việc thu hút vốn đầu tư từ
các nhà đầu tư nước ngoài vào vốn cổ phần của công ty. Nhưng lại có khá nhiều các
nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu về tác động của các đặc tính Hội Đồng Quản Trị,
sự độc lập quản trị đến hiệu quả hoạt động của công ty, đến giá trị doanh nghiệp và
cấu trúc vốn của công ty. Đồng thời, cũng có rất nghiều nghiên cứu thực nghiệm minh
chứng cho tác động của hiệu quả hoạt động, giá trị doanh nghiệp đến việc thu hút nhà
đầu tư, trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy, có thể nói quản trị công ty
tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đồng
hữu và hiệu quả hoạt động. Shleifer và Vishny (1997) đã chứng minh rằng ở các nước
có cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số tốt, sự có mặt của cổ đông lớn đã tạo ra tác động
tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty. Nhưng ở các nước mà cấu trúc sở hữu
công ty tập trung là phổ biến lại phát sinh vấn đề mâu thuẫn về lợi ích giữa cổ đông
lớn và cổ đông thiểu số, đặc biệt cổ đông lớn là các gia đình như nhiều nhà nghiên
cứu như La Porta, Lopez-De-Silanes và Shleifer (1999), Claessens và các cộng sự
(2000), Faccio và Lang (2002), Dyck và Zingales (2004) đã nhận định. Các tác giả
trên cho rằng sự hiện diện của cổ đông lớn gây nên tác động tiêu cực đối với giá trị
công ty ở các nước có cấu trúc sở hữu tập trung và cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số
chưa hoàn thiện.
Nhóm nghiên cứu thứ ba tập trung vào xem xét tác động đến hiệu quả hoạt
động từ các tính chất của HĐQT như quy mô, tính độc lập, tính chuyên nghiệp, uy
tín của các thành viên Hội đồng, việc kiêm nhiệm tổng giám đốc của chủ tịch HĐQT.
15
Tuy nhiên, kết quả các nghiên cứu được thực hiện cho đến nay chưa thống nhất mối
quan hệ rõ ràng giữa các tính chất của HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty,
ngoại trừ quy mô HĐQT gây ra tác động tiêu cực đến hiệu quả theo Yermack (1996),
Eisenberg và các cộng sự (1998) đã phát hiện.
Nhóm nghiên cứu thứ tư tập trung nghiên cứu vấn đề liên quan đến chi phí đại
diện, tức là xem xét tác động của các tính chất của Ban giám đốc (BGĐ), mà nhân tố
quan trọng nhất là tỷ lệ sở hữu cổ phần của thành viên Ban giám đốc, đến hiệu quả
hoạt động của công ty.
Bên cạnh đó, Jensen và Meckling (1976) cho rằng tỷ lệ sở hữu cổ phần của
các thành viên ban giám đốc càng lớn, họ càng có xu hướng ra quyết định nhằm tối
đa hoá giá trị tài sản chủ sở hữu, vì điều này đồng nghĩa với tối đa hoá giá trị tài sản
của chính họ. Giả định này được gọi là hiệu ứng “hội tụ lợi ích” (convergence of
interest).