VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HẢI YẾN
PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và hành chính
Mã số: 8380102
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Phú
ĐĂK LĂK - 2019
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình
và người thân.
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn đối với lãnh đạo Học viện
khoa học xã hội; cơ sở Học viện khoa học xã hội tại thành phố Buôn Ma Thuột; các
thầy, cô giáo giảng viên thuộc các ban, khoa, tổ bộ môn Học viện khoa học xã hội
và cơ sở Học viện khoa học xã hội tại thành phố Buôn Ma Thuột đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy TS. Nguyễn
Minh Phú đã dành nhiều thời gian, công sức và tâm huyết hướng dẫn và giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
Cũng qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo các Sở, Ban, ngành đã cung
cấp các số liệu, tài liệu cần thiết cũng như những kiến thực tế liên quan đến đề tài
luận văn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ...................................................... 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ............................................................... 7
7. Bố cục của luận văn ................................................................................................ 7
Chương 1 .......................................................................................................................
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ ............................................................ 8
1.1. Những khái niệm cơ bản về phổ biến, giáo dục pháp luật ................................... 8
1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các
dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk .............................................................................. 21
Chương 2 .......................................................................................................................
THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO CÁC DTTS
TẠI TỈNH ĐẮK LẮK HIỆN NAY ........................................................................... 28
2.1. Các điều kiện địa lý, tự nhiên, chính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá ảnh hưởng đến
việc PBGDPL cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk ........................................ 28
2.2. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk ....................................................................................................... 36
2.3. Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk
trong thời gian qua .................................................................................................... 38
Chương 3 .......................................................................................................................
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨM BẢO THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DTTS TẠI TỈNH ĐẮK
LẮK ........................................................................................................................... 55
3.1. Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các DTTS tại tỉnh
Đắk Lắk ..................................................................................................................... 55
3.2. Phương hướng tăng cương phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các DTTS
tại tỉnh Đắk Lắk......................................................................................................... 59
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho
đồng bào các DTTS tại tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới ......................................... 64
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
Ủy ban nhân dân
MN
Miền núi
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1
Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Lắk
35
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1:
Phân bố dân cư của các dân tộc theo đơn vị hành chính cấp
huyện tỉnh Đắk Lắk
Biểu đồ 2.2:
trong xã hội''. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính tiếp tục
khẳng định cần đẩy mạnh công tác PBGDPL với nhiều hình thực khác nhau và đặc
biệt là thông qua các phiên tòa xét xử lưu dộng để nâng cao ý thực pháp luật trong
cán bộ và nhân dân. Thủ tướng chính phủ ban hành định số 1163/QĐ-TTg, ngày
08/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ V/v phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số và
miền núi giai đoạn 2017-2021; đề án tăng cường ứng dụng công nghệ tông tin trong
công tác PBGDPL giai đoạn 2019-2021.
Cụ thể hóa những đường lối, chủ trương của đảng và chính sách, pháp luật
của nhà nước, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Đắk Lắk là địa phương đã và
đang rất tích cực chỉ đạo và thực hiện tốt công tác PBGDPL trong nhân dân; các
1
hoạt động đó được triển khai một cách bài bản, khoa học, có trọng tâm và gắn liền
với nhiệm vụ phát triển kinh tế - chính trị; văn hóa - xã hội của từng ngành, từng địa
phương. Hoạt động PBGDPL trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng
khích lệ; các văn bản pháp luật được phổ biến bằng nhiều hình thức và phương pháp
phù hợp với từng đồng bào DTTS và từng địa phương, từng bước nâng cao nhận
thức và đáp ứng tốt nhu cầu tìm hiểu pháp luật trong cán bộ, công chức và nhân dân,
góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, trật tự và an toàn xã
hội trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên thì công tác PBGDPL vẫn còn
những hạn chế nhất định về ý thức tự giác học tập, rèn luyện và tuân thủ pháp luật...
một số nơi, một số cán bộ, công chức, viên chức còn chưa thực sự gương mẫu và
thực hiện tốt tính nêu gương của các cấp ủy đảng, người đứng đầu... chưa thực sự có
sức lan tỏa và ảnh hưởng tích cực, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật bởi
những lý do sau:
Thứ nhất, nhận thức của các cấp chính quyền và cơ quan chưa thực sự đầy đủ;
chưa thấy rõ hết được vai trò của công tác này góp phần vào quá trình quản lý xã hội
- Đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công
cuộc đổi mới”, đã chỉ những vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn đó cần thực
hiện; các tác giải đã chỉ ra khái niệm, mục đích, nội dung và đối tượng cũng như hình
thứ PBGDPL;
- Đề tài: “Giáo dục pháp luật cho phụ nữ của nước ta hiện nay”, là luận văn
thạc sĩ được thực hiện năm 2012 của Học viên Phạm Thị Minh đã khái quát được vai
trò và tâm quan trọng việc giáo dục pháp luật cho phụ nữ ở nước ta trong giai đoạn
hiện này;
- Đề tài luận văn thạc sĩ của học viên Phạm Kim Dung được thực hiện năm
2012 với nội dung “Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ quan hành chính ở
thành phố Hà Nội hiện nay”, đã chỉ ra tầm quan trong của công tác giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chứ, góp phần nâng cao ý thực pháp luật, ý thức phục vụ và
thực thi công vụ của cán bộ, công chức trên địa bàn Thành phố Hà Nội;
3
- “Bàn về hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta hiện nay”, đăng
trên tạp chí Tạp chí Khoa học pháp lý, năm 2011 của tác giả Hoàng Thị Kim Quế đã
chỉ ra những yêu cầu và tính hiệu quả trong công tác giáo dục pháp luật ở Việt Nam
hiện nay;
- “Ý thức hiến pháp trong nhà nước pháp quyền - nhận thức và những đặc
trưng cơ bản”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, năm 2012; Hoàng Thị Kim Quế cũng
đã bàn tới ý thức hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam...
Các công trình nghiên cứu cơ bản đã liệt kê trên đã bàn về những vấn đề lý
luận và thực tiễn trong công tác truyền truyền, PBGDPL ở một ngành hay lĩnh vực
nào đó; chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp đến nội dung và vấn đề mà luận
văn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh; do đó nội dung PBGDPL cho đồng bào DTTS trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk mà tác giải nghiên cứu là vấn đề có tính cấp thiết. Điều này sẽ
được đề cập một cách thấu đáo ở các chương của luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: tỉnh Đắk Lắk, là tỉnh miền núi Tây Nguyên có 47 dân
tộc cùng sinh sống, dân tộc thiểu số (bao gồm các dân tộc: Êđê, Mnông, Gia Rai,
Hoa, Mường, Xơ Đăng, Bru - Vân Kiều, Ba Na, Khơ me, Chăm, Raglai… Tày, Thái,
Nùng, Dao, Mông..).
Thời điểm nghiên cứu: Căn cứ Quyết định số 554/QĐ-TTg ngày 04/5/2009
của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Đề án tuyên truyền phổ biến pháp luật cho
người dân nông thôn và đồng bào các DTTS, tác giải cũng sẽ đề cập đến những nội
dung liên quan; tuy nhiên thời gian nghiên cứu trong luận văn chủ yếu đề cập và phân
tích giai đoạn 5 năm gần đây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn của học viên được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng
và duy vật lịch sử; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở lý
luận về Nhà nước và Pháp luật.
5
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Việc nghiên cứu đề
tài dựa trên kết quả phân tích tài liệu thứ cấp là các công trình nghiên cứu có liên
quan đến PBGDPL. Phương pháp nghiên cứu này sẽ cho tác giả thu được kết quả
sau:
+ Thấy được kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước về những nội dung liên
quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề PBGDPL cả ở góc độ lý luận và thực tiễn,
những điểm có thể kế thừa, những điểm cần bổ sung, bàn luận thêm từ các nghiên
cứu của họ;
+ Phân tích, tổng hợp tài liệu nhằm hình thành các luận điểm, luận cứ phân tích,
đánh giá việc nghiên cứu của đề tài. Cụ thể, luận văn được thực hiện dựa trên sự
Thông qua công trình nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp một phần
nhỏ công sức của mình vào công tác tuyên truyền PBGDPL trong thời kỳ đẩy mạnh
xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn được bố cục gồm lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo.
Nội dung của luận được cấu kết bởi 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho
đồng bào dân tộc thiểu số.
Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho bào dân tộc thiểu số tại
tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp đảm bảo thực hiện có hiệu quả phổ
biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
NGƯỜI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Những khái niệm cơ bản về phổ biến, giáo dục pháp luật
1.1.1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật là là nội dung quan trọng để cụ thể hóa hoạt động
quản lý xã hội của nhà nước bằng pháp luật, nó không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà
nó còn có ý nghĩa xã hội, văn hóa và nhân văn để hoạt động quản lý của nhà nước có
hiệu lực và hiệu quả trong đời sống xã hội. Qua hoạt động đó sẽ giúp chủ thể và
khách thể của hoạt động PBGDPL hiểu và biết được những quy định của pháp luật để
họ thực hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình khi tham gia vào công tác
PBGDPL cũng như các quan hệ pháp luật.
Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất Đà Nẵng năm 1997 thì: "Phổ biến là làm cho
đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp
nghĩa và vai trò của của những quy định pháp luật đó, để họ biết, hiểu và hình thành ý
thức ủng hộ và tuân thủ pháp luật trong đời sống. Bản chất của pháp luật là thể hiện ý
chí, nguyện vọng của nhân dân, nhằm quản lý xã hội và phục vụ nhân dân, tuy nhiên
dù mục đích tốt đẹp của bất kỳ pháp luật của quốc gia nào thì khi tiến hành xây dựng
và ban hành phải xuất phát từ mục đích và quyền lợi của nhân dân, phải tuyên truyền,
PBGDPL rộng trong nhân dân để dân biết, dân làm và thực hiện.
Khi xây dựng một văn bản pháp luật mới nào đó, theo quy định của pháp luật
các cơ quan ban hành văn bản cần phải thông tin và lấy ý kiến của các cơ quan tổ
chức có liên quan và những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của pháp luật; được
những chủ thể chịu sự tác động trực tiếp quan tâm, tìm hiểu do nhu cầu công việc và
học tập, hay nghiên cứu, hoặc sản xuất kinh doanh; nhưng số lượng tác động trực tiếp
này không nhiều và trình độ dân trí, hiểu biết và tự ý thức tìm hiểu pháp luật chưa cao
và không đồng đều giữa các tầng lớp dân cư và đặc biệt đối với đồng bào DTTS. Do
đó các cơ quan nhà nước có trách nhiệm và thẩm quyền, các tổ chức xã hội và toàn
bộ hệ thống chính trị cần phải tích cực tham gia và quá trình PBGDPL, thông qua
hoạt động này những yêu cầu, nội dung và những quy định của pháp luật mới đến
được với nhân dân và đặc biệt đối với đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa đó là cách
9
thức và phương pháp hữu hiệu nhất để nâng cao hiểu biết về pháp luật cho nhân dân
và là điều kiện, tiền đề của xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa là quản lý xã hội trên cơ sở những quy định của pháp luật và bằng pháp luật.
- Hình thành lòng tin vào pháp luật cho đối tượng
Không có một pháp luật của quốc gia nào khi ban hành ra đã đảm bảo hiệu lực
pháp lý và quản lý tuyệt đối; pháp luật chỉ có thể được thực hiện khi nhân dân hiểu,
tin tưởng và phù hợp với quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ và đảm bảo
cho họ những quyền đó, thì khi đó nhân dân mới tin tưởng và tự giác tuân thủ, chấp
hành pháp luật, khi đó không cần đến sự cưỡng chế của nhà nước thì đối tượng chịu
sự điều chỉnh của pháp luật sẽ tự giác và có ý thức thực hiện.
được hình thành một cách tự phát, thiếu tính hệ thống, ví dụ: tình cảm đối với vấn đề
công bằng, nỗi sợ hãi trước hình phạt, sự đồng tình hay phản đối với bản án mà Tòa
án đã tuyên cho bị cáo. Thái độ quan tâm, phẫn nộ hay trung lập lãnh đạm, thờ ơ đối
với các hành vi vi phạm pháp luật… đều là những biểu hiện đa dạng, nhạy cảm về
tâm lý pháp luật của các cá nhân. Tâm lý pháp luật chịu sự tác động mạnh mẽ,
thường xuyên từ các yếu tố khách quan và chủ quan như môi trường tự nhiên, xã hội,
văn hóa, tôn giáo, tâm lý, tình trạng sức khỏe. học vấn, tài chính, các mối quan hệ gia
đình, xã hội…
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng thể các tư tưởng, học thuyết, trường phái lý luận,
quan điểm khoa học về pháp luật. Đó là sự phản ánh, luận giải trong tư tưởng pháp luật
bao quát hầu hết các lĩnh vực cơ bản của đời sống nhà nước và pháp luật như: vai trò, vị
trí, chức năng pháp luật, cách thức xây dựng, kỹ thuật xây dựng pháp luật và áp dụng
pháp luật; quan điểm về các loại nguồn pháp luật; các quyền và nghĩa vụ pháp lý…
Giữa tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật có mối quan hệ biện chứng, phụ
thuộc, tác động lẫn nhau. So với tư tưởng pháp luật, tâm lý pháp luật là bộ phận bền
vững hơn, bảo thủ hơn. Đồng thời tâm lý pháp luật dưới sự tác động của đời sống xã
hội cũng dao động, trong nhiều trường hợp lại thay đổi dễ dàng, nhanh chóng, chỉ có
điều thay đổi theo hướng nào, tích cực hay tiêu cực.
Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục văn bản pháp luật là hoạt động phổ biến và
tuyên truyền những văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý đã và đang được áp dụng
trong thực tế, mà còn phổ biến những văn bản pháp luật đã hết hiệu lực, hoặc không
11
phù hợp với thực tiễn đã được sửa đổi giúp nhân dân sớm tiếp cận và hiểu được
những quy định của pháp luật ấy, đồng thời lên án những hành vị sai trái với những
quy định của pháp luật, khuyến khích động viên nhân dân sống và tuân thủ pháp luật
của nhà nước và đặc biệt với đồng bào DTTS hiện nay; trong thực tế đời sống xã hội
đồng bào vẫn còn có những phong tục, tập quán trái hoặc chưa phù hợp với những
quy định của pháp luật thì trong quá trình PBGDPL chúng ta phải giúp nhân dân hiểu
hệ xã hội luôn luôn biến đổi, vận động, do đó việc thực hiện và áp dụng pháp luật và
việc tuyên truyền, PBGDPL phải lấy đường lối, chính sách của Đảng làm hoạt động
và mục đích của hoạt động PBGDPL cần hướng tới.
+ Truyên truyền, PBGDPL cần tuân thủ tính khoa học, chính xác với nội dung
và quy định của pháp luật.
PBGDPL có đặc thù riêng không giống với việc tuyên truyền phổ biến về văn
hóa văn nghệ, Khi tuyên truyền, phổ biến về văn hóa văn nghệ người ta có thể nhân
cách hóa, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để phục vụ cho mục đích của
họ.
PBGDPL khác với các loại hình PBGDPL khác ở chỗ nội dung được phổ biến,
giáo dục là pháp luật, là những quy tắc xử sự chung được Nhà nước ban hành theo
một trình tự thủ tục do luật định, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ tới nội dung và yêu
cầu của các quy định đó. Do đó, công tác tuyên truyền, PBGDPL phải tuân thủ những
nguyên tắc khoa học, phù hợp với đối tượng và thực tiễn, truyền đạt chính xác những
nội dung của pháp luật quy định và đúng quy đinh trong PBGDPL.
- Tuyên truyền, PBGDPL cần đảm bảo tính kịp thời, dễ nhớ, dễ hiểu; phù hợp
với từng đối tượng được phổ biến, phải trả lời được các câu hỏi như họ cần gì? Họ
muốn gì và làm như thể nào để họ hiểu những gì mình cần phổ biến, cần có cách thức
PBGDPL phù hợp với trình độ văn hóa, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, dân tộc cho
từng đối tượng phổ biến.
PBGDPL cần chọn được hình thức phù hợp:
Hình thức GDPL còn phải phù hợp với từng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội
nhất định, do đó khi PBGDPL cũng phải xuất phát từ địa bàn, điều kiện kinh tế của
nơi tiến hành PBGDPL. Bên cạnh đó hoạt động này cần phải được tiến hành một
cách thường xuyên và liên tục, theo chương trình và kế hoạch cụ thể; tạo được tâm lý
13
tìm hiểu và thực hiện pháp luật trở thành thói quen trong nhận thức và hành động của
đời sống nhân dân, tránh hình thức phô trương, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát cũng
không đơn giản đơn thuần chỉ là người đi tuyên truyền giáo, giáo dục thông tin; phải
nói sao cho họ nghe, họi hiểu, họ muốn nghe và ham muốn hưởng ứng và tuân thủ
đối với những nội dung được PBGDPL. Muốn thực hiện tốt công tác này họ phải tự
đặt cra những câu hỏi khách thể của họ là ai? Khách thể cần gì và khi nào? Nghề
nghiệp, lứa tuổi, giới tính... của khách thể ra sao và cần phải có cách PBGDPL như
thế nào cho đạt hiệu quả cao nhất.
Công tác PBGDPL là công tác hai chiều; nghe và nhận, không chỉ đơn thuần là
truyền tải thông tin pháp luật mà còn phải biết nắm bắt đầy đủ và biết tổng hợp chính
xác những thông tin phản hổi; để không những phản ánh với những cơ quan nhà nước
có thẩm quyền về chính sách pháp luật đó có được đồng tình, ủng hộ hay phản đối;
đồng tình vì sao? Chưa đồng tình ủng hộ là do những điều kiện gì? Do công tác
PGDPL hay do nội dung pháp luật chưa phù hợp với đời sống và sự phát triển thực
tế... Chính vì lẽ đó cần đòi hỏi người làm công tác này cần phải có óc quan sát, sự
hòa đồng và giao tiếp khéo léo thì mới đảm bảo công tác này có hiệu quả có trong
hoạt động PBGDPL trong đời sống quản lý của nhà nước.
+ Người làm công tác PBGDPL cần có khả năng có kiến thức và tích lũy
những kinh nghiệm thực tiễn và phương pháp, phương tiện PBGDPL. Vì đây là hoạt
động thường xuyên, liên tục và lâu dài, muốn hoạt động tốt trong lĩnh vực này chủ
thể PBGDPL phải là người có tri thức và kinh nghiệm; không chỉ đơn thuần về kiến
thức về pháp luật mà còn cần phải có kiến thức sâu rộng như văn hóa, xã hội; cần có
tư liệu và hoạt động truyền truyền sinh động, phù hợp với từng khách thể của hoạt
động PGBGDPL.
+ Người làm công tác PBGDPL cần có khả năng và hiểu về tâm lý học và
công tác tuyên truyền: tức là chủ thể PBGDPL phải hiểu được tâm lý của khách thể
(đối tượng) mình hướng tới; hiểu được sự vận động có tính chất quy luật của tâm lý
sẽ giúp khách thể có thể nắm bắt và dự đoán những gì có thể diễn biến tiếp theo trong
quá trình PBGDPL; sự phản ứng và lắng nghe của họ đối với những nội dung pháp
luật mình sẽ và đã truyên truyền PBGPL đối với họ; dư luận về vấn đề sẽ ra saom có
khả năng đinh hướng và điều chỉnh có lợi cho công tác PBGDPL... tất cả những yêu
15
thể tuyên truyền, PBGDPL cơ bản là: chủ thể chuyên nghiệp, thực hiện chức năng,
16
nhiệm vụ của mình trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động
quản lý nhà nước về PBGDPL như giảng viên, công chức làm nhiệm vu thuộc các cơ
quan quản lý hành chính nhà nước và cơ quan tư pháp, cáo viên, đại biểu quốc hội...;
chủ thể không chuyên nghiệp là những chủ thể là những người không thực hiện công
tác chuyên môn - chuyên nghiệp, chuyên trách về công việc này. Trong quá trinh thực
hiện PBGDPL thì tùy từng vào đối tượng, mục đích, khả năng và vồn kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo của chủ thể quản lý tuyên truyền, PBGDPL sẽ có cách thức truyền đạt
phù hợ với từng đối tượng - khách thể mà họ muốn hướng tới.
1.1.3.2. Đối tượng (khách thể) phổ biến, giáo dục pháp luật
Vấn đề đối tượng của PBPL có mối quan hệ chặt chẽ với chủ thể, bởi lẽ chủ
thể khi tiến hành hoạt động PBPL thì phải xác định đối tượng là ai, cơ quan, tổ chức
hay cá nhân, công dân nào, trình độ, tuổi tác, nghề nghiệp ra sao. Việc xác định đúng
đối tượng thì chủ thể mới lựa chọn hình thức, nội dung và phương pháp thích hợp.
Chẳng hạn, nếu đối tượng là CBCC, là người thành thị thì phải vận dụng nội dung,
phương pháp và hình thức PBPL khác với người dân nông thôn và đồng bào dân tộc
ít người, có như vậy mới mang lại hiệu quả cao nhất trong công tác PBPL.
Như vậy, đối tượng PBPL có thể là cá nhân công dân, hay cơ quan tổ chức
hoặc một nhóm cộng đồng dân cư trong xã hội được tiếp nhận tác động của các hoạt
động PBPL một cách trực tiếp hoặc gián tiếp do chủ thể PBPL tiến hành nhằm đạt
được mục đích đặt ra. Khách thể của PBGDPL là đối tượng chịu sự chi phối hành
động của chủ thể; nhằm hướng khách thể thực hiện theo mục tiêu, mục đích mà chủ
thể hướng tới trong PBGDPL. Hay nói cách khác khách thể là đối tượng chịu sự tác
động trực tiếp từ chủ thể của giáo dục pháp luật, hướng họ tới thực hiện mục tiêu,
mục đích mà chủ thể đã vách ra.
Luật PBGDPL năm 2012 cũng chỉ ra những đối tượng đăc thù trong quá trình
thực hiện chức năng, nhiệm vụ PBGDPL của cán bộ, công chức, viên chức và các cơ
tham gia ký kết và được quốc hội phê chuẩn với các quốc gia và tổ chức quốc tế;
- Nhà nước luôn đề cao trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản, hợp pháp
của công dân, quyền con người;
- Cần tuyên truyên, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân
nắm rõ được chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy nhà nước; cũng như các
18