Tìm hiểu về rào cản Kỹ thuật của EU với Việt Nam. - Pdf 61

Tìm hiểu về rào cản kỹ thuật của EU với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
Lê Nam Phương-Tc03 K35 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
…………0o0…………
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2011
Giảng viên:
Thầy Ngô Văn Phong
Sinh viên thực hiện:
Lê Nam Phương-TC003 K35
TÌM HIỂU VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA
EU VỚI CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM
Tìm hiểu về rào cản kỹ thuật của EU với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I. RÀO CẢN KỸ THUẬT 3
1. Khái niệm về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT 3
2. Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO).
3
a. Mục đích của Hiệp định TBT
3
b. Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TBT
4
c. Hiệp định hàng rào kỹ thuật được thể hiện dưới các hình thức như sau:
5
II. CÁC HÌNH THỨC RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI THẾ
GIỚI
6
1. Các qui định kỹ thuật (technical requirements), tiêu chuẩn (standards) và

(4) Rào cản “vô hình”
14
Lê Nam Phương-Tc03 K35 2
Tìm hiểu về rào cản kỹ thuật của EU với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
2.1- Các rào cản kỹ thuật chính áp dụng cho các mặt hàng Công nghiệp
15
Một số rào cản cụ thể đối với mặt hàng công nghiệp
15
2.1.1- REACH (Registration, Evaluation, Authorisation and Restriction of
Chemicals
15
2.1.2- RoHS / WEEE
16
2.1.3- FLEGT(Forest Law Enforcement, Governance and Trade)
16
2.1.3- Chính sách đầu tư (Comprehensive Investment Policy)
16
2.1.4- Luật hải quan mới
17
Một số rào đối với một số mặt hàng công nghiệp 17
(i) Mặt hàng xe đạp
17
(ii) Nhóm hàng giấy dép, dệt- may mặc
18
(iii) Một số nhóm hàng khác
19
2.2. Rào cản áp dụng đối với các mặt hàng nông nghiệp
19
a) Các loại rào cản “hữu hình” đang được EU áp dụng gồm
19

Lê Nam Phương-Tc03 K35 3
Tìm hiểu về rào cản kỹ thuật của EU với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
I. RÀO CẢN KỸ THUẬT
1. Khái niệm về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Barriers to Trade – TBT) là một loại hàng
rào phi thuế quan, được xem là một trong những nhóm biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn
chặn hàng xuất khẩu. Hàng rào này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như
tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất hàng hóa
phải an toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trường, các vấn đề liên quan tới ghi nhãn, vận chuyển,
bảo quản hàng hóa... Chúng là các rào cản hợp lý và hợp pháp, cần được duy trì. Rào cản
thương mại quốc tế rất đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả hệ thống pháp luật quốc
tế, cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụng không giống nhau ở các quốc gia
và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, còn có những hàng rào kỹ thuật được dựng lên để hạn chế
thương mại của nước khác hoặc mang tính phân biệt đối xử giữa các quốc gia và vùng lãnh
thổ, giữa hàng hóa trong nước hoặc nhập khẩu.
Hàng rào kỹ thuật (hay rào cản kỹ thuật) là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ
người tiêu dùng trong nước, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nước song có thể gây
trở ngại cho thương mại quốc tế do việc đưa ra những quy định quá mức cần thiết hoặc
không phù hợp với các định chế của Hiệp định TBT.
2. Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO).
Được viết tắt là TBT (The WTO Agreement on Technical Barriers to Trade). Hiệp định này
được các quốc gia thành viên của WTO thông qua và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm
1995 gồm 6 phần với 15 điều và 3 phụ lục.
a. Mục đích của Hiệp định TBT
Thúc đẩy thương mại, khuyến khích các nước thành viên tham gia xây dựng và áp dụng
tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn của các nước thành viên hài hòa càng nhiều càng tốt với tiêu
chuẩn quốc tế;
Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước
đang phát triển thông qua hoạt động tiêu chuẩn hóa.

vọng. Để giúp đảm bảo cóđược thông tin này thuận tiện hữu dụng, tất cả các chính phủ
thành viên của WTO được yêu cầu phải thành lập các điểm hỏi đáp quốc gia
b. Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TBT
• Không phân biệt đối xử hoặc không công bằng giữa các quốc gia thành viên với
nhau, các quốc gia khác với bản thân quốc gia đó.
• Không cản trở quá mức cần thiết đối với thương mại quốc tế.
• Minh bạch hóa trong việc xây dựng và áp dụng các văn bản tiêu chuẩn và quy trình
đánh giá sự phù hợp bằng các hình thức thông báo công khai và đảm bảo một thời
gian thích hợp trước khi có hiệu lực.
Tính bình đẳng, tính minh bạch trong thực thi Hiệp định TBT không cho phép sự chiếu cố
đối với trình độ kỹ thuật hoặc khả năng tài chính của bất kỳ quốc gia thành viên nào, đồng
thời hàng rào kỹ thuật trong thương mại cũng không hẳn là bùa hộ mệnh đối với các nước
phát triển. Hàng rào kỹ thuật trong thương mại luôn được hiểu đầy đủ là phương án phòng
vệ chính đáng của mỗi quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, phù
hợp lợi ích quốc gia và quốc tế.
c. Hiệp định hàng rào kỹ thuật được thể hiện dưới các hình thức như sau:
1. Tiêu chuẩn kỹ thuật: Văn bản tự nguyện áp dụng, đề cập đến đặc tính của hàng hóa,
phương pháp sản xuất, bao gói ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản hàng hóa.
2. Văn bản pháp quy kỹ thuật: Với nội dung kỹ thuật tương tự như tiêu chuẩn nhưng
mang tính pháp lý buộc phải thực hiện.
3. Quy trình đánh giá sự phù hợp: Là quy trình xác định xem các yêu cầu của tiêu
chuẩn, văn bản pháp quy kỹ thuật có được thực hiện hay không.
Lê Nam Phương-Tc03 K35 5
Tìm hiểu về rào cản kỹ thuật của EU với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
Khi xây dựng các tiêu chuẩn, văn bản pháp quy kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp
phải đảm bảo không gây cản trở thương mại, không phân biệt đối xử quốc gia, minh bạch
hóa và phải tính đến nhu cầu, quyền lợi của các nước đang phát triển là thành viên WTO.
Tạo điều kiện, trợ giúp kỹ thuật từ các nước phát triển cho các nước đang phát triển và đặc
biệt kém phát triển.
Như vậy, hàng rào kỹ thuật trong thương mại thực chất là những biện pháp kỹ thuật cần

1. Các qui định kỹ thuật (technical requirements), tiêu chuẩn (standards) và thủ tục
xác định sự phù hợp

Lê Nam Phương-Tc03 K35 6
Tìm hiểu về rào cản kỹ thuật của EU với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
 Quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đều đặt ra các
yêu cầu cụ thể về physical đối với sản phẩm. Các yêu cầu này có thể liên quan tới
kích thước, hình dáng, thiết kế, độ dài và các chức năng của sản phẩm. Các yêu cầu
này cũng có thể quy định về nhãn mác, đóng gói, ký hiệu sản phẩm và mở rộng tới
các quy trình và phương pháp sản phẩm liên quan tới sản phẩm. Tuy nhiên, điểm
khác biệt cơ bản giữa tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật là ở chỗ sự tuân thủ các tiêu
chuẩn là mang tính tự nguyện trong khi sự tuân thủ với các quy định kỹ thuật là bắt
buộc. Trên thực tế, nếu một sản phẩm nhập khẩu không đáp ứng các yêu cầu của
quy định kỹ thuật thì nó sẽ không được phép bán ra thị trường. Còn đối với tiêu
chuẩn, nếu hàng nhập khẩu không tuân thủ các yêu cầu của tiêu chuẩn đặt ra thì vẫn
được phép bán ra thị trường, mặc dù có thể bị người tiêu dùng tẩy chay. Mục đích
của các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn là bảo vệ an toàn, sức khoẻ của con người,
bảo vệ sức khoẻ, đời sống động thực vật, bảo vệ môi trường, ngăn chặn các hành vi
lừa dối. Các tiêu chuẩn và quy định liên quan đến kỹ thuật là một trong những cản
trở lớn nhất đối với việc tiếp cận các thị trường nước ngoài của các nước đang và
kém phát triển vì những nước này chưa có đủ trình độ và kỹ năng về công nghệ sản
xuất, chế biến cũng như công nghệ bảo quản độ an toàn cho các sản phẩm hàng hoá,
nhất là các loại lương thực, thực phẩm. Các nước phát triển thường yêu cầu các
nước đang và kém phát triển phải thực hiện các quy định rất chặt chẽ liên quan tới
môi trường và nhiều khi còn yêu cầu các nước này phải xuất trình trước các sản
phẩm mẫu để họ kiểm tra, thử nghiệm ... Điều này đã làm phức tạp thêm rất nhiều
các thủ tục kiểm tra và chứng nhận sản phẩm xuất khẩu.

 Các thủ tục đánh giá sự phù hợp: chẳng hạn như xét nghiệm, thẩm tra xác thực,
kiểm định, chứng nhận - được sử dụng để đảm bảo rằng các sản phẩm đáp ứng các

chế thương mại không cần thiết. Mục tiêu này nhằm cho các thành viên chọn lựa được
mức bảo hộ vệ sinh kiểm dịch cần thiết và phù hợp. Cũng trong khuôn khổ của Hiệp định
SPS, các Thành viên WTO cũng được yêu cầu thông báo cho Uỷ ban chức năng có liên
quan của WTO các biện pháp SPS đang áp dụng mà có các ảnh hưởng đến thương mại,
đồng thời phải thành lập các cơ quan Quốc gia có chức năng kiểm tra các biện pháp này và
chịu trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin của thành viên đó.

Hiệp định SPS cũng quy định về việc trợ giúp kỹ thuật cho các thành viên LDCs nhằm
tăng cường năng lực cho các thành viên này trong quá trình triển khai các quy định trong
Hiệp định này. Cũng giống như các quy định trong Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối
với thương mại (TBT), Hiệp định này cũng đưa ra quy định về việc cho các nước đang
phát triển và các nước LDCs được hưởng các đãi ngộ đặc biệt trong quá trình thực hiện
Hiệp định.

Ở nhiều nước phát triển, các quy định về SPS bao gồm các luật, Nghị định, quy định, yêu
cầu và thủ tục liên quan như: các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng; các phương pháp
sản xuất và chế biến; các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp thuận; những
xử lý cách ly bao gồm các yêu cầu liên quan tới việc vận chuyển cây trồng và vật nuôi, hay
các chất nuôi dưỡng chúng trong quá trình vận chuyển; những quy định về các phương
pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các phương pháp đánh giá rủi ro liên quan; các yêu cầu
về đóng gói và nhãn mác liên quan trực tiếp tới an toàn thực phẩm. Nhìn chung các biện
pháp kiểm dịch động thực vật là nhằm mục đích phát hiện ra dư lượng độc tố ( kháng sinh,
hoá chất) và dư lượng vi sinh (nẫm, côn trùng) có trong sản phẩm. HACCP
[22]
là một trong
những biện pháp thường được áp dụng trong thương mại quốc tế để kiểm soát chất lượng
của hàng thuỷ sản và thịt.
Lê Nam Phương-Tc03 K35 8
Tìm hiểu về rào cản kỹ thuật của EU với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam


hưởng trong công tác xử lý chất thải của nước nhập khẩu.

Vấn đề bao bì sau tiêu dùng liên quan đến việc xử lý chất thải rắn. Các chính sách đóng gói
bao gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu đóng gói, những quy định về tái sinh,
những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng... Những tiêu chuẩn và quy định
liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên liệu đóng gói đòi hỏi việc
đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hoặc dùng lại. Những quy định không phù hợp có thể
Lê Nam Phương-Tc03 K35 9
Tìm hiểu về rào cản kỹ thuật của EU với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
bị thị trường từ chối cả nguyên liệu đóng gói và sản phẩm chứa trong bao bì. Chẳng hạn,
Liên bang Đức từ chối nhập khẩu các sản phẩm của Indonesia được đóng gói bằng bì gai là
loại không có dụng cụ phân huỷ ở Đức. Việc sử dụng các tiêu chuẩn về bao bì và đóng gói
trong nhiều trường hợp sẽ ảnh hưởng đến cạnh tranh thương mại quốc tế. Điều này bắt
nguồn từ sự khác nhau về các tiêu chuẩn và quy định, về chi phí sản xuất bao bì, các nguyên
liệu dùng để sản xuất bao bì và khả năng tái chế ở các nước khác nhau.

4. Yêu cầu về dán nhãn sinh thái: Dán nhãn sinh thái có nghĩa là các nước nhập khẩu
yêu cầu các nước xuất khẩu phải thực hiện việc dán nhãn mác sản phẩm của mình theo
những tiêu chuẩn nhất định nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng về sinh thái cho các nước
nhập khẩu. Đặc biệt đây thường là yêu cầu của các nước phát triển đối với các nước kém
phát triển (LDCs), các yêu cầu này dù thuộc hình thức tự nguyện hay hình thức bắt buộc
thì đều gây những khó khăn nhất định trong quá trình xuất khẩu của các nước LDCs. Vì
thông thường các nước LDCs hay có thói quen sử dụng nhãn mác cầu kỳ như một công cụ
marketing và quảng bá một cách hiệu quả cho sản phẩm của mình khi thâm nhập thị trường
ngoài nước.

Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng
biết là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường. Các tiêu chuẩn về dán nhãn
sinh thái được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, một quá trình
còn được gọi là phương pháp phân tích từ đầu đến cuối (từ lúc sinh đến lúc chết). Theo

phẩm được sử dụng như thế nào? và sản phẩm được vứt bỏ như thế nào? và những quá
trình này có làm tổn hại đến môi trường hay không?. Các tiêu chuẩn PPMs áp dụng cho
giai đoạn sản xuất, nghĩa là giai đoạn trước khi sản phẩm được tung ra bán ở thị trường và
kiểm tra xem quá trình sản xuất có gây ô nhiễm môi trường hay không.

Đã có rất nhiều tranh chấp thương mại liên quan đến PPMs như trường hợp Hoa Kỳ
cấm nhập khẩu cá ngừ của Mexico và tôm của Thái Lan vì phía Hoa Kỳ cho rằng các nước
này sử dụng phương tiện đánh bắt làm ảnh hưởng đến loài rùa biển, hay Cộng hoà Liên
bang Đức cấm nhập khẩu các sản phẩm văn hoá của Phần Lan do chúng được sản xuất từ
bột giấy được lấy từ rừng nguyên sinh ở Indonesia, trường hợp tương tự đối với cá tra, cá
basa của Việt Nam...

6. Các yêu cầu của người tiêu dùng: Nhiều nước phát triển áp đặt các điều kiện về môi
trường đối với các nhà xuất khẩu tại các nước đang và chậm phát triển. Các yêu cầu này
liên quan đến các vấn đề như môi trường, lao động trẻ em và các quyền về con người,
những yêu cầu này đã từng có ảnh hưởng rất nhiều tới cơ hội thương mại của các nước
xuất khẩu.

Hiệp định TBTs cũng quy định các điều khoản liên quan đến việc hỗ trợ kỹ thuật cho
các nước LDCs trong việc chuẩn bị và soạn thảo các quy định về kỹ thuật, tham gia vào
các tổ chức tiêu chuẩn hoá, thành lập các cơ quan điều phối nhằm đánh giá việc tuân thủ và
tính phù hợp với các quy định về kỹ thuật, đồng thời tìm kiếm tiêu chuẩn và hợp chuẩn
trong khuôn khổ lãnh thổ của mình và với các thành viên WTO khác. Ngoài ra, Hiệp định
này cũng đưa ra những quy định về việc cho các nước LDCs được hưởng nhiều đãi ngộ
đặc biệt khác, ví dụ như cho phép các nước LDCs có được nhiều thời gian hơn trong việc
thực hiện các nghĩa vụ này.

Gia nhập WTO, Việt Nam cũng phải thực hiện nhiều cam kết liên quan đến Hiệp
định TBTs: Điểm hỏi đáp và thông báo về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại của Việt
Lê Nam Phương-Tc03 K35 11

0,6% thị phần tại EU.
Nếu tính tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu thì EU là bạn hàng thứ 2 của Việt nam
sau Trung Quốc và xếp trên Hoa kỳ (trị giá kim ngạch xếp theo thứ tự: 12,36 tỷ, 11,19 tỷ
và 10,9 tỷ). Việt Nam luôn xuất siêu so với EU trong nhiều năm qua, năm 2009 đạt 4,04 tỷ
euro, trong đó nhóm hàng nông sản là 1,42 tỷ và hàng công nghiệp 2,62 tỷ.
1.2- Cơ cấu, tỷ trọng và thị phần
Mặt hàng
Kim ngạch
(Triệu /euro)
Tỷ trọng tổng
kim ngạch XK
(%)
Thị phần nhập
khẩu của EU
(%)
Lê Nam Phương-Tc03 K35 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status