Thực trạng môi trường xung quanh khu vực khai thác mỏ núi pháo và kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống ô nhiễm môi trường của người dân - Pdf 61

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG
XUNG QUANH KHU VỰC KHAI THÁC MỎ NÚI PHÁO
VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
PHÒNG CHỐNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG
XUNG QUANH KHU VỰC KHAI THÁC MỎ NÚI PHÁO
VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
PHÒNG CHỐNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN

Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 8720163

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ XUÂN SƠN

ii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn do
tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên
cứu khoa học nào.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc./.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Học viên

Nguyễn Thị Kim Liên


iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................. v
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ......................................................................... vii
DANH MỤC CÁC HỘP ................................................................................ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN ................................................................................. 3
1.1. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................ 3
1.2. Ô nhiễm môi trường khu vực khai thác mỏ trên thế giới và Việt Nam ..... 5
1.3. Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống ÔNMT của người dân và
một số yếu tố liên quan ................................................................................... 13


v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBYT

Cán bộ y tế

cs

Cs

CSSKBĐ

Chăm sóc sức khỏe ban đầu

GDP

Gross Domestic Product (tổng sản phẩm quốc nội)

KAP

Knowledge Attitude Practice (kiến thức, thái độ, thực hành)

KLM

Kim loại màu

KLN



TCCP

Tiêu chuẩn cho phép

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

UBND

Ủy ban nhân dân

UNEP

United Nations Environment Programme (Ccương trình Môi
trường Liên Hiệp Quốc)

USD

United States Dollar (đồng đô la Mỹ)

X

Số trung bình


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG



viii

DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 3.1. Kết quả thảo luận nhóm về thực trạng ô nhiễm môi trường khu vực
khai thác mỏ Núi Pháo .................................................................... 37
Hộp 3.2. Kết quả phỏng vấn sâu về thực trạng ô nhiễm môi trường xung
quanh khu vực khai thác mỏ Núi Pháo ........................................... 38
Hộp 3.3. Kết quả thảo luận nhóm về thực trạng KAP phòng chống ÔNMT của
người dân ........................................................................................ 44
Hộp 3.4. Kết quả phỏng vấn sâu về thực trạng KAP phòng chống ÔNMT của
người dân ........................................................................................ 45


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động khai thác mỏ trên thế giới góp phần không nhỏ trong phát
triển kinh tế của nhiều quốc gia. Tuy nhiên hoạt động này cũng gắn liền với
nhiều tác động môi trường và xã hội nghiêm trọng, đặc biệt là hiện tượng ô
nhiễm môi trường và các yếu tố nguy cơ cho sức khỏe, bệnh tật của con người.
Do thời gian hoạt động của dự án khai thác mỏ thường khá dài, thậm chí
tới hàng trăm năm, nên lượng chất thải là khá lớn và tác động đến môi trường
khá phức tạp, ảnh hưởng đến tất cả các hợp phần của môi trường. Đối với con
người, bụi và các kim loại nặng, nguồn phóng xạ và nguyên tố độc hại, khí
độc hại ở những vùng bị ô nhiễm sẽ đi vào thức ăn, nguồn nước gây tác động
xấu đến sức khỏe [20].
Theo nghiên cứu năm 2007 của viện Blacksmith về 10 nơi ô nhiễm nhất
trên thế giới thì cho kết quả đến 4 nơi là ô nhiễm liên quan đến kim loại ở các

thực hành các biện pháp phòng chống ô nhiễm môi trường của người dân tại
đây ra sao? Những yếu tố nào có liên quan? Chúng tôi tiến hành đề tài “Thực
trạng môi trường xung quanh khu vực khai thác mỏ Núi Pháo và kiến
thức, thái độ, thực hành phòng chống ô nhiễm môi trường của người
dân”, với các mục tiêu sau:
1. Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường đất, nước xung quanh khu
vực khai thác mỏ Núi Pháo huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 2017.
2. Phân tích thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống ô
nhiễm môi trường của người dân và một số yếu tố liên quan tại khu vực khai
thác mỏ Núi Pháo huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về môi trường
Theo Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm
2014 của Quốc hội khóa 13 định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố
vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của
con người và sinh vật” [35].
Theo nghĩa rộng: môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần
thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không
khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội... Theo nghĩa hẹp, thì môi
trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã
hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người [49].
Môi trường tự nhiên là các yếu tố tự nhiên bao gồm: đất, nước, không
khí, cây cỏ, tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố liên quan... đảm bảo cho con
người có khả năng tồn tại và phát triển.

trường nước bị ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh, ô nhiễm các hợp chất hữu cơ,
các hóa chất độc hại và ô nhiễm kim loại nặng [31].
− ÔNMT không khí là ô nhiễm do các chất có sẵn trong tự nhiên hoặc
hành động của con người làm phát sinh các chất ô nhiễm trong không khí [51].
1.1.3. Khái niệm về sức khỏe môi trường
Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Sức khoẻ là trạng thái thoải mái cả về thể
chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay tật”.
Sức khỏe môi trường là “trạng thái sức khỏe của con người liên quan và
chịu tác động của các yếu tố môi trường xung quanh”.


5

Con người phụ thuộc vào môi trường xung quanh và được hình thành từ
môi trường này, cho nên việc bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khỏe con
người. Trạng thái sức khoẻ con người là tiêu chuẩn tổng hợp nhất của tình
trạng môi trường.
Trong tổng số các bệnh tật của con người có tới 25% bệnh tật liên quan
đến môi trường, trong đó có tới 80% các loại bệnh gây nên do nước hoặc liên
quan đến nước. Người ta thấy 80% tất cả các bệnh ung thư liên quan đến môi
trường (hút thuốc, dinh dưỡng, các yếu tố môi trường khác) [49].
Môi trường và sức khỏe con người có mối liên quan chặt chẽ với nhau.
Nếu sử dụng khai thác hợp lý nó sẽ đem lại nguồn lợi lớn về kinh tế, sức khỏe
cho con người và ngược lại nếu không biết cách bảo vệ, xây dựng phát triển
và sử dụng môi trường sống hợp lý thì môi trường sẽ tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp đến sức khoẻ, tạo ra các yếu tố nguy cơ cho sức khoẻ, bệnh tật.
1.2. Ô nhiễm môi trường khu vực khai thác mỏ trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Ô nhiễm môi trường khu vực khai thác mỏ trên thế giới
ÔNMT do khai thác mỏ đang là vấn đề toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu
là mối nguy cơ tích luỹ sinh học các chất ô nhiễm kim loại nặng ngày càng

Nghiên cứu của Yongming Luo và cs năm 2009 về ô nhiễm KLN và
khắc phục hậu quả ở đất nông nghiệp Châu Á chỉ ra rằng hầu hết các nước
châu Á, với sự nhấn mạnh đến Trung Quốc, đang trải qua sự phát triển kinh tế
nhanh chóng. Một số đất nông nghiệp ở vùng ngoại ô của hầu hết các thành
phố và khu vực tưới tiêu ở Trung Quốc bị ô nhiễm một phần bởi các KLN
như Cd, As, Zn, Cu và Hg, dẫn đến sự nhiễm bẩn kim loại các sản phẩm nông
nghiệp và có nguy cơ tiềm ẩn đối với con người sức khỏe [71].
Ở khu vực Nam Delhi, Ấn Độ, năm 2013 các nhà nghiên cứu Ashish
Joshi và cs đã tiến hành đánh giá chất lượng nước ở khu vực gần mỏ khai thác
khoáng sản tại trên bốn khu ổ chuột của South Delhi và chỉ ra rằng các vấn đề
thường gặp về nguồn nước tại đây là tình trạng ô nhiễm nước (28%, n = 11),


7

số nước sạch được cấp để thay thế không đủ (12%, n = 5) và mùi hôi (7%, n =
3). Phần lớn những người được hỏi cảm thấy không lo ngại gì từ nguồn nước,
trong khi 95% (n = 38) người tham gia cảm thấy rằng chất lượng nước có thể
ảnh hưởng đến sức khoẻ và hơn 2/3 số người tham gia (83%, n = 33) nước ô
nhiễm có thể gây ra nhiễm trùng đường tiêu hóa hoặc rối loạn đường ruột [55].
Năm 2014, Carla Candeias và cs tiến hành nghiên cứu về xác định nguồn
và đánh giá rủi ro tiềm tàng đối với các KLN và các vật liệu nguy hiểm trong
khu vực khai khoáng: nghiên cứu trường hợp của mỏ Panasqueira (miền
Trung Bồ Đào Nha) chất thải của Barroca Grande và các đập tràn mở có nồng
độ As, Cd, Cu, Pb, W, và Zn cao như vậy (hàm lượng trung bình trong vật
liệu chất thải thô nhiều hơn As = 7142 mg/kg; Cd = 56 mg/kg, Cu = 2501
mg/kg, Pb = 172 mg/kg, Sn = 679 mg/kg, W = 5400 mg/kg và Zn = 1689
mg/kg. Các nồng độ vượt quá các giá trị xác định cho phần trăm thứ 90 của
vùng Nam Bồ Đào Nha (như As 157 mg/kg, Cu 108 mg/kg, Ni 62 mg/kg, Pb
117 mg/kg, Zn 134 mg/kg) [57].

các hoạt động khai thác khoáng sản đã gây ra nhiều tác động xấu đến môi
trường xung quanh: sử dụng chưa thực sự có hiệu quả các nguồn khoáng sản
tự nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát
tán chất thải rắn; làm ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm
không khí, ô nhiễm đất; làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; gây tiếng ồn và
chấn động; sự cố môi trường [29].
Theo Lê Đình Thành năm 2012 khi nghiên cứu môi trường tại mỏ than
Lộ Trí, Quảng Ninh cho thấy khi hoạt động của mỏ than thì khu vực xung
quanh khoảng 200m bụi phát sinh trong khu vực này rất lớn. Với quy mô sản
xuất 500.000 tấn than/năm ở mỏ Lộ Trí thì lượng bụi phát sinh ước tính
khoảng 550 - 700 tấn bụi/năm. Ngoài ra trong quá trình khai thác than còn tạo
ra các loại khí độc hại [44].


9

Năm 2011 Đặng Văn Minh đã tiến hành nghiên cứu về môi trường đất
khu vực khai thác thiếc tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, cho kết quả như sau
tại khu vực mỏ sắt Trại Cau bị ô nhiễm As nghiêm trọng, đặc biệt là đất ruộng.
Mẫu nhiễm As cao nhất tương ứng với mức 35,15 mg/kg, vượt 2,93 lần TCCP;
mẫu M1 thấp nhất với mức tương ứng là 13,9 mg/kg, vượt 1,56 lần TCCP. Hàm
lượng Pb tổng số trong các mẫu nghiên cứu đều rất lớn, cao nhất là mẫu M1 với
Pb = 405 mg/kg, vượt TCCP 5,8 lần; thấp nhất song cũng vượt 1,6 lần TCCP.
Hàm lượng Cd tổng số trong đất nghiên cứu có sự chênh lệch khá lớn, dao động
trong khoảng từ 0,4 mg/kg đến 3,8 mg/kg [32].
Theo nghiên cứu của Hà Thị Lan năm 2011 về hiện trạng ô nhiễm đất tại
khu vực khai thác khoáng sản huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy hàm
lượng Asen trong tất cả các mẫu đất nghiên cứu đều cao hơn giới hạn cho phép
của QCVN 03:2008/BTNMT, vượt từ 1,18 lần đến 12,21 lần. Hàm lượng chì
trong đất nghiên cứu đều cao hơn giới hạn cho phép của QCVN

phát triển kinh tế; gây ÔNMT nước mặt và nước ngầm bằng chất thải hóa chất
tuyển khoáng và chất phóng xạ từ sa cát [54].
1.2.3. Ô nhiễm môi trường khu vực khai thác mỏ tại tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở trung du và miền núi Bắc bộ, với diện
tích tự nhiên 3.526,64 km2. Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông
Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương. Thái Nguyên
có nguồn khoáng sản rất phong phú, hiện có khoảng 34 loại hình khoáng sản
phân bố tập trung ở các khu vực giáp ranh thành phố Thái Nguyên, Đại Từ,
Đồng Hỷ, Võ Nhai,… Phát hiện khoảng 177 điểm quặng và mỏ khoáng sản,
với khoảng 45 mỏ đang hoạt động khai thác. Các hoạt động khai thác diễn ra
với tình trạng khai thác bừa bãi, gây suy thoái môi trường, làm mất cân bằng
sinh thái ở nhiều nơi [53].
Nguyễn Duy Hải (2011) nghiên cứu thực trạng ô nhiễm kim loại nặng
trong đất và nghiên cứu biện pháp sinh học để phục hồi đất sau khai thác thiếc


11

tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cho kết quả hàm lượng Asen, chì, cadimi
vượt quá tiêu chuẩn cho phép QCVN 03:2008 (Pb là 310 mg/kg, Cd là 12
mg/kg và As là 162,5 mg/kg). Hàm lượng Cu, Zn là ít ảnh hưởng tới chất
lượng đất đều nằm trong giới hạn cho phép [17].
Năm 2011, Đỗ Thị Hằng tiến hành nghiên cứu về ÔNMT nước giếng do
chì và bệnh tật người trưởng thành sống xung quanh Xí nghiệp kẽm chì Làng
Hích, Thái Nguyên cho thấy 20% số mẫu nước giếng của người dân sống
xung quanh xí nghiệp kẽm chì xét nghiệm có hàm lượng chì cao hơn TCCP;
13,33% số hộ sử dụng nước giếng đào có hàm lượng chì cao hơn TCCP và
6,67% số hộ sử dụng nước giếng khoan có hàm lượng chì cao hơn TCCP
[20].
Theo nghiên cứu của Đặng Văn Minh năm 2011 về môi trường đất tại

hàm lượng As vượt 1,85 lần; 19 lần; 4,45 lần; Hàm lượng Zn vượt 4,44 lần;
1,07 lần; Chỉ tiêu bụi có một mẫu cao hơn quy chuẩn cho phép 2,66 lần. Nước
thải mỏ có chỉ tiêu TSS khá cao, vượt quy chuẩn cho phép QCVN
24:2009/BTNMT 3,2 lần [12].
Nghiên cứu của Dương Thị Thanh Hà năm 2013 về ảnh hưởng của hoạt
động khai than của mỏ than Phấn Mễ đến môi trường nước thị trấn Giang
Tiên, Phú Lương, Thái Nguyên cho kết quả đem so với Tiêu chuẩn chất lượng
nước thải công nghiệp thì ta thấy đa số các chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ đều vượt
chuẩn BOD5 = 61 mg/l vượt 1,22 lần; chỉ tiêu COD = 165 vượt 2,05 lần [14].
Kết quả nghiên cứu về môi trường đất gần các bãi thải mỏ của Hoàng
Thị Mai Anh (2014) cho thấy tại khu vực mỏ thiếc Hà Thượng, huyện Đại
Từ: hàm lượng As trong đất vượt quá QCVN từ 26 đến 32,32 lần; hàm lượng
Pb vượt từ 5,58 đến 12,42 lần; hàm lượng Zn vượt từ 2,53 đến 4,15 lần so với
QCVN. Các số liệu thu được tại khu vực Mỏ sắt Trại Cau, huyện Đồng Hỷ
của Hoàng Thị Mai Anh (2014): hàm lượng As trong đất vượt quá QCVN từ


13

11,59 đến 15,88 lần; hàm lượng Pb vượt từ 1,32 đến 3,45 lần; hàm lượng Zn
vượt từ 6,4 đến 8,52 lần so với QCVN [2].
1.3. Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống ÔNMT của người dân
và một số yếu tố liên quan
1.3.1. Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống ÔNMT của người dân
Theo nghiên cứu của Philip tieku acheampong năm 2010 về vệ sinh môi
trường xung quanh khu công nghiệp kumasi metropolitan cho thấy 79,5% số
người có hiểu biết đạt về các vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường; có 98,1% số
hộ gia đình có thái độ đạt về vệ sinh môi trường; 53,9% số hộ gia đình được
hỏi có thực hành đạt về giữ gìn vệ sinh môi trường [69].
Theo nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn và Nguyễn Anh Tuấn (2007) về

Người Sán Dìu ở Nam Hoà (Đồng Hỷ - Thái Nguyên): 32,22% [13]. Một
nghiên cứu khác được tiến hành ở hai xã Chiềng Sinh và Tạ Bú (Sơn La) cho
thấy tỷ lệ giếng nước hợp vệ sinh rất thấp (13,9% và 0%) [11]. Nước dùng để
ăn uống và sinh hoạt hàng ngày cho đồng bào dân tộc miền núi hầu hết không
đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Nguồn nước cũng bị ô nhiễm nặng nề do tệ phá rừng
đầu nguồn, do các chất thải của con người và súc vật... Trong khi đó ở một số
dân tộc vẫn còn tập quán sử dụng nước khe suối, nước sông... các nguồn nước
này đều không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, bị ô nhiễm cả về mặt hoá học và vi sinh
vật. Đặc biệt, ở xã Cán Tỷ (Hà Giang) cho thấy 100% mẫu nước có vi sinh
vật [25].
Trong nghiên cứu này, kết quả thảo luận nhóm người dân về thực trạng
KAP của người dân cũng cho kết quả tương tự. Kiến thức của người dân hai
xã còn thấp kém, họ chỉ biết KLN có độc hại nhưng không biết cụ thể độc hại
như thế nào cũng như cách bảo vệ sức khỏe, phòng tránh tác hại của ÔNMT
ra sao. Về tỷ lệ thực hành tốt của người dân cũng còn thấp, hầu như không có
ai tự gửi mẫu nước, thực phẩm của mình đi xét nghiệm. Điều này chứng tỏ


15

người dân chưa nhận thức được mức độ nguy hiểm của các yếu tố độc hại
trong thực phẩm đối với sức khỏe.
Theo kết quả nghiên cứu của Dương Xuân Hùng (2008) kiến thức tốt về
vệ sinh môi trường của người dân 2 xã huyện Đồng Hỷ chỉ đạt 17,1% [26].
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn (2009) ở người dân huyện Phổ Yên
còn cho kết quả thấp hơn nữa là 3,4% kiến thức tốt [39]. Trong khi đó nghiên
cứu của Hà Xuân Sơn (2015) tại một số khu vực khai thác kim loại màu ở
Thái Nguyên: tỷ lệ người có kiến thức tốt về vệ sinh môi trường là 22,3% [37].
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn (2009) cho thấy tỷ lệ người có
thái độ tốt về vệ sinh môi trường là 34,4%; tỷ lệ người dân có thái độ tương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status