A. Cơ sở lý luận về chính sách an sinh xã hội
1. Một số khái niệm
1.1.Khái niệm, đối tượng, nội dung của CSASXH
● Khái niệm: Nguyễn Hải Hữu (2007) định nghĩa “ASXH là một hệ thống các
cơ chế chính sách các giải pháp của nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp
mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế, xã
hội làm cho cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai
sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn khả năng lao động hoặc vì
các nguyên nhân khác rơi vào nghèo khổ, bần cùng và cung cấp dịch vụ
chăm sóc sức khỏe cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp đặc biệt”.
● Đối tượng: Tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị
giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của
gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả…
gọi chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội”.
● Nội dung: Chính sách an sinh xã hội có 4 nội dung chính như sau:
- Một là, tăng cường cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm
nghèo bền vững cho người lao động yếu thế thông qua hỗ trợ cá nhân và hộ
gia đình phát triển sản xuất, hỗ trợ tín dụng, giải quyết việc làm và kết nối
thông tin thị trường lao động.
- Hai là, mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia hệ thống chính sách bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để chủ động đối phó khi thu nhập bị suy
giảm hoặc bị mất do các rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già.
- Ba là, hỗ trợ thường xuyên đối với người có hoàn cảnh đặc thù và hỗ trợ đột
xuất cho người dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả
năng kiểm soát (mất mùa, thiên tai, động đất, chiến tranh, đói nghèo,...)
thông qua các khoản tiền mặt và hiện vật do ngân sách nhà nước bảo đảm.
- Bốn là, tăng cường tiếp cận của người dân đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ
bản, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin.
1.2.Khái niệm và tiêu chí hộ nghèo
1
Theo Văn bản của Thủ tương chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ
cận nghèo giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020
1
2
1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
2. Chính sách ASXH của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015-2019
- Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng
được quy định tại Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính
phủ, Luật Người cao tuổi và Luật Người khuyết tật.
- Xây dựng các kế hoạch, dự án trợ giúp xã hội cho đối tượng là người tâm
thần, rối nhiễu tâm trí, người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em lang thang,
trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Hỗ trợ, cứu trợ đột xuất kịp thời
cho những người nghèo gặp rủi ro, thiên tai, dịch bệnh, tai nạn nghiêm trọng
… Nâng cấp cơ sở vật chất và đầu tư trang thiết bị cho các cơ sở bảo trợ xã
hội công lập của tỉnh.
- Tuyên truyền lên án các hoạt động bạo lực đối với trẻ em, phòng chống tai
nạn thương tích, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Duy trì thực
hiện có hiệu quả mô hình bảo vệ trẻ em, mô hình hỗ trợ trẻ em vi phạm pháp
luật, các mô hình về thực hiện các quyền trẻ em. Thực hiện công tác bình
đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm, giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế,
chỉ đạo các công tác cai nghiện, phòng chống mại dâm
- Thực hiện nghiêm quy trình nâng cao chất lượng công tác giám định, kiểm
soát chặt chẽ chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Cải cách thủ tục hành
chính trong giải quyết chế độ, chính sách BHYT, BHXH.
3. Mục tiêu giảm nghèo 2của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015 - 2019
- Mục tiêu chung: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái
1. Điều kiện về tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế xã hội
- Điều kiện tự nhiên: Thái Bình là một miền quê sông nước, được bao bọc
bởi ba dòng sông lớn, được thông nguồn với gần 70km con sông lớn nhỏ,
mảnh đất Thái Bình như một hòn đảo nổi và lại một chiếc võng được đan
bằng các dòng sông. Thái Bình là một vùng đất phì nhiêu được phù sa hệ
thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp. Thái Bình là một tỉnh có hạ
tầng nông nghiệp cơ bản, trình độ thâm canh cao, với tài nguyên tại chỗ khá
dồi dào (khí đốt, than nâu, nguồn nước, nguồn lợi thủy sản, các mỏ cát; có
cảnh quan thiên nhiên ven biển, đa dạng sinh học,...
- Điều kiện dân cư: Theo kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm
2019, dân số của Thái Bình là 1.860.447 người. Hiện nay, Thái Bình là tỉnh
có dân số đông thứ 4 trong 10 tỉnh. kết quả năm 2019 cho thấy, trong 10 năm
4
qua, điều kiện nhà ở của các hộ dân cư đã được cải thiện rõ rệt ở tất cả các
huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Hầu hết các hộ dân cư đều có nhà ở kiên
cố, diện tích bình quân đầu người tăng lên đáng kể.
- Tình hình phát triển kinh tế xã hội: 6 tháng đầu năm 2019, GDP tỉnh Thái
Bình tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng khá, đạt gần 26.677 tỷ đồng,
tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2018, đứng thứ tư trong vùng đồng bằng sông
Hồng, kinh tế vĩ mô ổn định, thu ngân sách đạt tốt (tăng 31,1 % so với cùng
kỳ), lạm phát được kiểm soát. Một số dự án “động lực” đã đi vào hoạt động
khá hiệu quả như: Trung tâm Điện lực, Cảng biển Diêm Điền, Nhà máy
NitratAmon, hệ thống thu gom phân phối khí mỏ Thái Bình và Hàm Rồng,
hệ thống phân phối khí thấp áp. Tuyến đường bộ ven biển địa phận Thái
Bình đã được Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư, dự kiến khởi công
vào đầu năm 2019. Bên cạnh đó, trên thực tế, đã có nhiều nhà đầu tư trong
và ngoài nước về Thái Bình nghiên cứu, thăm dò tìm kiếm cơ hội đầu tư trên
các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp, đô thị, thương mại, khách sạn, du
thực hành tăng cao.
- Về lao động: Những hộ nghèo, người thu nhập thấp cần các hình thức, biện
pháp hỗ trợ tự tạo việc làm như hỗ trợ vốn vay qua các chương trình, dự án
giải quyết việc làm, nhất là lao động thời vụ nông nhàn, lao động ngay tại
địa phương và các làng nghề truyền thống.
4. Khả năng đáp ứng của tỉnh
Công tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Thái Bình đã được thực hiện đồng bộ
trên cả 3 mặt: Giúp người nghèo tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công; hỗ trợ
sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm đất sản xuất, tín dụng ưu đãi; phát
triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn ở Thái Bình.
Tỉnh đã thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ nhà ở, tiền mặt cho các hộ
gia đình thuộc diện cần hỗ trợ trên cơ sở nguồn lực hỗ trợ của Trung ương, ngân
sách tỉnh, huyện, vốn vay từ Ngân hàng chính sách xã hội, Quỹ vì người nghèo, sự
ủng hộ của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, dòng họ và sự tự lực của chính hộ
nghèo. Các chính sách nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện về việc làm,
cải thiện chăm sóc sức khỏe và y tế của người nghèo cũng được quan tâm chú
trọng. Chính quyền địa phương còn trợ giúp người dân về mặt pháp lý, chính sách
trợ giúp pháp lý đã góp phần đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu trợ giúp pháp lý
6
của người nghèo, cận nghèo tại các địa phương trong tỉnh góp phần tích cực trong
việc nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân.
II.
Thực trạng thực hiện an sinh xã hội đối với hộ nghèo, người thu
nhập thấp ở tỉnh Thái Bình
1. Kết quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội đối với hộ nghèo, người
có thu nhập thấp ở tỉnh Thái Bình từ 2015 - 2019
Theo văn bản về bảo hiểm y tế của UBND tỉnh Thái Bình năm 2016
7
cho người cận nghèo với tổng kinh phí trên 67 tỷ đồng
Theo số liệu mới nhất, vào năm 2019, thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo
thiếu hụt đa chiều tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, toàn tỉnh cấp 70.100 thẻ bảo
hiểm y tế cho người nghèo, người cận nghèo, với tổng kinh phí lên hơn 120 tỷ
đồng. Có thể thấy, do lượng người cần hỗ trợ giảm theo thời gian, nên số thẻ bảo
hiểm y tế cũng giảm, tuy vậy ngân sách hỗ trợ lại tăng lên là do có sự tăng lên
đáng kể của khung giá Bảo hiểm y tế quy định của Nhà nước.
1.3.
Về giáo dục
Hội khuyến học tỉnh Thái Bình hằng năm đều trao học bổng cho các học
sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học tập tại các địa phương trong tỉnh, 100%
em học sinh trong độ tuổi đi học đều được đến trường, có các chương trình hỗ trợ
các dịp lễ Tết: Tết ấm tình thương, Xuân yêu thương – Tết sum vầy các quỹ thăm
hỏi, quỹ tổ ấm công đoàn, quỹ tương trợ nội bộ.
Điển hình năm 2018: Hội Khuyến học tỉnh Thái Bình tổ chức trao học bổng
cho 20 học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập thuộc 2 trường tiểu
học, trung học cơ sở Lê Danh Phương, thị trấn Hưng Hà. Đồng chí Nguyễn Thanh
Cầm - Ủy viên BTV Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam, Chủ tịch Hội Khuyến
học Thái Bình đã về dự và trao học bổng.
Phòng GD&ĐT Thái Thụy đã huy động kinh phí từ Mặt trận Tổ quốc, Hội
Chữ thập đỏ huyện và các tổ chức khác trao tặng quà tết cho 220 học sinh nghèo,
tổng số tiền 130 triệu đồng. Ngoài ra, bằng lương tâm và trách nhiệm, nhiều cán bộ
giáo viên nhận đỡ đầu học sinh nghèo, học sinh khuyết tật bằng nhiều hình thức
Để tiếp tục phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh, cải thiện sinh kế và nâng
cao chất lượng cuộc sống của hộ nghèo trong thời gian tới, tỉnh Thái Bình xác định
các giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, tổ chức đánh giá kết quả thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia
về giảm nghèo bền vững (CTMTQG GNBV ) của tỉnh giai đoạn 2016 – 2020 để đề
xuất định hướng xây dựng CTMTQG GNBV giai đoạn 2021 – 2025. Trong đó, cần
nghiên cứu, sửa đổi các quy định hiện hành theo hướng mở rộng các hoạt
động/hạng mục chi phí liên quan đến nội dung nâng cao năng lực, giám sát đánh
giá thực hiện Chương trình; nghiên cứu, sửa đổi các quy định để thực hiện cơ chế
hỗ trợ trọn gói về tài chính trong quá trình thực hiện Chương trình GNBV.
Thứ hai, đẩy mạnh tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả công tác tuyên
truyền; khơi dậy ý chí chủ động vươn lên của người nghèo, tiếp nhận và sử dụng
có hiệu quả chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng. Đồng
thời, tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách giảm nghèo theo 3 nhóm chính
sách: hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo; hỗ trợ hiệu quả
5
Theo văn bản về vấn đề lao động tỉnh Thái Bình giai đoạn 2008 - 2017
9
cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, ưu tiên cho các dịch vụ thuộc
nội dung giảm nghèo đa chiều như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh,
thông tin; phát triển hạ tầng các vùng khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao.
Thứ ba, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cấp xã,
huyện, đặc biệt là các xã nghèo, các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào
DTTS. Gắn kết thực hiện các CTMTQG với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tăng
cường phân cấp cho cơ sở để chủ động trong quá trình lập kế hoạch, điều hành
quản lý hoạt động của các chương trình.
phí trên 1,2 tỷ đồng, hỗ trợ chi phí học tập cho 7.042 học sinh nghèo với kinh phí 3
tỷ đồng….Tuy còn một số mặt hạn chế như giảm nghèo chưa thực sự bền vững, sự
chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn cùng với công tác
quản lý hành chính rườm rà,chưa áp dụng các thành tựu công nghệ thông tin, các
chương trình, hệ thống quản lý điện tử nhưng tỉnh Thái Bình không ngừng hoàn
thiện,sửa đổi để có giải pháp hỗ trợ tốt nhất cho người nghèo, người thu nhập thấp.
Với các biện pháp nghiên cứu, sửa đổi quy chế hỗ trợ tài chính, tuyên truyền về
xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, tăng cường công tác
thanh tra quản lý,... trong thời gian tới, Thái Bình hứa hẹn sẽ là điểm sáng trên cả
nước về xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, góp phần tích cực vào công
cuộc phát triển kinh tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
11
Tài liệu tham khảo
Các trang web:
1
2
3
4
5
6
7
8
/> /> /> /> /> /> />
12