Thực trạng về hoạt động tạo động lực cho người lao động ở Công ty
Giống cây trồng Thanh Hoá
I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC TẠO
ĐỘNG LỰC TRONG LAO ĐỘNG
I 1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:
Xuất phát từ phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp của tỉnh, Công ty
giống cây trồng Thanh Hoá được thành lập theo quyết định số 388 HĐBT/
tháng 3 năm 1974 của HĐBT nay là Thủ tướng chính phủ.
Từ khi thành lập đến năm 1993, hoạt động của Công ty là theo yêu cầu
phát triển kinh tế của Tỉnh, do ngành chủ quản giao kế hoạch hàng vụ hàng
năm trên cơ sở định hướng thông qua nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy,
UBND Tỉnh.
Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty có nhiều biến động và gặp không ít khó khăn. Để duy
trì được hoạt động của mình, ngoài nỗ lực của bản thân, Công ty còn phải nhờ
đến UBND Tỉnh có các chính sách cấp bù kinh phí cho công tác khảo nghiệm,
sản xuất và cung ứng giống như: quyết định 834 NN/UBTH ngày 12/10/1991,
quyết định 1438 NN/UBTH ngày 23/11/1992 của UBND Tỉnh Thanh Hóa về
thực hiện chính sách sản xuất và cung ứng giống lúa lai , phục vụ sản xuất
nông nghiệp của Tỉnh.
Đến cuối năm 1993, doanh nghiệp Công ty giống cây trồng Thanh Hoá
được thành lập theo quyết định số 522TC/ UBTH ngày 12/12/1993 của Chủ
tịch UBND tỉnh Thanh Hoá
Tổng số vốn kinh doanh : 1953 triệu đồng
Trong đó: - Vốn cố định : 909 triệu đồng
- Vốn lưu động : 1044 triệu đồng
Cùng với chức năng và nhiệm vụ chính như sau:
1. Chức năng:
Sở nông nghiệp, Công ty giúp giám đốc Sở tham mưu cho UBND tỉnh về
việc du nhập, khảo nghiệm, bồi dục, lai tạo và ứng dụng chuyển giao những kỹ
thuật tiên tiến trong nước và quốc tế về lĩnh vực giống, sản xuất các loại giống
- Trại giống lúa Thọ Xuân
- Trại giống cây trồng Quảng Thắng
- Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng
- Trạm dịch vụ giống cây trồng.
Ngoài ra Công ty còn có 30 hợp tác xã liên kết sản xuất giống lúa-ngô
lạc-đậu và 60 điểm đại lý bán giống cây trồng nông nghiệp tại các xã cụm dân
cư trong tỉnh, đảm bảo phục vụ nhu cầu của người nông dân một cách kịp thời
đúng mùa vụ và đảm bảo về chất lượng.
1. Quy trình sản xuất giống:
Cũng xuất phát từ nhu cầu phục vụ các loại giống cây trồng nông nghiệp
nên sản phẩm chính của Công ty là sản xuất các loại giống lúa. Đến nay chủng
loại sản phẩm của Công ty ngày càng phong phú, đa dạng, chất lượng sản
phẩm luôn đạt và vượt qua các chỉ tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn của Nhà
nước Việt Nam. Sản phẩm bán ra có bảo hành chất lượng trong một vụ sản
xuất với bao bì mẫu mã đẹp, gọn dễ sử dụng nên được khách hàng tin dùng.
Quy trình sản xuất hạt giống lúa lai F1
Sản phẩm hạt lai
Sản phẩm hạt lai
Sản phẩm hạt lai
(3)(2)(1)
Kiểm soát sản phẩm
không phù hợp
Cung ứng dịch vụ
sản phẩm
Khắc
phục
Cải tiến
chất lượng
Quy trình sản xuất giống lúa nguyên chủng
Sản phẩm giống
- Dịch vụ
- Hậu kiểm
- Bảo hành
- Dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật
, , : Khâu cuối cùng để đảm bảo hạt giống khi sản xuất ra có chất
lượng đúng theo yêu cầu.
Từ quy trình sản xuất trên ta thấy sản phẩm cuối cùng làm ra phải trải qua
nhiều bước thực hiện mà trong mỗi bước đòi hỏi người lao động phải có sự
hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ thì mới thực hiện được. Theo nhu cầu
phát triển (G) của học thuyết ERG đã nói thì điều này khiến cho người lao
động muốn làm được thì họ phải có kiến thức về chuyên môn, từ đó làm cho
họ có tinh thần làm việc tốt hơn tích cực học hỏi, để không không ngừng
nâng cao tay nghề, thực hiện công việc tốt hơn.
2. Đặc điểm kinh doanh
Biểu 1: Kết quả kinh doanh giống cây trồng nông nghiệp các năm 1997-1999
Đơn vị: Đồng
Chỉ tiêu Năm 1997 Năm 1998 6 tháng đầu năm
1999
Doanh số
- Mua vào 9.954.025.850 18.310.371.177 7.009.181.137
- Bán ra 8.123.361.989 17.425.883.020 6.449.093.694
Nộp ngân sách Nhà
nước
285.907.462 179.309.389 170.843.135
Theo kết quả bảng trên ta thấy, mặc dù kết quả sản xuất kinh doanh vẫn
bị lỗ nhưng mức độ ngày càng giảm dần qua các năm cụ thể là: 6 tháng đầu
năm 1999 nộp ngân sách nhà nước tương đương với năm 1998, hạ giá thành
sản phẩm và giảm lỗ 10% so với năm 1998. Đây là kết quả bước đầu của việc
mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Với kết quả này, thì đây sẽ
là một kỳ vọng lớn, một niềm tin lớn của người lao động đối với Công ty, từ đó
Trại giồng cây trồng quảng Thắng
Trung tâm khảo nghiệm giống cây
Trạm dịch vụ giống cây
Ban giám đốc gồm giám đốc và phó giám đốc, chịu trách nhiệm mọi mặt
tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tổ chức của toàn bộ Công ty. Có trách
nhiệm tiếp thu các chủ trương chính sách của Nhà nước, của tỉnh và trực tiếp
ban hành, quản lý các phòng ban: Phòng tài vụ, Phòng tổ chức hành chính,
Phòng kế hoạch kỹ thuật.
Phòng tổ chức hành chính gồm 8 người, trong đó có một đồng chí
Trưởng phòng, một đồng chí Phó phòng có chức năng và nhiệm vụ là:
- Xây dựng, bổ sung, sửa đổi tổ chức sản xuất kinh doanh và công tác
khoán.
- Theo dõi công tác tổ chức và cán bộ, lao động tiền lương, bảo hiểm xã
hội, thanh tra thi đua và quân sự.
- Theo dõi công tác hành chính cơ quan và quản lý, mua sắm sửa chữa
tài sản, văn phòng Công ty.
Phòng kế hoạch-kỹ thuật gồm 5 người, trong đó có một đồng chí Trưởng
phòng, một đồng chí Phó phòng có chức năng và nhiệm vụ là:
- Xây dựng quy trình sản xuất, cơ cấu giống phù hợp với nhu cầu thị
trường tiêu thụ trong Công ty và dựa trên địa bàn tỉnh.
- Chỉ đạo các đề tài khoa học, sơ tổng kết kịp thời và tổng hợp đề xuất
những sáng kiến.
- Theo dõi chỉ đạo các đơnvị sản xuất giống.
- Tổ chức sản xuất giống liên kết theo kế hoạch hàng vụ hàng năm
- Tổ chức kiểm tra, nghiệm thu chất lượng trong sản xuất và lưu thông.
Đồng thời đăng ký chất lượng với cơ quan quản lý Nhà nước.
Ngoài ra trong phòng còn một bộ phận chuyên về phần kinh doanh và thị
trường với chức năng và nhiệm vụ tìm hiểu nhu cầu thị trường trong và ngoài
tỉnh, nghiên cứu dự báo, nắm bắt thôngtin thị trường, từ đó tham mưu cho
giám đôc để tổ chức chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tổ chức mạng lưới tiếp thị
toàn tỉnh. Ngoài ra do chất lượng hạt giống luôn đảm bảo cộng với tính thời
vụ của sản xuất nông nghiệp của các tỉnh trong nước nên sản phẩm của Công
ty đã được tiêu thụ ở một số tỉnh, thành phố trong cả nước.
Khách hàng của Công ty là các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp ở các
vùng ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi trong tỉnh. Ngoài ra do yêu cầu
phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu mùa vụ, do tính thời vụ và thiên tai... khách
hàng của Công ty còn là:
- Các phòng nông nghiệp - trạm khuyến nông các huyện trong tỉnh
- Công ty giống cây trồng các tỉnh trong nước.
- Các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nước có kế hoạch hỗ trợ phát triển
nông nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Qua tìm hiểu về thị trường và khách hàng của Công ty, người lao động sẽ
thấy được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty hiện nay như
thế nào. Sản xuất kinh doanh càng phát triển, thị trường mở rộng, khách hàng
càng nhiều nó sẽ là động lực thúc đẩy người lao động làm việc tích cực hơn
nữa để phục vụ khách hàng vì khi đó thù lao của họ sẽ được cao hơn. Đây cũng
là một điều mà học thuyết kỳ vọng đã nói tới.
2. Đặc điểm máy móc thiết bị của Công ty
Biểu 2: Tình hình máy móc thiết bị
Đơn vị: chiếc
ST
T
Tên thiết bị Nhãn hiệu Năm
nhập
Số hiệu
có
Số đang sử
dụng
1 Máy phân loại hạt ấn Độ 1987 2 2
2 Máy MTZ 80 Nga 1997 4 4
7
2
Cao đẳng
- Trồng trọt
- Kinh tế
16
15
1
3 Trung cấp
- Tài chính
- Kế hoạch
- Trồng trọt
29
19
3
7
Công nhân kỹ thuật bậc 5+6: 146 người chiếm 40,2%
Trong đó: Nữ: 106 người
Công nhân cơ khí: 9 người
Biểu 4:Trình độ phát triển nguồn nhân lực qua các năm 1994-
1999
Đơn vị: người
Năm
Cấp bậc kỹ thuật
1995 1996 1997 1998 1999
Đại học 30 34 36 42 46
Cao đẳng kỹ thuật 20 20 21 15 16
Trung cấp 30 25 20 20 29
Công nhân bậc cao (4+5+6) 90 105 145 160 181
Công nhân phổ thông 230 181 199 171 177
Với đặc điểm kinh doanh như đã phân tích ở phần II2, do doanh thu
hạch toán cuối năm thường bị lỗ và phần lỗ này được nhà nước hoặc tỉnh bù
lỗ nên quỹ lương của Công ty cũng bị bó hẹp theo phần doanh thu đó. Để vừa
đảm bảo trả lương cho công nhân vừa đảm bảo sản xuất kinh doanh, Công ty
thực hiện hai hình thức trả lương chủ yếu sau:
1.1. Trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian được Công ty áp dụng cho khối văn
phòng và những người làm gián tiếp ở dưới các trại (trại trưởng, trại phó, kế
toán...)
- Chế độ trả lương theo thời gian đơn giản: Việc trả lương này dựa vào
mức độ cấp bậc công nhân và thời gian làm việc. Nếu áp dụng không đúng sẽ
mang lại tính chất bình quân, không khuyến khích sử dụng hợp lý thời gian
làm việc. Không những phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc
thực tế mà còn gắn chặt với thành tích công tác thông qua các chỉ tiêu xét
thưởng đã đạt được. Nó khuyến khích người lao động quan tâm đến trách
nhiệm và kết quả công tác của mình
Theo hình thức này lương được trả theo công việc được giao gắn với
mức độ phức tạp, tính trách nhiệm của công việc đòi hỏi, mức độ hoàn thành
công việc và số ngày công thực tế. Đến cuối năm 2000 Công ty đã thực hiện
chế độ tiền lương mới của Nhà nước theo công văn số 4320/LĐTBXH - TL. Cụ
thể tiền lương của công nhân là:
∑ n
j
h
j
T
i
: Tiền lương của người thứ i được nhận
n
=
x n
i
h
i
m
J = 1