Chơng 3 Hệ thống thanh toán điện tử
Hệ thống thanh toán điện tửHệ thống thanh toán điện tử
Hệ thống thanh toán điện tử Để có thể thiết lập đợc quy trình thanh toán điện tử trong thơng mại điện tử
cần phải hiểu rõ về hệ thống thanh toán điện tử trong hệ thống ngân hàng và mối
liên hệ giữa các quan hệ thanh toán của các doanh nghiệp với hệ thống thanh toán
của các định chế tài chính. Chơng này sẽ giới thiệu một cách tổng quát về hệ
thống thanh toán điện tử của các ngân hàng và một số mô hình thanh toán điện tử
trong thơng mại điện tử của các doanh nghiệp.
3.1 Chuyển tiền điện tử trong hệ thống ngân hàng
Chuyển tiền điện tử trong hệ thống ngân hàng (còn đợc gọi là hệ thống thanh
toán điện tử nội bộ) là nghiệp vụ chuyển tiền, thanh toán cho các khách hàng trong
cùng hệ thống, chuyển vốn giữa các chi nhánh trong nội bộ ngân hàng, do đó không
làm thay đổi tổng nguồn vốn của hệ thống ngân hàng. Việc chuyển và hoàn tất một
lệnh thanh toán đợc thực hiện thông qua mạng máy tính trong nội bộ hệ thống ngân
hàng.
Tùy thuộc vào mối quan hệ về cách thức quản lý tài khoản và thông tin khách
hàng tập trung hay phân tán, vào mối quan hệ giữa các chi nhánh ngân hàng và quy
mô mạng lới, sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin đợc thiết kế, xây dựng
và tổ chức thực hiện mà hệ thống chuyển tiền giữa các ngân hàng đợc gọi là hệ
thống thanh toán hay hệ thống chuyển tiền.
Thanh toán điện tử cùng hệ thống là việc chuyển và hoàn tất một lệnh thanh
toán thông qua mạng máy tính giữa các chi nhánh trong nội bộ một ngân hàng hoặc
giữa các ngân hàng, trong đó có các chủ thể tham gia thanh toán.
Nh vậy hệ thống thanh toán điện tử nội bộ thực chất là thanh toán liên hàng,
làm nghiệp vụ chuyển tiền, chuyển vốn giữa các chi nhánh trong nội bộ ngân hàng, và
Với hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tổng tức thời từng món thanh
toán giá trị cao đợc thực hiện thông qua Ngân hàng Nhà nớc trung ơng (không qua
bù trừ) bằng chuyển khoản từ tài khoản tiền gửi của ngân hàng chi trả sang tài khoản
tiền gửi của ngân hàng thụ hởng mở tại Ngân hàng Nhà nớc.
Đây là mô hình tiên tiến, thể hiện xu thế mới của hệ thống thanh toán điện tử
hiện đại trên thế giới đó là, cơ chế thanh toán tức thời từng món thanh toán giá trị cao
thông qua Ngân hàng Trung ơng và chỉ khi số d trên tài khoản tiền gửi của ngân
hàng chi trả có đủ tiền thì lệnh thanh toán mới đợc thực hiện và nh vậy loại trừ mọi
rủi ro về khả năng thanh khoản và chiếm dụng vốn giữa các ngân hàng. Các ngân
hàng thành viên trên thị trờng liên ngân hàng có thể cung ứng vốn lẫn nhau đảm bảo
cơ sở để Ngân hàng Trung ơng thực hiện vai trò ngời cho vay cuối cùng.
Mỗi hệ thống thanh toán điện tử tổng tức thời đều phải xử lý các yếu tố cơ bản
về cấu trúc luồng tin, cơ chế thanh toán, cơ chế xếp hạng và cấu trúc tài khoản.
Hệ thống thanh toán xử lý theo lô quyết toán cuối ngày
Đây là hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng theo nguyên tắc quyết toán
cuối phiên sau khi bù trừ lẫn nhau, u điểm của hệ thống này là chi phí thấp, nhng
tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh toán, chiếm dụng vốn lẫn nhau và hạn chế khả năng
kiểm soát của Ngân hàng Nhà nớc trung ơng.
Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng có thể xử lý thanh toán bù
trừ tự động tất cả các khoản thanh toán điện tử phát sinh trong cả nớc giữa các ngân
hàng khác hệ thống với nhau. Việc thanh toán bù trừ bằng chứng từ truyền thống đợc
thay thế dần bằng chứng từ điện tử hoàn toàn tự động với các trung tâm xử lý thanh
toán bù trừ tự động bằng điện tử đợc xây dựng tại các tỉnh và thành phố. Cuối cùng
đợc quyết toán tại trung tâm thanh toán quốc gia, nơi mở tài khoản tiền gửi thanh
toán của các ngân hàng thơng mại.
Hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc tế qua SWIFT
SWIFT là từ viết tắt của Society for Worldwide Interbank Financial
Telecommunication. Đây là một tổ chức hoạt động theo đạo luật của Bỉ, có trụ sở tại
Brucxen. Tổ chức này hoạt động không vì lợi nhuận, cung cấp cho các Ngân hàng
Về nguyên tắc, thực chất của dịch vụ ngân hàng điện tử là việc thiết lập một
kênh trao đổi thông tin tài chính giữa khách hàng và ngân hàng nhằm phục vụ nhu
cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng một cách nhanh chóng, an toàn và
thuận tiện. Sau rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm và ứng dụng, hiện nay dịch vụ ngân hàng
điện tử đợc các ngân hàng thơng mại Việt Nam cung cấp qua các kênh chính sau
đây: ngân hàng tại nhà (home-banking); Internet-banking; ngân hàng tự động qua
điện thoại (Phone-banking, mobile banking); ngân hàng qua mạng không dây
(Wireless-banking).
Dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home-banking):
Home-banking là kênh phân phối dịch vụ của ngân hàng điện tử, cho phép
khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản với ngân hàng (nơi khách
hàng mở tài khoản) tại nhà, tại văn phòng công ty mà không cần đến ngân hàng.
Home-banking mang lại những lợi ích thiết thực: nhanh chóng- an toàn- thuận tiện.
Khẩu hiệu Dịch vụ ngân hàng 24 giờ mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần chính là u thế
lớn nhất mà mô hình ngân hàng hành chính truyền thống không thể nào sánh đợc.
Dịch vụ ngân hàng tại nhà đợc xây dựng trên một trong hai nền tảng: hệ thống
các phần mềm ứng dụng (Software Base) và nền tảng công nghệ web (Web Base),
thông qua hệ thống máy chủ, mạng Internet và máy tính con của khách hàng, thông
tin tài chính sẽ đợc thiết lập, m hoá, trao đổi và xác nhận giữa ngân hàng và khách
hàng. Mặc dù có một số điểm khác biệt, nhng nhìn chung, chu trình sử dụng dịch vụ
ngân hàng tại nhà bao gồm các bớc cơ bản sau đây:
Bớc 1: Thiết lập kết nối.
Khách hàng kết nối máy tính của mình với hệ thống máy tính của ngân hàng
qua mạng Internet, sau đó truy cập vào trang web của ngân hàng phục vụ mình (hoặc
giao diện ngời sử dụng của phần mềm). Sau khi kiểm tra và xác nhận khách hàng
(khách hàng nhập User ID, Password và hệ thống máy tính kiểm tra, xác nhận),
khách hàng sẽ đợc thiết lập một đờng truyền bảo mật (https) và đăng nhập (login)
vào mạng máy tính của ngân hàng.
Bớc 2: Thực hiện yêu cầu dịch vụ.
Dịch vụ ngân hàng điện tử rất phong phú và đa dạng, có thể là truy vấn thông
thay đổi, chỉnh sửa trớc khi xác nhận giao dịch với ngân hàng, chứng từ giao dịch sẽ
đợc in ra và gửi tới khách hàng khi giao dịch đợc xử lý xong.
Qua Phone-banking, khách hàng có thể sử dụng rất nhiều dịch vụ ngân hàng
nh : hớng dẫn sử dụng dịch vụ, giới thiệu thông tin về dịch vụ ngân hàng, cung cấp
thông tin tài khoản và bảng kê các giao dịch, báo nợ, báo có, cung cấp thông tin ngân
hàng nh li suất, tỷ giá hối đoái, chuyển tiền, thanh toán hoá đơn và dịch vụ hỗ trợ
khách hàng,..thực hiện mọi lúc mọi nơi kể cả ngoài giờ hành chính.
Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (Mobile-banking):
Mobile-banking là một kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng qua hệ
thống mạng điện thoại di động. Về nguyên tắc, đây chính là quy trình thông tin đợc
m hoá, bảo mật và trao đổi giữa trung tâm xử lý của ngân hàng và thiết bị di động
của khách hàng (ĐTDĐ, Pocket PC, Palm).
Với dịch vụ thanh toán thông qua hệ thống Mobile-banking khách hàng có thể
thanh toán tiền mua sắm hàng hoá dịch vụ tại các siêu thị, nhà hàng, trang web bán
hàng trên mạng. Khi khách hàng gửi tin nhắn yêu cầu thanh toán theo mẫu có sẵn,
ngân hàng sẽ gửi tin nhắn để xác nhận giao dịch và thực hiện việc trả tiền cho các đại
lý. Bên cạnh đó, khách hàng còn có thể sử dụng dịch vụ này để thanh toán hoá đơn
(tiền điện, tiền nớc, cớc điện thoại cố định và điện thoại di động) hay thậm chí có
thể giao dịch chứng khoán qua điện thoại di động chỉ bằng vài tin nhắn đơn giản.
Internet-banking:
Internet banking cũng là một trong những kênh phân phối các sản phẩm dịch
vụ của ngân hàng, đa ngân hàng đến từng nhà, từng văn phòng, trờng học, đến
bất kỳ nơi đâu và bất cứ lúc nào. Với máy tính kết nối Internet, khách hàng của ngân
hàng sẽ đợc cung cấp và đợc hớng dẫn các sản phẩm, các dịch vụ của ngân hàng.
Qua Internet-banking khách hàng có thể gửi đến ngân hàng những thắc mắc, góp ý
với ngân hàng và đợc trả lời sau một thời gian nhất định. Tuy nhiên, so với dịch vụ
Home-banking hoặc Kiosk-banking thì dịch vụ Internet-banking vẫn còn đợc cung
cấp hạn chế và đòi hỏi quá trình xác nhận giao dịch phức tạp hơn do độ bảo mật
không cao bằng hai dịch vụ trên.
Kiosk-banking
phơng tiện thanh toán giữa những ngời mua và ngời bán cách xa nhau trên không
gian ảo. Trong trờng hợp này, các phơng pháp thanh toán điện tử là một sự cần thiết
tất yếu.
Đối với một doanh nghiệp, phơng pháp thanh toán điện tử có thể là tốn kém
và thách thức, nhng chúng sẽ tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh. Khi áp
dụng hình thức thanh toán điện tử, khách hàng cũng sẽ phải gánh chịu các chi phí bổ
sung. Khi một khách hàng thanh toán cho một hàng hoá hoặc dịch vụ trong một cửa
hàng bằng cách dùng một thẻ tín dụng hay thẻ ghi nợ, ngời bán hàng phải thanh
toán một khoản tiền hoa hồng cho định chế tài chính xử lý chi tiết thẻ. Mặt khác, để
áp dụng hình thức thanh toán này, cửa hàng sẽ phải mất thêm một số chi phí hoạt
động cho hệ thống sử dụng để xử lý thẻ. Những hệ thống này thờng là tốn kém,
thách thức cho việc ứng dụng và đôi khi có những khó khăn về mặt kỹ thuật mà
ngời sử dụng phải có những hiểu biết cần thiết để vận hành và làm chủ. Những khó
khăn này thể hiện một rào cản đối với việc tiếp cận và ứng dụng TMĐT, nhng nếu
vợt qua đợc, nó sẽ tạo cho doanh nghiệp sử dụng năng lực để nâng cao sức cạnh
tranh trên thị trờng.
Chấp nhận thanh toán điện tử là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với các
hoạt động kinh doanh hiện đại. Nớc Anh gần đây là nền kinh tế thơng mại điện tử
lớn nhất Châu Âu với 2/3 ngời tiêu dùng đ từng mua hàng trực tuyến. Năm 2004
có 27,7 triệu ngời trởng thành ở Anh đ sử dụng Internet và dự kiến bán lẻ trên
kênh này sẽ đạt khoảng 15% vào năm 2010.
Đơn vị kinh doanh không nhất thiết phải lớn mới có thể tham gia thanh toán
trực tuyến. Đối với nhiều doanh nghiệp nhỏ, bán hàng trực tuyến tạo cho họ những
lợi ích lớn. Các khách hàng kỳ vọng ngày càng tăng lên nhờ các tiện ích mà dịch vụ
này mang lại và nó có thể làm tăng đáng kể luồng tiền của cơ sở kinh doanh.
Rất dễ dàng để có thể chấp nhận séc hay hoá đơn đối với bán hàng trực tuyến
và sau đó xử lý thanh toán theo cách truyền thống. Tuy nhiên, vì ngời mua thờng
sử dụng Internet đối với các dịch vụ cần tốc độ, hầu hết doanh số bán hàng trực
tuyến đợc trả bằng thẻ tín dụng hay thẻ ghi nợ.
Để chấp nhận thanh toán trực tuyến, cơ sở bán hàng sẽ phải tiến hành một số
thẻ nhựa (chẳng hạn, nhn hiệu thẻ Visa hay MasterCard) đợc cung cấp một cách vật
lý (thực) tới địa chỉ của khách hàng bằng đờng bu điện. Thẻ sẽ có hiệu lực ngay khi
ngời chủ sở hữu thẻ gọi cho ngân hàng để bắt đầu sử dụng và ký vào phía sau của
thẻ.
(2) Ngời chủ sở hữu thẻ trình thẻ cho một ngời kinh doanh bất cứ khi nào
anh ta cần trả tiền cho một hàng hóa hay dịch vụ nào đó (tại cơ sở kinh doanh chấp
nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng)
(3) Ngời kinh doanh, sau đó, yêu cầu sự xác nhận từ công ty nhn hiệu thẻ và
giao dịch đợc thanh toán bằng tín dụng. Ngời kinh doanh giữ lại một phiếu bán
hàng.
(4) Ngời kinh doanh chuyển phiếu bán hàng cho ngân hàng chấp nhận thanh
toán và trả cho họ một khoản phí cho dịch vụ này. Đây đợc gọi là quá trình xử lý lu
giữ (capturing process).
(5) Ngân hàng chấp nhận thanh toán yêu cầu cơ quan nhn hiệu trừ khoản tín
dụng và nhận tiền trả. Sau đó, cơ quan nhn hiệu yêu cầu khoản đ trừ với ngân hàng
phát hành
(6) Số tiền đợc chuyển từ cơ quan phát hành đến cơ quan nhn hiệu. Số tiền
tơng đơng đợc khấu trừ từ tài khoản của ngời sở hữu thẻ ở ngân hàng phát hành.
Trong hệ thống thanh toán bằng thẻ tín dụng truyền thống, quá trình vừa mô tả
chỉ đợc tự động hoá một phần, với nghĩa là thông tin thẻ không đủ tiêu chuẩn đợc
gửi tới ngời kinh doanh bằng văn bản giấy in và yêu cầu xác nhận đôi khi đợc thực
hiện qua điện thoại (ở nhiều nớc). Ngoài ra, ngời kinh doanh phải gửi qua bu điện
các phiếu bán hàng bằng giấy tới ngân hang nhận thanh toán để cầm giữ. Tuy nhiên,
khi áp dụng TMĐT, cả quá trình phải đợc tự động hoá hoàn toàn trên Internet với
một phơng thức đảm bảo. Đó là lý do tại sao giao thức nghiệp vụ điện tử an toàn
(Secure Electronic Transaction Protocol SET) đợc phát kiến ra. Những nội dung
liên quan tới giao thức SET sẽ đợc đề cập kỹ hơn ở chơng 4 của cuốn sách này.
Trong quá trình thanh toán TMĐT trực tuyến, máy tính yêu cầu bạn nhập vào
số thẻ, tên ngời sở hữu thẻ, ngày hết hạn thẻ. Các câu trả lời cho những câu hỏi này
thờng đợc m hoá. Tuy nhiên, không phải tất cả ngời tiêu dùng đều tin tởng vào
Hiện nay, nhiều công ty sử dụng giao thức SSL(Secure Socket Layer) để cung
cấp sự bảo mật và bảo vệ tính riêng t. Giao thức này cho phép khách hàng m hoá
đơn đặt hàng của họ tại máy tính cá nhân của mình. Tuy nhiên, giao thức này không
đảm bảo việc cung cấp cho khách hàng mọi sự bảo vệ mà họ cần.
Visa và MasterCard đ cùng nhau phát triển một giao thức an toàn hơn,
đợc gọi là SET (Secure ElectronicTransaction). Về lý thuyết, đó là một giao thức
hoàn hảo. Tuy nhiên, SET không phổ biến nhanh nh nhiều ngời mong đợi do tính
phức tạp, thời gian phản hồi chậm và sự cần thiết phải cài đặt ví số (ví điện tử) ở máy
tính của khách hàng. Nhiều ngân hàng ảo và cửa hàng điện tử vẫn duy trì giao thức
SSL, thậm chí, một số cửa hàng điện tử ở Mỹ, nh Wal-Mart Online, sử dụng cùng
lúc cả hai giao thức SSL và SET. Ngoài ra, theo một cuộc khảo sát do Forest Research
thực hiện, chỉ có 1% kế hoạch kinh doanh điện tử di chuyển từ việc sử dụng SSL sang
SET.
MasterCard cho biết, ví số có thể sẽ đợc phân phối nh là phần mềm đợc
gắn thêm vào phiên bản Windows tiếp theo. Tuy nhiên, Visa quyết định không chờ
đợi. Visa đồng ý cung cấp một cổng nối xử lý thẻ tín dụng đợc gắn vào giao thức m
hoá SSL cơ bản. Wells Fargo, một trong những công ty ngân hàng Web lớn nhất của
Mỹ đ sử dụng một dịch vụ xử lý thanh toán không SET (SETfree), dịch vụ bổ sung
các chứng thực cho việc m hoá dữ liệu SSL. Các chứng thực đợc lu giữ ở các thẻ
thông minh và những thẻ này có thể đợc đọc từ một bàn phím đặc biệt có thêm khe
cắm.
3.2.2 Thanh toán bằng thẻ truyền thống offline.
Đây là dạng thanh toán phổ biến và đơn vị áp dụng cần phải có một dịch vụ
hỗ trợ bán hàng (Merchant Service) và máy PDQ ( ) từ ngân hàng chấp nhận
(Acquiring bank).
Hầu hết các cửa hàng trên các phố lớn có thể tiến hành thanh toán điện tử
offline thông qua các thiết bị xử lý thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ. Tất cả các ngân hàng
đều có thể xử lý các nghiệp vụ này và một số ngân hàng còn xử lý các nghiệp vụ dựa
trên Internet. Để tiến hành thanh toán điện tử offline, đơn vị ứng dụng cần phải đề