NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 62

NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP.
I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP.
1. Bản chất chi phí và giá thành sản phẩm.
1.1. Chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toản bộ hao
phí lao động sống và lao động vật hoá cần thiết mà doanh nghiệp đã chi ra để
tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
Xác định nội dung chi phí sản xuất để thấy được bản chất của chi phí sản xuất
là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quản lý chi phí sản xuất của các doanh
nghiệp.
Chi phí sản xuất được hình thành do có sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố
sản xuất vào sản phẩm sản xuất ra và được biểu hiện trên hai mặt.
Về mặt định tính, đó là bản thân các yếu tố về vật chất phát sinh và tiêu hao
nên quá trình sản xuất và đạt được mục đích là tạo nên sản phẩm.
Về mặt định lượng, đó là mức tiêu hao cụ thể của các yếu tố vật chất tham
gia vào quá trình sản xuất và được biểu hiện qua các thước đo khác nhau mà
thước đo chủ yếu là thước đo tiền tệ.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có đầy
đủ yếu tố cơ bản là: Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Quá
trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời là quá trình
doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tương ứng: tương ứng với
việc sử dụng tài sản cố định là chi phí về khấu hao tài sản cố định; tương ứng
với việc sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu là chi phí về nguyên vật liệu, nhiên
liệu; tương ứng với việc sử dụng lao động là tiền lương, tiền công, chi phí bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn ... Trong điều kiện nền kinh tế
hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, mọi chi phí tiền lương, bảo hiểm xã
hội, kinh phí công đoàn... là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống, chi
phí về khấu hao tài sản cố định, nguyên vật liệu, nhiên liệu là biểu hiện bằng
tiền của hao phí lao động vật hoá.

Hình thức và nội dung cấu thành giá thành là sự thống nhất thuộc bản chất
của giá thành. Do vậy, việc nghiên cứu giá thành sản phẩm không bao giờ tách
rời hai vấn đề này mà luôn đặt nó trong mối tương quan giữa các đại lượng
vốn nằm ngay trong kết quả của một quá trình sản xuất nhất định.
Giá thành sản phẩm có các chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí, lập giá và
là đòn bẩy kinh tế.
Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra sẽ hoàn thành một khối lượng
sản phẩm, công việc lao vụ phải được bù đắp bằng chính số tiền thụ về tiêu thụ
bán sản phẩm. Việc bù đắp chi phí đầu vào mới chỉ đảm bảo được quá trình tái
sản xuất giản đơn. Mục đính sản xuất và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế
thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải và bù đắp mọi chi
phí đầu vào của quá trình sản xuất và có lãi.
Do vậy, thông qua tiêu thụ, bán sản phẩm mà thực hiện giá trị sử dụng của
hàng hoá. Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá mức độ bù đắp chi phí và
hiệu quả của chi phí.
2. Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
2.1. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, công tác kế toán phù hợp với từng loại chi phí
cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo tiêu thức
phù hợp. Việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh là sắp xếp các chi phí khác
nhau vào theo từng nhóm, từng tiêu thức mang đặc trưng nhất định.
a. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính chất kinh tế của chi phí.
Theo tiêu thức này thì các chi phí giống nhau được sắp xếp vào một yếu tố,
không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực hoạt động nào, ở đâu. Căn
cứ vào tiêu thức này, chi phí sản xuất được phân loại thành:
- Chi phí nguyên vật liệu.
- Chi phí nhân công.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Chi phí khác bằng tiền.

c. Phân loại chi phí theo mối quân hệ với khối lượng sản phẩm công việc lao vụ
sản xuất trong kỳ: chi phí được chia thành biến phí và định phí.
- Biến phí (chi phí khả biến ): Là những chi phí thay đổi về tổng số, và tỷ lệ so
với khối lượng công việc hoàn thành. Tuy nhiên, chi phí biến đổi tính trên một
đơn vị sản phẩm lại có tính cố định.
- Định phí (chi phí cố định) : Là những chi phí không đổi về tổng số so với khối
luợng công việc hoàn thành. Định phí trên một đơn vị sản phẩm lại thay đổi.
Phân loại theo khoản mục này tạo điều kiện thuận tiện cho công việc lập kế
hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để ra các quyết định kinh
doanh.
Ngoài các cách phân loại chủ yếu trên phục vụ trực tiếp cho công tác quản
lý và công tác kế toán, chi phí sản xuất kinh doanh còn có thể được phân loại
theo các tiêu thức khác như căn cứ vào phương pháp tập hợp chi phí và mối
quân hệ với đối tượng chịu chi phí có chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, theo
nội dung cấu thành của sản phẩm có chi phí đơn nhất và chi phí tổng hợp.
2.2. Phân loại giá thành sản phẩm.
Để đáp ứng các yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng
như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc
độ khác nhau.
a. Phân loại theo thời gian và nguồn số liệu tính giá thành sản phẩm thì giá
thành gồm:
- Giá thành kế hoạch: Việc tính toán, xác định giá thành kế hoạch sản phẩm
được tiến hành trước khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm do bộ
phân kế hoạch thực hiện. Giá thành kế hoạch của sản phẩm được tính trên cơ
sở chi phí sản xuất kế hoạch và được xem là mục tiêu phấn đấu của doanh
nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành,
kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Cũng giống như giá thành kế hoạch, giá thành định mức
cũng có thể thực hiện được trước khi sản xuất tạo sản phẩm dựa vào các định
mức, dự toán chi phí. Giá thành định mức được xem là thước đo chính xác để

hàng
+
Chi phí quản
lý doanh
nghiệp
3. Mối quan hệ giữa chi phí và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình
sản xuất, có mối quân hệ chặt chẽ với nhau, giống nhau về chất vì đều là những
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong
quá trình sản xuất và chế tạo sản phẩm. Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm lại không giống nhau về lượng. Sự khác biệt của chúng thể
hiện ở chỗ:
- Chi phí sản xuất luôn gắn với một thời kì nhất định, còn giá thành sản phẩm
lại gắn liền với một loại sản phẩm, công việc hoặc lao vụ nhất định.
- Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm một phần chi phí thực tế đã phát
sinh (chi phí trả trước) hoặc một phần chi phí sẽ phát sinh ở các kỳ sau,
những chi phí đã ghi nhận là chi phí của kỳ này (chi phí phải trả ).
- Giá thành sản phẩm chứa đựng cả một phần chi phí của kỳ trước chuyển
sang (chi phí về sản phẩm dở dang đầu kỳ ).
Mối quan hệ giữa chi phí và giá thành được thể hiện rõ nét qua sơ đồ sau:
Sơ đồ số 1:
Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
B D
A Tổng giá thành sản
phẩm, dịch vụ hoàn thành
C Chi phí sản xuất dở
dang cuối kỳ
Ta có : AC = AB + BD - CD

quả, kịp thời nhằm hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đề ra các
quyết định phù hợp với phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị
doanh nghiệp.
Việc phân tích đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ có
thể dựa trên giá thành sản phẩm chính xác. Về phía mình giá thành sản phẩm
lại phải chịu sự ảnh hưởng của kết quả tập hợp chi phí sản xuất. Do vậy, tổ
chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
để đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành
sản phẩm, lượng giá trị các yếu tố chi phí đã được chuyển dịch vào sản phẩm
có ý nghĩa quan trọng, và cấp bách. Bởi ta biết rằng trong nền kinh tế thị
trường, các quan hệ sản xuất kinh doanh, tài chính, tín dụng ngày càng trở nên
phức tạp. Canh tranh càng ngày càng trở nên gay gắt, doanh nghiệp có thể
đứng vững và phát triển trên thị trường đòi hỏi phải được quản lý điều hành
một cách có hiệu quả. Việc này có ảnh hưởng lớn đến hệ thống kế toán chi phí,
công tác kế toán chi phí không những chỉ tuân theo chế độ kế toán hiện hành
mà còn phù hợp với yêu cầu quản lý để có thể ra quyết định kinh doanh một
cách đúng đắn. Điều này có liên quan đến yếu tố thời gian, tính kịp thời, chính
xác vì thông tin có thể mặt giá trị nếu có sự chậm trễ và các quyết định có thể
bị sai lầm do thông tin không chính xác. Xuất phát từ yêu cầu quản lý đòi hỏi
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải thực hiện tốt các
nhiệm vụ sau:
- Xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính
giá thành sản phẩm. Để thực hiện tốt kế toán phải căn cứ vào đặc điểm quy
trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
- Tổ chức kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã
xác định và lựa chọn phương pháp hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành
sản phẩm thích hợp.
- Xác định chính xác chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán giá thành và
giá thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng khoản mục quy

vị. Xác định đối tượng tính giá thành là công việc cần thiết đầu tiên trong toàn
bộ công việc tính giá thành sản phẩm. Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm phải được dựa trên những điều kiện sau:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
- Địa điểm phát sinh chi phí, mục đính, công dụng của chi phí.
- Yêu cầu trình độ quản lý doanh nghiệp.
Như vậy, dựa vào các căn cứ trên, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành trong doanh nghiệp có thể là:
- Toàn bộ quá trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.
- Từng giai đoạn, từng quy trình công nghệ riêng biệt, từng
phân xưởng, tổ đội sản xuất.
- Từng nhóm sản phẩm, từng đơn đặt hàng, hạng mục công
trình.
- Từng bộ phận, chi tiết sản phẩm.
Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã quy định, hợp lý có tác
dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho
công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời và đúng đắn.
2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.
2.1. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ
thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản
xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng chi phí. Do vậy, việc xác định
phương pháp hạch toán chi phí sản xuất dựa trên đối tượng hạch toán chi phí
sản xuất. Nói chung, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất bao gồm các
phương pháp như phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm,
hạch toán chi phí sản xuất theo chi tiết bộ phận của sản phẩm, hạch toán chi
phí sản xuất theo phân xưởng hay theo địa điểm phát sinh chi phí, hạch toán
chi phí sản xuất theo giai đoạn công nghệ của quy trình sản xuất sản phẩm,

vào cho tới khi hoàn thành sản phẩm, mặt hàng sản xuất ít, khối lượng lớn,
chu kỳ sản xuất ngắn, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo như một số
doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp khai thác, các công ty điện, nước.
b. Phương pháp tính giá thành phân bước.
Phương pháp này thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có quy trình
công nghệ phức tạp kiểu sản xuất liên tục, sản phẩm trải qua nhiều giai đoạn,
nhiêu bước nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, mỗi bước tạo ra một
loại bán thành phẩm và bán thành phẩm của bước này là đối tượng chế biến
của bước tiếp theo. Do vậy, tuỳ theo đặc điểm, tình hình cụ thể mà đối tượng
tính giá thành trong các doanh nghiệp loại hình này có thể là thành phẩm ở
giai đoạn công nghệ cuối cùng hoặc bán thành phẩn ở từng giai đoạn và thành
phẩm ở giai đoạn cuối. Chính vì sự khác nhau về từng đối tượng tính giá thành
nên phương pháp tính giá thành phân bước được chia thành :
- Phương pháp phân bước có tính giá thành bán thành phẩm.
- Phương pháp phân bước không tính giá thành bán thành phẩm.
♦ Phương pháp phân bước có tính giá thành bán thành phẩm.
Để tính giá thành của sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuối
cùng cần phải xác định được giá thành bán thành phẩm ở giai đoạn trước và
chi phí bán thành phẩm giai đoạn trước chuyển sang giai đoạn sau cùng với
chi phí của giai đoạn sau để tính ra giá thành bán thành phẩm của giai đoạn
sau, cứ tuần tự như vậy cho đến giai đoạn cuối cùng khi tính giá thành thành
phẩm.
Quá trình này được thể hiện qua sơ đồ sau với doanh nghiệp sản xuất sản
phẩm phải qua n bước:
Sơ đồ 02:
Chi phí
nguyên
vật liệu
chính
Giá th nhà

tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được phản ánh qua sơ đồ
sau:
Sơ đồ 03:
Chi phí
chế biến
bước 2
Giá th nhà
bán th nhà
phẩm
bước 2
Giá
th nhà
BTP
bước 2
chuyển
Chi phí
chế biến
bước 3
Giá trị
sản phẩm
dở dang
bước 2
Giá trị
sản phẩm
dở dang
bước 3
Giá th nhà
BTP
bước(n-1)
chuyển

điểm phát sinh chi phí hay phân xưởng còn đối tượng tính giá thành là sản
phẩm từng loại theo cỡ số chất lượng, chất lượng sản phẩm, quy cách sản
phẩm. Quá trình hạch toán được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Quy đổi các sản phẩm khác nhau về chất lượng, cỡ số quy cách về sản
phẩm tiêu chuẩn.
Tổng số sản
phẩm tiêu
chuẩn
=
Σ
(
Số lượng hoàn
thành
của từng loại
sản phẩm.
*
Hệ số quy đổi
của từng loại. )
Trong đó: Hệ số quy đổi là do doanh nghiệp quy định hoặc nhà nước quy định.
Bước 2: Phân bổ chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm:
Chi phí phân bổ
cho từng loại sản
phẩm cho từng
khoản mục
=
Chi phí sản xuất theo từng
khoản mục

Σ
số sản phẩm tiêu

thành kế
hoạch
=
Σ
(
Số lượng sản
phẩm hoàn
thành thực tế
x
Giá thành
đơn vị sản phẩm )
kế hoạch
Tiếp đó cuối kỳ kế toán tính được tổng giá thành thực tế của các sản phẩm.
Tổng giá
thành thực
tế
=
Chi phí dở
dang đầu kỳ
+
Chi phí phát
sinh trong kỳ
-
Chi phí dở
dang cuối
kỳ
Sau đó tính ra được tỷ lệ giá thành:
Tỷ lệ
giá thành
=

mà tập hợp theo phân xưởng hoặc địa điểm phát sinh chi phí. Đối tượng tính
giá chỉ tính giá thành sản phẩm phụ chủ yếu trong các doanh nghiệp chế biến
gỗ, thực phẩm, sản phẩm nông nghiệp. Sau đó tính giá thành sản phẩm chính :
Tổng giá
thành sản
phẩm chính
=
Chi phí dở
dang đầu
kỳ
+
Chi phí
phát sinh
trong kỳ
-
Chi phí
dở
dang
cuối kỳ
-
Giá trị
sản
phẩm
phụ
Trong đó : Giá trị sản phẩm phụ được tính theo hai phương pháp :
- Tính theo giá trị ước tính không điều chỉnh: cách này đơn giản nhưng
không chính xác.
- Tính theo giá trị thực tế trên thị trường: chính xác nhưng rất phức tạp.
g. Phương pháp tính theo giá thành định mức.
Phương pháp này được áp dụng trên cơ sở hệ thống định mức tiêu hao vật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status