CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC Ở CÔNG TY THIẾT BỊ ĐO ĐIỆN - Pdf 62

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ
SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC Ở CÔNG TY THIẾT BỊ
ĐO ĐIỆN
I. CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
1. Khái niệm
Thuật ngữ chiến lược có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng thường
được hiểu chung là những quyết định, những hành động hoặc những kế
hoạch liên kết với nhau được thiết kế để đề ra và thực hiện các mục tiêu của
tổ chức. Chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động hướng mục
tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội
và thách thức từ bên ngoài. Các chiến lược được đưa ra cần phải giúp cho
tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, việc xây dựng và quyết định
chiến lược hướng mục tiêu là chưa đủ. Chiến lược còn đưa ra những hành
động hướng mục tiêu-những hoạt động để thực hiện chiến lược. Nói cách
khác, chiến lược của tổ chức không chỉ bao gồm những gì tổ chức muốn
thực hiện, mà còn cánh thức thực hiện những việc đó. Một hành động riêng
lẻ, đơn giản cũng không phải là chiến lược. Chiến lược là một loạt các hành
động và quyết định liên quan đến nhau, chiến lược của tổ chức cần được
xây dựng sao cho nó cần phải tính đến những điểm mạnh cơ bản của mình
và những cơ hội, thách thức của môi trường.
2. Đặc trưng
Chiến lược mang tính đặc trưng chung nhất, nó phản ánh bản chất
của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và có những đặc trưng cơ bản
nhất là:
- Chiến lược mang tính định hướng: vì chiến lược được xây dựng cho
thời kỳ từ 5 năm trở lên, nên nó mang tính định hướng để cho các kế hoạch
ngắn hơn thực hiện như kế hoạch hàng năm…
- Chiến lược luôn tập trung quan điểm lớn vào các cấp lãnh đạo trong
doanh nghiệp: chiến lược được xây dựng trên cơ sở là ý kiến quan điểm của
các cấp lãnh đạo, do đó nó thể hiện hướng đi quyết định của cấp lãnh đạo.
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh như một quá

- Tỷ lệ lạm phát : ảnh hưởng đến khả năng dự đoán của các nhà
đầu tư. Khi lạm phát lên cao thì dự đoán sẽ trở nân khó khăn hơn, đầu tư
mang nhiều rủi ro hơn. Do đó đầu tư giảm sản lượng giảm và tác động tới
cạnh tranh trong ngành.
- Tỷ lệ thất nghiệp : tỷ lệ thất nghiệp trong ngành cao điều đó
chứng tỏ sản phẩm cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường kém, tỷ lệ
đầu tư vào đổi mới công nghệ và sản phẩm thấp.
b. Yếu tố chính trị pháp luật : bao gồm các hệ thống quan điểm, chính
sách quy chế, luật lệ và thủ tục. Nó ảnh đến sự tồn tại vàphát triển của
ngành, đến trạng thái kinh tế do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến ngành.
c. Yếu tố văn hóa xã hội: là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhu
cầu tiêu dùng của xã hội.
Yếu tố kỹ thuật công nghệ : với tốc độ phát triển như vũ bão của cách
mạng khoa học kỹ thuật, vòng đời công nghệ ngày càng ngắn lại. Sự ra đời
của công nghệ mới sẽ hủy hoại các công nghệ cũ, làm tăng ưu thế, sản
phẩm sẽ được hoàn thiện hơn, giá sản phẩm trở nên rẻ hơn và cũng có thể
làm xuất hiện thị trường mới. Các doanh nghiệp tăng cường khả năng khai
thác và nghiên cứu công nghệ mới.
d. Yếu tố tự nhiên : nhân tố tự nhiên là nguồn cung cấp đầu vào cho
nhiều ngành sản xuất, nó là nhân tố ít biến động nhất. Tuy nhiên trong
những thập kỷ gần đây môi trường tự nhiên đang bị xuống cấp một cách
nghiêm trọng điều đó ảnh hưởng đến sự vận động của các doanh nghiệp.
e. Xu hướng quốc tế hóa : trong bối cảnh hiện nay xu hướng quốc tế hóa
ngày càng phát triển, sự giao lưu trao đổi hàng hóa ngày càng thuận lợi
hơn. Nó cũng là một môi trường để các doanh nghiệp thử sức của mình
trên thị trường quốc tế, và nó cũng là cơ hội và thách thức cho các doanh
nghiệp phát triển.
1.2 Môi trường ngành.
Là môi trường gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp, các yếu tố
của môi trường tác nghiệp sẽ quyết định môi trường đầu tư, cường độ cạnh

tăng, các công ty sẽ dễ dàng bảo vệ thị phần hay mở rộng thị phần của mình
trên thị trường, tính chất cạnh tranh sẽ kém gay gắt hơn. Khi nhu cầu thị
trường có xu hướng giảm xuống, các công ty muốn bảo vệ thị phần và phát
triển thị trường thì tất yếu sẽ tham gia vào cuộc chiến với nhiều công ty
hơn.
- Rào cản rút lui: chi phí ngày càng cao, doanh nghiệp càng khó
ra khỏi ngành, do đó doanh nghiệp sẽ quyết tâm để tồn tại. Điều đó càng
làm cho cường độ cạnh tranh ngày càng tăng, đặc biệt và với những ngành
đang ở giai đoạn chín muồi hay suy thoái. Và ngược lại rào cản rút lui thấp,
mức cạnh tranh trong ngành có xu hướng giảm.
- Ngoài các rào cản chính còn có các nhân tố ảnh hưởng tới
cường độ cạnh tranh như: tính khác biệt hóa của các sản phẩm trong
ngành, chi phí cố định…
c. Nhà cung cấp
Nhà cung cấp có thể gây áp lực cho công ty thông qua yêu cầu tăng giá
hoặc giảm chất lượng các yếu tố đầu vào cho công ty. Nó trực tiếp ảnh
hưởng đến giá thành, chất lượng sản phẩm của công ty, do đó nó tác động
tới phản ứng của khách hàng.
Khi đó ta xem xét các yếu tố dưới đây để đánh giá áp lực của nhà cung
cấp là:
Nhà cung cấp có tập trung hay không, nếu nhà cung cấp mà tập trung thì
áp lực với doanh nghiệp sẽ tăng lên và ngược lại.
Liệu doanh nghiệp trong ngành có tìm được sản phẩm thay thế hay
không. Khi doanh nghiệp tìm được sản phẩm thay thế sẽ làm giảm áp lực
của nhà cung cấp.
Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp, nếu chi phí chuyển đổi thấp sẽ tạo cơ
hội cho doanh nghiệp tìm được nhà cung cấp khác sẽ tạo được áp lực đối
với nhà cung cấp hay nói khác hơn là áp lực đối với doanh nghiệp sẽ giảm
đi.
Khả năng hội nhập dọc ngược chiều trong ngành. Khi doanh nghiệp có

Quá trình thực hiện được những yêu cầu trên chính là phân tích nội
bộ của doanh nghiệp. Phân tích nội bộ không chỉ dừng lại ở việc phân tích
điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp mà nó đòi hỏi có sự so sánh với đối
thủ cạnh tranh, so sánh vị trí lý tưởng với đòi hỏi của môi trường và ngành.
Quá trình phân tích nội bộ của doanh nghiệp được thể hiện qua các mặt
sau:(Hình 1)
Hình 1: Môi trường nội bộ doanh nghiệp
T i chínhà
a. Phân tích chuỗi giá trị của tổ chức. (Hình 2)
Chuỗi giá trị là tổng hợp các hoạt độngcủa doanh nghiệp nhằm làm tăng
giá trị. Chuỗi giá trị của tổ chức cấu thành từ hai hoạt động: Các hoạt động
chủ yếu( hoạt động tác nghiệp) và các hoạt động hỗ trợ( hoạt động chức
năng)
- Hoạt động chủ yếu: là các hoạt động gắn liền với sản phẩm và dịch
vụ vủa doanh nghiệp. Đó là các hoạt động thu mua, quản lý các yếu tố đầu
vào,hoạt động sản xuất và hoạt động marketting bán hàng, và các dịch vụ
sau bán hàng. Các hoạt động này được đánh giá xem nó góp phần tiết kiệm
chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm sản phẩm thỏa mãn tốt nhất các yêu
cầu của khách hàng hay không?. Các hoạt động này càng tiết kiệm, nâng
cao chất lượng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thì chuỗi giá trị của công
ty ngày càng được đánh giá cao, và công ty có lợi thế trong cạnh tranh.
- Hoạt động hỗ trợ: bên cạnh các hoạt động chủ yếu gắn liền với sản
xuất và dịch vụ của công ty các hoạt động hỗ trợ còn tác động một cách
gián tiếp tới sản phẩm và dịch vụ. Các hoạt động hỗ trợ giúp cho các hoạt
động của chúng ta đang nói tới chính là các hoạt động quản trị nhân sự,
phát triển công nghệ, tài chính kế toán, kiểm soát quản lý.
Hình 2: Sơ đồ chuỗi giá trị
Hoạt
động
hỗ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status