THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA
CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI.
I. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY.
1.1 Kết quả sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm trong một số năm gần
đây.
Biểu 5: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2004
TT Các chỉ tiêu Đơn vị Kế hoạch Thực hiện So sánh
1 Giá trị SXCN Tr đồng 923200 946419 102,5%
2 Tổng DT (có VAT) “ 1016750 1068048 105%
3 Tổng DT (không có VAT) “ 967020 970953 100,4%
4 Nộp ngân sách “ 2360 4800 203,38%
5 Lợi nhuận “ 3586 4500 125,5%
6 Kim ngạch X.khẩu USD 30014000 26151569 100,6%
7 Kim ngạch N.khẩu “ 15600000 21283470 138,2%
8 Lao động b/quân năm Người 5553 5474 98,6%
9 Thu nhập bình quân năm đ/ng/tháng 1115000 1350000 121,07%
10 Tổng quỹ tiền lương năm Tr đồng 86088 94367 109,6%
Từ bảng báo cáo trên chúng ta có thể thấy công ty đã hoàn thành vượt mức so
với kế hoạch hầu hết các chỉ tiêu đặt ra trong năm 2004. Cụ thể là tổng doanh thu
không có VAT của công ty đã đạt và vượt kế hoạch 0,4%. Bên cạnh đó lợi nhuận
thu được của công ty cũng vượt kế hoạch đặt ra 25,5%. Tuy nhiên báo cáo cũng
cho thấy tình hình kim ngạch nhập khẩu của công ty đã vượt so với kế hoạch
38,2% điều này là không có lợi (do phần lớn nguyên phụ liệu của công ty phải
nhập khẩu), công ty cần tìm cách hợp tác với các cơ sở cung cấp nguyên phụ liệu ở
trong nước để tận dụng nguồn nguyên phụ liệu sẵn có ở trong nước để hạn chế việc
nhập khẩu. Việc làm này vừa giúp công ty tiết kiệm được một lượng lớn ngoại tệ
vừa góp phần tạo công ăn việc làm cho những người nông dân cũng như các cơ sở
cung cấp nguyên phụ liệu có chất lượng tốt ở trong nước. Báo cáo cũng cho thấy
tình hình thu nhập của lao động trong công ty đã được cải thiện đáng kể vượt kế
hoạch 21,07%.
4500 tr đồng, như vậy tăng 1,3% so với năm 2003. Bảng tổng hợp trên cũng cho
chúng ta thấy công ty luôn hoàn thành và vượt mức phải nộp ngân ngân sách nhà
nước năm 2003 so với năm 2002 vượt 33,9%, năm 2004 so với năm 2003 vượt
12,8%. Tuy tỷ suất lợi nhuận của công ty có tăng nhưng mức tăng không ổn định
năm 2003 tỷ suất lợi nhuận tăng 0.15% so với năm 2002 nhưng năm 2004 chỉ tăng
được 0,01% so với năm 2003.
1.2. Phân tích cách phân đoạn thị trường của Công ty Dệt May Hà Nội.
Do nhận thức được rằng sản phẩm của mình làm ra không thể nhận được
ngay sự ưa thích của tất cả người tiêu dùng; bên cạnh đó số người tiêu dùng này
quá đông, lại phân bố trên một phạm vi rộng và có những nhu cầu và thói quen tiêu
dùng khác nhau. Cho nên công ty thấy tốt hơn hết là tập trung vào phục vụ những
bộ phận nhất định hay những phần nhất định của thị trường. Công ty đã, đang và sẽ
tiếp tục nghiên cứu thị trường để phát hiện ra phần thị trường hấp dẫn nhất mà
công ty có khả năng phục vụ có hiệu quả.
Trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường cũng nhu dựa trên khả năng đáp
ứng nhu cầu thị trường, công ty Dệt May Hà Nội đã tiến hành phân đoạn thị trường
theo “nguyên tắc địa lý”. Việc phân khúc thị trường theo nguyên tắc này đòi hỏi
phải phân chia thị trường thành những khu vực địa lý khác nhau: quốc gia, bang,
vùng, tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn... Việc phân khúc thị trường theo nguyên tắc
địa lý là nền tảng cho việc nghiên cứu chi tiết thị trường của công ty. Trên cơ sở
phân khúc đó công ty tiếp tục phân chia thị trường theo “nguyên tắc nhân khẩu
học”. Các nhóm khách hàng được chia theo các đặc điểm tuổi, giới tính, nghề
nghiệp, thu nhập...
Hiện tại dựa trên cơ sở phân đoạn thị trường như vậy sản phẩm sợi của công
ty chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường miền Nam còn ở thị trường miền Bắc tiêu thụ
không đáng kể, còn đối với sản phẩm dệt kim và khăn bông lại chủ yếu là xuất
khẩu. Sản phẩm quần áo dệt kim của công ty, sản phẩm quần áo bò được thiết kế
dành cho những khách hàng từ 10 đến 40 tuổi, có thu nhập trung bình. Hiện nay
công ty vẫn tiếp tục nghiên cứu thị trường để đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu ngày
càng đa dạng và phong phú của người tiêu dùng.
(Nguồn Tổng công ty Dệt May Việt Nam)
Sản phẩm sợi:
Qua bảng trên có thể thấy rằng thị phần sản phẩm sợi của công ty trong toàn
ngành rất khả quan chiếm tới 16% tổng sản lượng sợi toàn ngành vì sợi là sản
phẩm truyền thống và thế mạnh của công ty (chiếm 65% tổng doanh thu của công
ty). Số lượng sản phẩm sợi tiêu thụ của công ty tăng lên hàng năm, năm 2004 tăng
12% so với năm 2003. Khách hàng tiêu thụ sản phẩm sợi của công ty chủ yếu là
khách hàng trong nước cụ thể năm 2003 công ty bán cho khách hàng này 85,5%
sản lượng sản xuất ra, còn năm 2004 tiêu thụ được 83,7%. Mỗi năm công ty sản
xuất hơn 20 loại sợi bao gồm sợi xe và sợi đơn. Với chất lượng tốt, sản phẩm sợi
của công ty được thị trường miền Nam ưa chuộng. Mặc dù thị trường miền Nam ở
xa công ty với chi phí vận chuyện lớn dẫn đến giá thành sản phẩm bị đội lên cao,
song do đây là thị trường tiêu thụ lớn nên công ty đã dùng cách kéo sợi có chỉ số
cao và tỷ lệ pha trộn giữa Cotton và PE khác nhau để vừa có thể đáp ứng nhu cầu
thị trường vừa hạ bớt giá thành sản phẩm vừa có thể đa dạng hoá mặt hàng.
Sản phẩm sợi của công ty chủ yếu tiêu thụ ở thị trường miền Nam còn thị
trường miền Bắc thì số lượng tiêu thụ lại không đáng kể mặc dù thị trường miền
Bắc cũng có nhu cầu tương đương và ngày càng tăng. Có thể nói rằng thị trường
miền Bắc là một thị trường tiềm năng mà công ty cần quan tâm và có hướng để
phát triển. Mở rộng thị trường tại miền Bắc có nhiều lợi thế là chi phí vận chuyển
giảm, khả năng tìm hiểu đối tác dễ hơn. Công ty có thể cung cấp sản phẩm cho
khách hàng mà không phải qua trung gian.
Để tiếp tục tăng thị phần của sản phẩm sợi, từ tháng 4 năm 2001 công ty đẫ
bắt đầu đưa vào sản xuất sản phẩm mới là sợi OE được dùng để dệt vải DENIM và
may quần bò.
Sản phẩm dệt kim.
Hàng dệt kim chủ lực của công ty hiện nay là áo Poloshirt, áo T. shirt và
Hineck. Mặt hàng dệt kim không được chú trọng ở thị trường trong nước mà chủ
yếu để xuất khẩu.
Biểu 10: Tiêu thụ nội địa sản phẩm dệt kim của Công ty Dệt May Hà Nội.
phẩm mới đưa ra thị trường nhưng nó đã góp phần không nhỏ làm tăng doanh thu
và lợi nhuận cho công ty.
Sản phẩm khăn.
Trong những năm qua sản phẩm khăn của công ty chủ yếu tiêu thụ trên thị
trường xuất khẩu còn lượng tiêu thụ tại thị trường trong nước không đáng kể. Tuy
nhiên mức tiêu thụ sản phẩm khăn trong nước ngày càng tăng lên điều đó khẳng
định rằng công ty đang dần tìm được chỗ đứng tại thị trường trong nước và có thể
cạnh tranh với các đối thủ khác.
Biểu 11: Tình hình tiêu thụ nội địa sản phẩm khăn.
Đơn vị: chiếc.
Sản phẩm Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
So sánh
2003/2002 2004/2003
Khăn 1115335 2142530 2941027 192% 137%
(Nguồn: Phòng KH-TT)
Năm 2003 so với năm 2002 số lượng khăn tiêu thụ tăng 92%, nhưng năm
2004 chỉ tăng được 37% so với năm 2003.
1.3.2. Đối với thị trường xuất khẩu.