MỤC LỤC
Lời cảm ơn.............................................................................................................1
MỤC LỤC..............................................................................................................2
DANH MỤC VIẾT TẮT.......................................................................................4
MỞ ĐẦU................................................................................................................5
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA
KỲ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG B.OBAMA....................................................11
1.1. Khái quát về Hoa Kỳ...............................................................................11
1.2. Hoàn cảnh ra đời chính sách đối ngoại Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống
B.Obama...........................................................................................................12
1.2.1. Bối cảnh quốc tế................................................................................12
1.2.2. Tình hình trong nước.........................................................................14
1.2.3. Vai trò cá nhân Tổng thống B.Obama...............................................22
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ DƯỚI
THỜI TỔNG THỐNG B.OBAMA......................................................................24
2.1. Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời tổng thống B.Obama
24
2.2. Nội dung chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời tổng thống B.Obama
25
2.2.1. Đối với các vấn đề quốc tế chung.....................................................25
2.2.2. Đối với các nước lớn...........................................................................31
1
2.2.3. Đối với các điểm nóng.........................................................................42
CHƯƠNG 3: NHẬN ĐỊNH VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG B.OBAMA VÀ DỰ BÁO TRONG THỜI GIAN
TỚI.......................................................................................................................52
3.1. Một số thành công và hạn chế trong chính sách đối ngoại Hoa Kỳ dưới
thời Tổng thống B.Obama................................................................................52
NMD
Hệ thồng phòng thủ tên lửa quốc gia
TMD
Hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường
IAEA
Cơ quan Nguyên tử Quốc tế
EU
Liên minh Châu Âu
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
DOC
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
COC
Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông
3
nước lớn đóng vai trò chủ đạo, ảnh hưởng tới quan hệ quốc tế toàn cầu.
Cường quốc đầu tiên chúng ta phải nói đến là Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vẫn luôn
xứng đáng với cái tên gã khổng lồ số một của thế giới. Trật tự hai cực sụp đổ,
Hoa Kỳ nuôi tham vọng xây dựng một trật tự thế giới một cực mà đứng đầu là
Hoa Kỳ. Hiện nay, Hoa Kỳ vẫn giữ được vị trí siêu cường số một của thế giới.
Tuy nhiên nước này cũng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ từ các cường
quốc khác. Chính vì vậy, buộc Hoa Kỳ phải thay đổi chính sách đối ngoại của
mình.
Ngày 20/1/2009 được xem như một sự kiện đặc biệt của Hoa Kỳ, mở ra
một thời kì mới cho đất nước này – lần đầu tiên trong lịch sử đất nước có một
Tổng thống da màu lên giữ chức vụ. Ngày 20/1/2009, Thượng nghị sỹ của Đảng
dân chủ Barack Obama giơ tay tuyên thệ nhậm chức, trở thành vị Tổng thống thứ
44 của Hoa Kỳ. Sự lựa chọn của nhân dân Hoa Kỳ thể hiện sự loại bỏ tư tưởng
phân biệt chủng tộc vốn ăn sâu vào tâm thức của đất nước này. Với khẩu hiệu
“Thay đổi - chúng ta có thể tin tưởng” của B.Obama, người dân Hoa Kỳ tin
tưởng rằng nước này sẽ có một bước phát triển vượt bậc sau những khủng hoảng
trầm trọng dưới thời Tổng thống George W.Bush (2001 – 2009).
Thực tế chứng minh rằng, trong quá trình nhậm chức của mình, vị Tổng
thống da màu này đã tạo nên những bước chuyển biến lịch sử cho Hoa Kỳ nói
riêng và toàn thế giới nói chung.
Với vai trò quan trọng của mình, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ là một
trong những vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu. Việc nghiên cứu chính sách
đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống B.Obama sẽ giúp chúng ta hiểu
thêm về chính sách cũng như sự thành công của một siêu cường hàng đầu. Từ
5
đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình phát triển đất
nước, nhất là về lĩnh vực quan hệ đối ngoại.
từ bài viết của David Lai đăng trên tạp chí “Sự kiện và nhân vật nước ngoài”.
Bài viết “Nhìn lại sự điều chỉnh chiến lược của Tổng thống Obama sau
hơn một năm cầm quyền” (02/2010) của Nguyễn Nhân, bài “Một số vấn đề đặt
ra trong quan hệ Mỹ, ASEAN” (tháng 7/2010) của Quang Huy đăng trên Tạp chí
“Quan hệ quốc phòng - an ninh”.
Tuy nhiên, các chuyên đề mới dừng lại ở mức cơ bản, chưa đi sâu nghiên
cứu, phân tích chính sách đối ngoại của Hoa Kì dưới thời tổng thống B.Obama.
Trên thực tế, chính sách đối ngoại của Mỹ thời kì này có tầm ảnh hưởng to lớn
đối với toàn thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng.
Vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ dưới thời tổng thống B.Obama và một số dự báo về sự phát triển trong
tương lai”.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
•
Mục đích:
Tìm hiểu, phân tích chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Tổng
thống B.Obama cũng như những chuyển biến và ảnh hưởng của nó.
Từ đó, đưa ra một số dự báo, đánh giá tác động đến Việt Nam và đề xuất
một số bài học, đối sách với Việt Nam.
•
Nhiệm vụ nghiên cứu:
7
Khái quát hoàn cảnh ra đời của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ thời
Tổng thống B.Obama.
Phân tích và đưa ra một số nhận xét chung về chính sách đối đối ngoại của
Vì vậy nghiên cứu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống
B.Obama được xem là một trong những việc làm quan trọng nhất trong tổng thể
nghiên cứu quan hệ quốc, sẽ cung cấp cho chúng ta những lý luận cần thiết cho
việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về chính sách đối ngoại nói chung và
chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ nói riêng.
Về mặt thực tiễn
Thứ nhất, nghiên cứu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Tổng
thống B.Obama sẽ góp phần tạo luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ hai, bản thân tác giả là một người học tập, nghiên cứu quan hệ quốc
tế cũng rất muốn tìm hiểu về chính sách đối ngoại của các nước. Nhận thấy đề tài
chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống B.Obama là một đề tài
thú vị, có ích. Qua các giai đoạn lịch sử, đề tài này cũng đã được rất nhiều tác giả
quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau.
Xuất phát từ những lí do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Chính sách đối
ngoại của Hoa Kỳ dưới thời tổng thống B.Obama và một số dự báo về sự phát
triển trong tương lai” làm đề tài nghiên cứu.
9
8. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, tiểu luận gồm 3 chương, 7 tiết và 8 tiểu tiết.
CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA
HOA KỲ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG B.OBAMA
1.1.
Khái quát về Hoa Kỳ
Tên gọi: Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United
States of America viết tắt là U.S hoặc USA), tên thường gọi là Mỹ.
loại. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã đánh dấu sự sụp
đổ của trật tự Thế giới hai cực Ianta. Hoa Kỳ nuôi tham vọng hình thành một trật
tự Thế giới mới đứng đầu là Hoa Kỳ. Song, sau chiến tranh, toàn cầu hóa trở
thành một xu thế tất yếu không thể thay thế được, các quốc gia ngày càng phụ
thuộc lẫn nhau. Sự trỗi dậy của các trung tâm kinh tế - chính trị: Liên bang Nga,
Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc… đã làm thay đổi cơ bản cục diện Thế giới.
Theo Joseph.S.Nye.Jr thì “thực tế sức mạnh được phân bố theo một kiểu phức
tạp đại loại như một bàn cờ ba tầng, ở tầng trên cùng sức mạnh quân sự phần
lớn là một cực của Hoa Kỳ là nước duy nhất có cả vũ khí hạt nhân vượt bậc, lẫn
11
lực lượng không quân, hải quân và bộ binh to lớn, hiện tại có khả năng triển
khai khắp địa cầu; ở tầng giữa sức mạnh kinh tế là ba cực với Hoa Kỳ, châu Âu,
Nhật Bản chiếm gần 2/3 sản phẩm thế giới. Sự tăng trưởng của Trung Quốc sẽ
làm cho sức mạnh kinh tế trở thành 4 cực ở thế kỷ sau. Tầng cuối cùng: quan hệ
xuyên quốc gia vượt qua các biên giới ngoài sự kiểm soát của chính quyền bao
gồm những yếu tố chủ chốt khác hẳn nhau như chủ ngân hàng và kẻ khủng bố, ở
đây sức mạnh bị phân tán rộng rãi”. [9]
Sau chiến tranh, tất cả các nước đều coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ
trọng tâm, là yếu tố làm nên sức mạnh quốc gia. Do đó, các nước đều đưa ra các
chính sách, tập trung phát triển kinh tế, phát triển sức mạnh tổng hợp của quốc
gia. Thay vì coi quân sự là yếu tố làm nên sức mạnh quốc gia như trước, hiện
nay, sức mạnh quốc gia chủ yếu được đo bằng kinh tế, tài chính và giá trị văn
hóa. Theo đó, trên thế giới nổi lên với các trung tâm kinh tế: Hoa Kỳ, Nhật Bản,
Trung Quốc, đây là ba siêu cường kinh tế của Thế giới, chiếm tới 2/3 tổng GDP
toàn cầu. Quan hệ giữa các nước thời kì này chuyển từ đối đầu sang hợp tác cùng
phát triển, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh. Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, khoảng
cách về kinh tế giữa các nước ngày càng được thu hẹp. Tuy vẫn giữ được vị trí
siêu cường của mình, song, Hoa Kỳ không còn hoàn toàn chiếm ưu thế tuyệt đối.
1.2.2.1. Kinh tế
Về kinh tế, Hoa Kỳ đang gặp một số khó khăn lớn. Tình trạng suy thoái
kinh tế kéo dài, trái phiếu chính phủ giảm giá, vấn đề nợ công và tình trạng thất
nghiệp ngày càng gia tăng. Từ cuối những năm 2000, nền kinh tế Hoa Kỳ đã có
dấu hiệu suy thoái. Tháng 3/2001, Hoa Kỳ bắt buộc phải tuyên bố tình trạng suy
thoái, kết thúc giai đoạn “phát triển thần kì” của đất nước này. Chỉ số thị trường
chứng khoán Hoa Kỳ giảm đáng kể, lạm phát gia tăng trong khi thâm hụt mậu
13
dịch không giảm, thâm hụt cán cân thương mại ở mức độ nghiêm trọng vẫn tiếp
tục là một nguy cơ lớn, thất nghiệp tăng vọt.
Năm cuối cùng khi Tổng thống Bush rời khỏi cương vị nhà lãnh đạo đứng
đầu nước năm 2009. Một Hoa Kỳ bên bờ khủng hoảng với các chỉ số như: chỉ số
thất nghiệp 7,2%, GDP tăng trưởng âm, ở mức - 0,3%, tỷ lệ thất nghiệp là 15%.
Thâm hụt ngân sách gia tăng mỗi năm càng làm tăng gánh nặng nợ quốc gia của
Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng tài chính, tín dụng, địa ốc khiến tỷ lệ thất nghiệp của
nước này tăng lên 6,1% - mức cao nhất trong vòng 5 năm trước đó. Quan trọng
hơn, nó chứng tỏ Washington đã đánh mất vai trò siêu cường của mình trong hệ
thống tài chính toàn cầu, bằng chứng là nhiều quốc gia không dùng đồng USD
trong thanh toán thương mại. Về lịch sử, đồng USD là đồng dự trữ tiền tệ quốc
tế, điều này mang lại những lợi thế rất lớn cho Hoa Kỳ, cho nên, một sự chuyển
hướng chiến lược sang đồng ơ-rô sẽ làm giảm khả năng Hoa Kỳ chuyển chi phí
điều chỉnh sang cho nước khác, hạn chế sự phát triển kinh tế của nước này về dài
hạn.
Nhiều người lo ngại rằng các đối tác thương mại đang làm giảm khả năng
tiếp cận thị trường nước ngoài của Hoa Kỳ. Tỷ giá trao đổi và các luồng tư bản
có thể thành biện pháp gây sức ép hoặc hạn chế việc tự do hành động của Hoa
Kỳ. Sự nổi lên của các trung tâm kinh tế Thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản,
Tây Âu… đang đe dọa vị trí siêu cường của nước này.
động, đầu tư vào năng lượng sạch, tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ, tăng
cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…
Những chính sách này đã tạo động lực thúc đẩy kinh tế Hoa Kỳ phát triển,
vượt qua khỏi khủng hoảng, giữ vững vị trí siêu cường của mình. Tăng trưởng
kinh tế đã hồi phục ngoạn mục, với mức tăng trưởng 3,7%. Tỷ lệ người dân
không được hưởng bảo hiểm y tế đã giảm từ 15% xuống còn 9,2%.
Kinh tế là tiền đề, nền tảng phát triển chính trị. Trước sự thay đổi của tình
hình kinh tế, Hoa Kỳ buộc phải đưa ra những chính sách về chính trị phù hợp.
1.2.2.2.
Chính trị
Hoa Kỳ là một nước Cộng hòa Liên bang, theo chế độ tam quyền phân
lập. Quyền lực tối cao được phân làm 3 nhánh: quyền lập pháp (Quốc hội gồm
Hạ viện và Thượng viện), quyền hành pháp (đứng đầu là Tổng thống), quyền tư
pháp (Tòa án liên bang). Các nhánh quyền lực của Liên bang hoạt động trên
nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến Pháp Liên bang là “kiểm soát và cân
bằng”, theo đó, mỗi cơ quan có quyền và trách nhiệm kiểm soát chéo hai cơ quan
còn lại. Sự kiểm soát và cân bằng có thể biểu hiện qua nhiều hoạt động khác
nhau của các nhánh quyền lực. [12]
16
1.2.2.3. Xã hội
Về vấn đề Giáo dục, Ông Obama khẳng định sẽ cải thiện quỹ dành cho
chương trình “Không một trẻ em nào bị bỏ rơi”. Ông tuyên bố sẽ đưa” Chương
trình giáo dục môn Toán và Khoa học là một ưu tiên quốc gia”, đồng thời tăng
cường tuyển dụng những giáo viên dạy những môn học này. Để tuyển dụng các
giáo viên tốt ông Obama đề xuất cấp học bổng 4 năm, cho những sinh viên cao
đẳng sẽ giảng dạy ít nhất 4 năm sau khi tốt nghiệp. Ông Obama cam kết sẽ thực
các khu vực miền núi hẻo lánh giáp Pakistan và gia tăng các vụ tấn công trả đũa.
Theo thống kê, kể từ năm 2001 đến 2009, đã có 519 lính Mỹ tử trận tại chiến
trường Afghanistan.
Trong khi đó tại Iraq, Hoa Kỳ có khoảng 144.000 quân. Trong vòng 5 năm
từ 2001 - 2006, gần 4.000 lính Hoa Kỳ thiệt mạng tại Iraq nhưng tình hình an
ninh - chính trị nước này vẫn trong tình trạng “mong manh”. Bước vào năm
2008, cuộc chiến tranh Iraq đã tiêu tốn của Hoa Kỳ 400 tỷ USD, trung bình 12 tỷ
USD/ tháng. Cuộc chiến này cũng gây ra chia rẽ và bất an trong xã hội nước này.
Đa số người dân cho rằng, cuộc chiến Iraq đang trở thành gánh nặng ngày càng
lớn đối với người đóng thuế, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế nước này bị chao
đảo và rơi vào thời kỳ suy thoái. Mối quan hệ Hoa Kỳ - phương Tây, do cuộc
chiến tại Iraq cũng trở nên xa cách.
Sau 8 năm dưới thời Tổng thống G. Bush, hình ảnh một Hoa Kỳ siêu
cường đang dần mai một trong con mắt thế giới, do chính sách ngoại giao đơn
cực, áp đặt của chính quyền Bush và sự nổi lên của các đối thủ mạnh như Nga,
Trung Quốc và Ấn Độ. Thông tin sai lệch của tình báo Hoa Kỳ về vũ khí huỷ
diệt, cũng như chính sách đơn phương áp đặt của Washington và tiêu chuẩn kép
được nước này áp dụng trong các vấn đề quốc tế; từ cách giải quyết vấn đề hạt
18
nhân của Iran, của CHDCND Triều Tiên đến việc công nhận độc lập cho
Kossovo thuộc Serbia, dẫn đến đòn phản công của Nga công nhận độc lập cho 2
khu vực Nam Ossetia và Abkhazia thuộc Gruzia; từ việc “xuất khẩu” dân chủ,
nhân quyền theo kiểu Mỹ nhưng lại ngược đãi tù nhân trong các nhà tù
Guantanamo và Abu Ghraib ở Iraq, khiến uy tín của Hoa Kỳ xuống mức thấp
nhất.
Tưởng như tiến trình phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên sẽ là một
thành công ngoại giao của chính quyền Bush khi Bình Nhưỡng phá huỷ tháp làm
lạnh của lò phản ứng Yongbyon và công bố hồ sơ hạt nhân. Tuy nhiên, tiến trình
- Chính sách “Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” (1945 – 1952) của Tổng
thống H.Truman hay còn gọi là học thuyết Truman.
- Chính sách “Trả đũa ồ ạt” (1953 – 1960) của Tổng thống
D.D.Eisenhower.
- Chính sách “Răn đe” (1969 – 1980) của các Tổng thống R.Nixon,
G.Ford, J.Carter.
- Chính sách “Phản ứng linh hoạt mới” (1981 – 1988) của Tổng thống
R.Reagan.
- Chính sách “Vượt lên ngăn chặn” (1989 – 1992) của Tổng thống
G.H.W.Bush.
- Chính sách “An ninh quốc gia cam kết và mở rộng” của chính quyền Bill
Clinton. [12]
- Chính sách “An inh quốc gia - một thời kì mới” của Tổng thống
G.W.Bush.
Trong nhiệm kì của mình, Tổng thống Bush đã điều chỉnh chiến lược toàn
cầu, thực hiện một nền ngoại giao cứng rắn mang màu sắc đơn phương, đặt lợi
ích quốc gia là lý tưởng cao nhất. Hoa Kỳ đã từ chối mọi ràng buộc đa phương
20
để tự do hành động, thẳng thắng chối bỏ hàng loạt cam kết quốc tế, đơn phương
triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia (NMD) và hệ thống phòng thủ tên
lửa chiến trường (TMD); tăng cường bao vây, cô lập, cấm vận Cuba, thực hiện
chính sách ngoại giao mang tính cứng rắn hơn đối với các nước lớn như Nga,
Trung Quốc. [13]
1.2.3. Vai trò cá nhân Tổng thống B.Obama
Barack Hussein Obama sinh ngày 4 tháng 8 năm 1961, là vị Tổng thống
thứ 44 của Hoa Kỳ. Obama sinh ra tại Honolulu, Hawaii, nơi sau này được ông
mô tả là: "Cơ hội Hawaii mà đã cống hiến – trải nghiệm một nền văn hóa đa
dạng trong một môi trường sống tôn trọng lẫn nhau – đã trở thành một phần
biện pháp ngoại giao đa phương trong giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.
Hoa Kỳ quan tâm hơn đến các vùng mình có lợi ích.
Trước sự thay đổi, biến động không ngừng của tình hình Thế giới, sự nổi
lên của Trung Quốc, Hoa Kỳ đã thay đổi chính sách đối ngoại, chú trọng vào
23
châu Á với chính sách “Xoay trục” về Châu Á – Thái Bình Dương. Đây là một
khu vực đóng vai trò quan trọng trong vị thế của Hoa Kỳ trên trường quốc tế.
Chính sách này nhằm duy trì ảnh hưởng tại khu vực trọng yếu này, tạo điều kiện
giúp Hoa Kỳ tiếp tục thực hiện chiến lược toàn cầu.
2.2. Nội dung chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời tổng thống
B.Obama
2.2.1. Đối với các vấn đề quốc tế chung
2.2.1.1. Vấn đề hạt nhân
Ngay trong bài phát biểu lớn đầu tiên về chính sách đối ngoại của mình ở
Prague tháng 4/2009 ông Obama nêu rõ tư tưởng giảm bớt vai trò vũ khí hạt
nhân đối với Hoa Kỳ. Ông tuyên bố sẽ "chấm dứt tư duy chiến tranh Lạnh" và
"làm giảm vai trò của vũ khí hạt nhân trong chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ
và đôn đốc những nước khác làm tương tự".
Để chứng minh điều đó, Obama bắt đầu đàm phán Hiệp ước cắt giảm vũ
khí tấn công chiến lược mới START 3 với Nga và tiến hành ký kết một năm sau
đó. Theo các điều kiện ghi trong Hiệp ước START mới thì 7 năm sau khi ký kết
Nga và Hoa Kỳ sẽ buộc phải tiến hành cắt giảm số lượng các vũ khí hạt nhân đã
triển khai – tên lửa đạn đạo liên lục địa, tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm, máy
bay ném bom chiến lược hạng nặng xuống còn 700. Tổng số đầu đạn hạt nhân đã
triển khai cả của Nga và Hoa Kỳ đều không được phép vượt quá con số 800, tức
là số lượng đầu đạn hạt nhân tối đa của cả hai nước không đượt vượt quá 1.550.
Ngoài ra, Nga và Hoa Kỳ đều được phép duy trì với số lượng vũ khí hạt nhân
hạn chế (không tính đến tiềm năng chiến lược phi hạt nhân) đã được triển khai