Các bài tập Microsoft .NET 59
Bài 4
Những chức năng Đối Tượng mới của VB.NET
(phần I)
V
B.NET khắc phục những giới hạn về Đối Tượng (Object-Oriented)
của VB6 và mang đến cho ta một ngôn ngữ lập trình hoàn toàn Object-
Oriented (OO). Gần như mọi thứ trong VB.NET đều liên hệ với Object.
Nếu bạn còn mới với lập trình theo hướng đối tượng (Object Oriented
Programming) thì phần giải thích sau đây sẽ giúp bạn làm quen với nó.
Classes và Objects, nguyên tắc Abstraction
Theo phương pháp đối tượng, program được thiết kế để một phần code
đại diện cho một vật tương đương ngoài đời. Nó được gọi là Class.
Khi lập trình VB6 ta đã dùng những controls từ Toolbox như Textbox,
Label, Listbox ..v.v.. Textbox là Class của các Objects Text1, Text2.
Cũng như Label1, Label2 là những Objects tạo ra từ Class Label. Ta hay
dùng hai từ Class và Object lẫn lộn nhau. Điều đó không quan trọng,
miễn là ta biết rằng Class là một ý niệm Trừu tượng (Abstraction), còn
Object là một vật thực hữu. Giống như Class CaSĩ là một ý niệm trừu
tượng, còn Object KhánhHà của Class CaSĩ là một người bằng da, bằng
thịt với tiếng hát được nhiều người ngưỡng mộ.
Ta nói Object là một Instance của Class, và ta instantiate Class để có
một Object.
Các bài tập Microsoft .NET 60
Thường thường khi ta phân tích một vấn đề để thiết kế chương trình thì
các Danh từ (Nouns) là những Classes. Giả dụ ta phân tích hoạt động
của một Nhà Kho (warehouse). Ta có phòng chứa, ngăn tủ, bãi nhận
hàng, xe nâng hàng, nhân viên ..v.v., mỗi thứ đều có thể là một Object
nên ta sẽ thiết kế một Class cho nó.
Fields, Properties, Methods và Events, nguyên tắc Encapsulation
Đối với ta Class CaSĩ là một Black Box, ta không biết và không cần biết
chuyện gì xãy ra bên trong. Nếu sau này CaSĩ thay đổi kỹ thuật đơn ca để
hát dễ và hay hơn, điều đó không ảnh hưởng gì đến chúng ta. Đặc tính
OO ấy gọi là Encapsulation (Gói kín).
Cách ta lập trình với Class chỉ khác cách ta lập trình trước đây một chút
thôi. Nếu trước đây ta phải tự làm, thì bây giờ ta instantiate một Object
của Class chuyên trị những chuyện ta muốn làm, rồi bảo nó làm cho ta.
So với ngoài đời, thí dụ bạn có mở một tiệm photocopy. Sau một năm bạn
tự trông coi, công chuyện làm ăn ổn định và có kết quả tốt. Bạn muốn mở
thêm một tiệm photocopy nữa ở chỗ khác. Trước khi đi lo chỗ khác bạn
huấn luyện nghề photocopy cho một người làm công trung thành, rồi giao
cho người ấy làm quản lý để thay thế bạn. Người đó là môt Object của
Class QuảnLýTiệmPhotoCopy.
Các bài tập Microsoft .NET 62
Trở lại cách lập trình, những công việc bạn làm hằng ngày trong tiệm
photocopy là những Methods. Tất cả đồ đạc, sổ sách của tiệm là những
Properties. Bạn đã sắp đặt mỗi tuần phải gọi người lại quét dọn tiệm,
mỗi tháng phải bảo trì các máy photocopiers, đó là những Events. Bây
giờ bạn gói tất cả những thứ ấy lại thành Class
QuảnLýTiệmPhotoCopy. Lần đầu bạn instantiate Class
QuảnLýTiệmPhotoCopy làm thành ChúTưThông, người sẽ thay thế bạn
làm quản lý tiệm photocopy đầu tiên. Khi bạn muốn mở thêm tiệm thứ
ba, bạn sẽ instantiate Class QuảnLýTiệmPhotoCopy một lần nữa làm
thành DìSáuHương , người sẽ thay thế bạn làm quản lý tiệm photocopy
thứ nhì.
Khi đã phân chia trách nhiệm các phần code thành những Class, bạn có
thể tập trung tư tưởng vào từng Class một, không cần phải cố nhớ mọi thứ
trong đầu khi giải quyết chuyện gì. Vì code của Class nào chỉ làm việc và
ảnh hưởng trong phạm vi hoạt động của nó, không đụng chạm đến ai
khác. Nếu có gì trục trặc, thường thường ta có thể xác định đó là lỗi của
Tương tự như vậy, ta cũng có thể thừa kế từ Class NghệSĩ để tạo ra Class
HọaSĩ. Class HọaSĩ sẽ giữ y các đặc tính và chức năng của Class NghệSĩ
nhưng thêm Function VẽChânDung, Sub TrangTrí.
Trong thí dụ nói trên, người ta gọi Class NghệSĩ là Parent Class, Super
Class hay Base Class. Còn Class CaSĩ và Class HọaSĩ được gọi là Child
Class hay SubClass.