On tap van 9 - Pdf 62

Câu 2 (12 điểm):
Đây là một dạng đề bài tổng hợp, yêu cầu học sinh chứng minh, trình bày suy
nghĩ, đánh giá, cảm nhận về hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam được thể
hiện sâu sắc qua các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn
9. Các em có thể trình bày bằng những cách khác nhau, song cơ bản cần đáp
ứng được một số yêu cầu sau:
1. Giới thiệu sơ lược về các tác phẩm văn học trung đại trong chương
trình Ngữ văn 9:
- Văn học thời trung đại: là thời kỳ văn học lớn của dân tộc (từ thế kỷ X đến hết
thế kỷ XIX). Đây là thời kỳ văn học ra đời và phát triển dưới các triều đại phong
kiến Việt Nam. Vì vậy, theo quy luật phản ánh của văn học nói chung, văn học
trung đại Việt Nam là tấm gương phản chiếu xã hội phong kiến Việt Nam
- Những tác phẩm văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn 9: Chuyện
người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI), Chuyện cũ trong phủ
chúa Trịnh - trích Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (thế kỷ XVIII), Hoàng Lê
nhất thống chí của Ngô gia văn phái, một số trích đoạn trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du (thế kỷ XVIII), một số trích đoạn trong Truyện Lục Vân Tiên của
Nguyễn Đình Chiểu (thế kỷ XIX). Đây là những tác phẩm văn học trung đại ra
đời trong thời kỳ xã hội phong kiến Việt Nam suy tàn mục ruỗng. Vì vậy, hiện
thực được phản ánh chủ yếu trong các tác phẩm này chính là những mặt trái
của xã hội. Đó là sự rối ren, sự xấu xa, vô nhân đạo của xã hội với những thế
lực chà đạp con người và thân phận khổ đau của con người - nạn nhận của
chính xã hội ấy.
2. Chứng minh các tác phẩm trên đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội
phong kiến Việt Nam:
Tập trung vào những phương diện chính sau đây:
* Phản ánh hiện thực rối ren, bộ mặt xấu xa, vô nhân đạo của xã hội
phong kiến:
- Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ: phản ánh chế độ nam
quyền, chiến tranh phong kiến phi nghĩa gây ra bao nhiêu bất hạnh cho con
người.

độ, đặc biệt là cất lên tiếng nói đồng cảm, xót xa, bênh vực và bảo vệ con
người.
- Thông qua hiện thực ấy, ta hiểu được tài năng và cả tấm lòng của các tác giả
văn học thời trung đại.
Cảm nhận về Ánh trăng (Nguyễn Duy)
Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng
đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của
các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh
đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng
nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung
dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ
“Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng
mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ
nguồn”. (Nguyễn Vũ Như Ý - học sinh trường PTNK thành phố Hồ Chí
Minh).
Bài do cô giáo Lê Thị Kiều Nga, giáo viên trường THCS Coltete thành
phố Hồ Chí Minh, cung cấp.
Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng
đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của
các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh
đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng
nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung
dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ
“Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng
mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ
nguồn”.
Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn
của ca dao, dân ca Việt Nam . Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại
khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt. “Ánh
trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặïc

quên được:
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên
nhiên” làm cho âm điệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn
cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy. Chính cái hình ảnh so sánh
ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người
lính trong nhữnh năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản
dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông. của
bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy. Thế rồi cái tâm
hồn - vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn
toàn mới mẻ:
“Từ hồi về thành phá
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”
Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm
là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà.
Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người
lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh
điện, cửa gương”. Vào rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã
quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng
thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại
xem như không quen không biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong
câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng
trăng ấy chính là một con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm
cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn
thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những

có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng”
Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đókhiến cho người lính áy náydù
cho không bị quở trách một lời nào. Hai từ “mặt” trong cùng một
dòng thô: mặt trăng và mặt người đang cùng nhau trò chuyện . Người
lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng và dường
như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của
người bạn “tri kỉ” của mình . Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính
cảm thấy như đang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của
mình ngày nào, nới có “sông” và có “bể” .Chính những thước phim


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status