Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH
I. QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC CỦA HỒ CHÍ MINH:
Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một hoạt động
tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho cách
mạng. Nhà văn phải có sự gắn bó sâu sắc với đời để từ
đó khám phá và sáng tạo góp phần vào nhiệm vụ đấu
tranh và phát triển xã hội. Người khẳng đònh “văn học
nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chò em là chiến só
trên mặt trận ấy”.
Hồ Chí Minh chú ý đến đối tượng thưởng thức.
Văn chương trong thời đại cách mạng phải coi quảng
đại quần chúng là đối tượng phục vụ. Tác phẩm văn
chương phải thể hiện tinh thần dân tộc của nhân dân
và được nhân dân yêu thích. Người nêu kinh nghiệm
chung cho hoạt động báo chí, văn chương. Viết cho ai?
Viết cái gì? Viết như thế nào? Bên cạnh đó người chú
ý đến mối quan hệ giữa phổ cập và nâng cao trong văn
nghệ.
Hồ Chí Minh quan niệm tác phẩm văn chương
phải có tính chân thực. Người yêu cầu các nhà văn
phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn sự
phong phú của đời sống cách mạng, phải ca ngỡi,
khẳng đònh cái cao đẹp, phê phán và phủ nhận cái xấu
trong cuộc đời.
Mặt khác nhà văn phải chú ý đến hình thức
biểu hiện sau cho hấp dẫn , tránh lối viết cầu kì, xa lạ,
nẵng nề. Tác phẩm văn chương phải thể hiện được tinh
thần dân tộc của nhân dân.
II. NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ SỰ NGHIỆP
VĂN HỌC :
c. Thơ trữ tình:
- Nhật kí trong tù: gồm 133 bài thơ chữ Hán viết
trong nhà tù Tưởng Giới Thạch. Tập thơ phản ánh sâu
sắc, sinh động và tài hoa, tâm hồn, nhân cách cao đẹp
của Hồ Chí Minh.
- Những bài thơ sáng tác trong thời kì Người ở
Việt Bắc trước năm 1945 và trong chín năm kháng
chiến chống thực dân Pháp có sự kết hợp chất trữ tình
đằm thắm với cảm hứng anh hùng ca.
Các bài thơ tiêu biểu: Pac Pó hùng vó, Tức cảnh
Pác Pó, Rằm tháng giêng, Tin thắng trận,…
- Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (1990) tập hợp 36
bài thơ chữ Hán viết ở nhiều thời điểm, thể hiện nhiều
đề tài khác nhau.
Hồ Chí Minh để lại một di sản văn chương
phong phú , độc đáo, có giá trò về nhiều mặt. Văn htơ
Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc tâmhồn và khí phách cao
đẹp của người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân
văn hóa thế giới.
Hồ Chí Minh là người đặt nền móng mở đường
cho nền văn học cách mạng Việt Nam hiện đại.
III. PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT:
Hồ Chí Minh là người bước đầu đặt nền móng
và mở đường cho nền văn học Cách mạng. Văn chương
của Hồ Chí Minh có phong cách đa dạng mà thống
nhất, đã kết hợp được sâu sắc tự bên trong mối quan hệ
giữa chính trò và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật,
giữa truyền thống và hiện đại. mỗi thể
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
1
Khi sang Pháp, Khải Đònh đã phô bày tất cả sự ngu
dốt, lố lăng của một tên vua bù nhìn vô dụng khiến cho
những người Việt Nam yêu nước hết sức bất bình.
Thời gian này, NAQ đang hoạt động Cách
mạng ở Pháp. Người viết nhiều tác phẩm công kích
chuyến đi nhục nhã của Khải Đònh như “Con rồng tre”,
“Sở thích đặc biệt”, “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”,
…Vi hành là tác phẩm cuối cùng nằm trong loạt tác
phẩm đó, được đăng trên báo nhân đạo của Đảng cộng
sản VN năm 1923.
2. MỤC ĐÍCH SÁNG TÁC :
Vi hành chủ yếu là vạch trần bộ mặt xấu xa của
Khải Đònh - một tên vua bù nhìn vô dụng
Vi hành cũng đả kích mạnh mẽ bọn thực dân
Pháp với các chính sách “khai hóa” thâm độc và hành
động vi phạm nhân quyền trắng trợn của chúng .
3. NHAN ĐỀ:
+ Tiếng Pháp:Incognito nghóa là đội một cái tên
giả không để ai biết. Người Pháp dùng từ này ngụ ý
chê bai, khinh miệt những kẻ có hành vi mờ ám,lén lút
+Tiếng Hán: “Vi Hành”có nghóa là cuộc đi kín
của những bậc tôn q trong xã hội xưa vì những mục
đích cao thượng.
thực dân Pháp ở các phương diện:
Nhan đề có ý nghóa sâu sắc: Châm biếm hành
vi “vi hành”của Khải Đònh
4. CHỦ ĐỀ :
Bằng bút pháp trào phúng bật thầy và hình thức
viết thư,tác giả đã phê phán một cách đích đáng sự
lố lăng kệch cõm của tên vua bù nhìn KĐ ,vạch
2
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
+ Bắt dân thuộc đòa uống rượu cồn,hút thuốc
phiện,thi hành chính sách ngu dân
+ Bọn mật thám bủa vây,theo dõi,bắt bớ những
người Việt Nam yêu nước đang hoạt động tại Pháp
-Tác giả vạch ra cho thấy các hoạt động văn hóa xã
hội Pháp
+Báo chí Pháp chỉ chạy theo thò hiếu tầm
thường :giết người,cướp của…
+Thanh niên pháp sống hời hợt ,nông nổi ,háo danh
.
+Thái độ kỳ thò chủng tộc :mặt bủng như vỏ canh .
→
Bằng tình tiết khôi hài,tác giả vach ra những thủ
đoạn xảo trá của chính phủ pháp cuộc sống của thanh
niên pháp thời bấy giờ.
B. Đặc sắc nghệ thuật:
* Tạo tình huống nhầm lẫn:
-Đôi thanh niên pháp tửơng nhầm NAQ là KĐ tái
hiện chân dung kòch cởm lố lăng của KĐ là do
cách nhìn ,sự đánh gía của người p chứ k phải của
tác giả tăng sức thuyết phục c01 tính khách quan
-Người pháp nhầm những ai có màu da vàng đều
là đế An Nam đón tiếp bằng thái độ kỳ thò chủng
tộc (hắn đấy xem hắn kìa)
-Chính phủ Pháp nhầm k biết ai là KĐ nên phái
người theo hộ giá “thầm kín ,rụt rè ,vô tư và hết
sức tận t “cho mật thám theo dõi những người
VN yêu nước, một sự vi phạm về nhân quyền ngay
và chất trí tuệ trong truyện ký của Nguyễn Ái Quốc viết
bằng tiếng Pháp.I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
3
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Tháng 8.1942, Nguyễn ái Quốc lấy tên là HCM lên đường sang TQ để tranh thủ sự viện trợ của thế giới.
Sau nửa tháng đi bộ đnế Túc Vinh, Quảng Tây (29 – 8-1942), Người bò chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam.
Mười ba tháng ở tù, tuy bò đày ải vô cùng cực khổ, HCM avn64 làm thơ. Người đã sáng tác 133 bài thơ bằng chữ
Hán ghi trong một cuốn sổ tay mà Người đặt tên là Ngục trung nhật kí
II .NỘI DUNG CƠ BẢN .
1 .Ghi lại chân thực bộ mặt đen tối của chế độ nhà tù XHTQ .
-Chế độ nhà tù:cực kỳ dã man ,đày đoạ tù nhân ,hối lộ :(Bốn tháng rồi,chia nước… )
-XHTQ:Quyền sống của con người k được bảo đảm
+Đại biểu nước láng giềng đi công tác cũng bi bắt (đường đời hiểm trở)
+Nhân đạo TQ bò bắt phi lí (cháu bé trong nhà lao Tân Dương )
2.Bức chân dung tinh thần tự hoạ của HCM .
-Tinh thần kiên cường bất khuất (bài tựa NKTT)
-Tâm hồn mềm mại ,tinh tế ,nhạy cảm với mọi biến thái của thiên nhiên và lòng người (ngắm
trăng,chiều tối …)
-Phong thái ung dung tự tại ,hết sức thoải mái như bay lượn ở ngoài nhà tù (pha trò ,quá trưa ..)
-Nóng lòng sốt ruột như lửa đốt ,khắc khoải ngóng về tự do ,nhìn về tổ quốc (ốm nặng )
-Lạc quan tin tưởng :luôn hướng về bình minh và mặt trời hồng :(giải đi sớm )
-Trằn trọc lo âu không bao giờ nguôi nỗi đau lớn của dân tộc và nhân loại nhiều đêm một mình đối diện
với vầng trăng?(đêm thu ,đêm lạnh …)
III. NGHỆ THUẬT
1.Phong cách đa dạng:
Hồn nhiên, bình dò ,cổ điển mà hiện đại ,chiến só mà thi só ,luôn ẩn hiện nụ cười thoải mái trẻ trung pha
hình ảnh ẩn dụ về người tù bị lưu đày trên con đường khổ ải mờ mịt vạn dặm:
“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trơi nhẹ giữa tầng khơng”
2. Sinh hoạt của con người nơi xóm núi:
Trời tối rồi, tù nhân bị giải đi qua một xóm núi. Có bóng người (thiếu nữ). Có cảnh làm ăn bình dị: xay ngơ.
Có lò than đã rực hồng (lơ dĩ hồng).
Các chi tiết nghệ thuật ấy làm hiện lên một mái ấm gia đình, một cảnh đời dân dã, bình dị, “ấm áp”. Nếu
chim trời, áng mây chiều đồng điệu với tâm hồn nhà thơ thì cảnh xay ngơ của thiếu nữ và lò than rực hồng kia như
đang làm vợi đi ít nhiều nỗi đau khổ của người đi đày khi qua nơi miền sơn cước xa lạ. Tương phản với màn đêm
bao trùm khơng gian, cảnh vật là “lò than đã rực hồng”. Tứ thơ vận động từ bóng tối hướng về ánh sáng. Nó cho ta
thấy, trong cảnh ngộ cơ đơn, nặng nề, bị tước mất tự do, bị ngược đãi, người chiến sĩ cách mạng, nhà thơ Hồ Chí
Minh vẫn gắn bó, chan hòa, gần gũi với nhịp đời thường cần lao. Câu thơ thứ 3 dịch chưa được hay. Chữ “cơ em”
hơi lạc điệu. Thêm vào một chữ “tối” đã mất đi ý vị “ý tại ngơn ngoại” vẻ đẹp hàm súc của thơ chữ Hán cổ điển:
“Cơ em xóm núi xay ngơ tối
Xay hết lò than đã rực hồng”
Bài thơ có cảnh bầu trời và xóm núi, có áng mây, cánh chim chiều. Chim về rừng, mây lơ lửng. Có thiếu nữ
xay ngơ và lò than hồng. Đằng sau bức tranh cảnh chiều tối là một nỗi niềm buồn, cơ đơn, là một tấm lòng hướng về
nhân dân lao động, tìm thấy trong khoảnh khắc chiều tối. Nghệ thuật mượn cảnh để tả tình. Điệu thơ nhè nhẹ, man
mác bâng khng, đậm đà màu sắc cổ điển. Tinh tế trong biểu hiện, đậm đà trong biểu cảm là vẻ đẹp trữ tình của bài
thơ “Chiều tối” này… Rất nhân hậu, rất người.
I
“Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
5
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
II
“Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
Giang tâm như kính, tịnh vơ trần,
Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân”
Hồ Chí Minh
I. XUẤT XỨ, HOÀN CẢNH SÁNG TÁC
“Nhật ký trong tù” gồm có 133 bài thơ, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Bài thơ “Mới ra tù, tập leo núi” khơng nằm trong
số 133 bài thơ ấy. Một số tài liệu cho biết, ngày 10/9/1943, tại nhà giam Liễu Châu, Hồ Chí Minh đã giành được tự
do. Ra tù, chân yếu, mắt mờ, tóc bạc. Người đã kiên trì tập luyện để phục hồi sức khỏe. Tập leo núi, và khi leo đến
đỉnh núi, Bác cao hứng viết bài thơ này. Bài tứ tuyệt “Mới ra tù, tập leo núi” được Bác Hồ viết vào rìa một tờ báo
Trung Quốc, kèm theo dòng chữ: “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng cơng tác. Ở bên này bình n”.
Ngồi mục đích bí mật nhắn tin về nước, bài thơ thể hiện một tình u nước và thương nhớ đồng chí, bạn bè của Hồ
Chủ tịch.
II. PHÂN TÍCH
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
6
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
1. H ai câu đầu: Bức tranh sơn thủy hữu tình .
Hai câu đầu là hai câu thơ tuyệt bút tả cảnh sơn thủy hữu tình. Có mây, núi ơm ấp quấn qt. Có lòng sơng
như tấm gương trong, khơng gợn một chút bụi nào! Câu thơ dịch khá hay:
“Núi ấp ơm mây, mây ấp núi,
Lòng sơng gương sáng bụi khơng mờ”
Ba nét vẽ chấm phá đã lột tả được cái hồn cảnh vật. Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ, nhân hóa và so sánh đã làm hiện
lên phong cảnh sơn thủy hùng vĩ và hữu tình. Bức tranh sơn thủy được miêu tả ở tầm cao và xa, đậm đà màu sắc cổ
điển. Trong bối cảnh lịch sử bài thơ ra đời, hình ảnh mây, núi, lòng sơng mang hàm nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho
tâm hồn trong sáng, cao cả và thủy chung của con người.
2. H ai câu cuối : Tâm trạng của tác giả
Hai câu 3, 4 thể hiện một tâm trạng rất điển hình của người chiến sĩ cách mạng đang ở nơi đất khách q
người. Từ Tây Phong Lĩnh (Liễu Châu) đến Nam thiên là mn dặm xa cách. Vừa leo núi, dạo bước mà lòng bồi hồi,
bồn chồn, khơng n dạ. Leo núi đến tầm cao rồi ngóng nhìn xa (dao vọng) trời Nam, q hương đất nước mà lòng
Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về…
(…) Nghe gió xối trên cành cây ngọn lá
Nghe mênh mang sức khỏe của trăm lồi”
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
7
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Người chiến sĩ trẻ lần đầu bị thực dân Pháp bắt bớ, giam cầm. Hầu như suốt đêm ngày thao thức “lắng
nghe” những âm thanh, “những tiếng đời lăn náo nức” lay gọi. Tâm tư xao xuyến, bồi hồi, mênh mang. Trong hồng
hơn, tiếng dơi đập cánh nghe sao mà “vội vã”. Và giữa đêm khuya, một tiếng “lạc ngựa”, một cái “rùng chân”, một
“tiếng guốc đi về”, tiếng “gió xối” - tất cả là âm thanh cuộc đời, gần gũi, thân quen, nhưng giờ đây trong cảnh thân tù
những âm thanh ấy mang một ý nghĩa vơ cùng mới mẻ, đó là tiếng gọi tự do, là tiếng lòng sơi sục, trẻ trung và căng
đầy nhựa sống.
“Tâm tư trong tù” là sự thể hiện một cách chân thật, cảm động những suy ngẫm về tự do, để tự vượt mình, tự
khẳng định mình của người chiến sĩ cách mạng trong xiềng xích uất hận. Phút mơ hồ về “một trời rộng rãi”, về một
“cuộc đời sây hoa trái”, về “hương tự do thơm ngát cả ngàn ngày” đã bị nhà thơ tự phủ định. Cả một dân tộc đang
quằn quại trong xích xiềng nơ lệ “đọa đày trong những hố thẳm khơng cùng”. Đất nước đang bị thực dân Pháp thống
trị. Dù ở trong song sắt hay ở ngồi song sắt nhà tù, mỗi con người Việt Nam đều là vong quốc nơ. Nhận thức mới về
tự do được diễn tả qua hai hình ảnh tương phản đầy ý nghĩa:
“Tơi chiều nay, giam cấm hận trong lòng,
Chỉ là một giữa lồi người đau khổ.
Tơi chỉ một con chim non bé nhỏ
Vứt trong lồng con giữa một lồng to”
“Con chim non bé nhỏ” ấy đang bay đi trong bão táp. Cũng như trong bài thơ “Trăng trối” viết tại nhà tù Lao Bảo
cuối năm 1940, Tố Hữu tự nhận mình là “tên lính mới”: “Và bên bạn, chỉ là tên lính mới – Gót chân tơ chưa dày dạn
phong trần”.
Vấn đề sống và chết được đặt ra một cách nghiêm túc, quyết liệt để khẳng định nhân cách và lẽ sống cao đẹp
của người chiến sĩ cách mạng trong cảnh tù đày. Ánh sáng lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, mẫn cảm chính trị… đã giúp
nhà thơ trẻ vượt lên trên một tầm vóc mới. Khơng phải đến Tố Hữu mới có bài học về “uy vũ bất năng khuất” mà từ
Ngày 19/8/1945 chính quyền ở thủ đơ Hà Nội đã về tay nhân dân ta. 23/8/1945, tại Huế trước hàng vạn đồng
bào ta, vua Bảo Đại thối vị. 25/8/1945, gần 1 triệu đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn quật khởi đứng lên giành chính
quyền. Chỉ khơng đầy 10 ngày, Tổng khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám đã thành cơng rực rỡ.
Cuối tháng 8/1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo bản Tun
ngơn Độc lập. Và ngày 2/9/1945; tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hồ, đọc bản Tun ngơn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta, khai sinh ra nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ ngun mới Độc lập, Tự do.
II. BỐ CỤC
1. Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tun ngơn Độc lập (Từ đầu đến “khơng ai chối cãi được”)
2. Bản cáo trạng tội ác của thực dân Pháp và q trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta (“Thế mà hơn
80 năm nay… Dân tộc đó phải được độc lập!”)
3. Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tun bố với thế giới (Phần còn lại).
III. PHÂN TÍCH
1. Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tun ngơn Độc lập là khẳng định quyền bình đẳng, quyền
được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Đó là những quyền khơng ai có thể xâm phạm
được; người ta sinh ra phải ln ln được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Hồ Chủ Tịch đã trích dẫn 2 câu nổi tiếng trong 2 bản Tun ngơn của Mĩ và Pháp, trước hết là để khẳng định
Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn, cao đẹp của thời đại, sau nữa là “suy rộng ra…” nhằm nêu cao một lý
tưởng về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của các dân tộc trên thế giới.
Cách mở bài rất đặc sắc, từ cơng nhận Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng thời đại đi đến khẳng định Độc
lập, Tự do, Hạnh phúc là khát vọng của các dân tộc. Câu văn “Đó là những lẽ phải khơng ai chối cãi được” là sự
khẳng định một cách hùng hồn chân lí thời đại: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, Bình đẳng của con người, của các dân
tộc cần được tơn trọng và bảo vệ.
Cách mở bài rất hay, hùng hồn trang nghiêm. Người khơng chỉ nói với nhân dân Việt Nam ta, mà còn tun
bố với thế giới. Trong hồn cảnh lịch sử thời bấy giờ, thế chiến 2 vừa kết thúc, Người trích dẫn như vậy là để tranh
thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ thế giới, nhất là các nước trong phe Đồng minh, đồng thời ngăn chặn âm
mưu tái chiếm Đơng Dương làm thuộc địa của Đờ Gơn và bọn thực dân Pháp hiếu chiến, đầy tham vọng.
2. a. Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp.
- Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước
ta, áp bức đồng bào ta”.
cách chính luận của Hồ Chí Minh
1. Cùng với bài thơ “Sơng núi nước Nam” của Lý Thường Kiệt, “Bình Ngơ đại cáo” của Nguyễn Trãi, bản
“Tun ngơn độc lập”, phản ánh đúng diện mạo tinh thần và truyền thống chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam
trong trường kỳ lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước.
2. Một lối viết ngắn gọn (950 từ). Có câu văn 9 từ mà nêu đủ nêu đúng một cục diện chính trị: “Pháp chạy,
Nhật hàng, vua Bảo Đại thối vị”. Những bằng chứng lịch sử về 10 tội ác của thực dân Pháp và q trình đấu tranh
giành độc lập của nhân dân ta là khơng ai chối cãi được. Sử dụng điệp ngữ tạo nên những câu văn trùng điệp đầy ấn
tượng: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người u nước thương nòi của
ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”. Cách dùng từ sắc bén: “cướp khơng ruộng đất”, “giữ
độc quyền in giấy bạc”, “quỳ gối đầu hàng… rước Nhật”, thốt ly hẳn… xố bỏ hết… xố bỏ tất cả…”. Hoặc
“chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, v.v…
Nghệ thuật lập luận chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nơ lệ của Pháp hơn 80
năm nay/ một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay → dân tộc đó phải được tự
do! Dân tộc đó phải được độc lập!” Một luận điểm, một lý lẽ được trình bày bằng 2 luận cứ, dẫn đến 2 kết luận
khẳng định được diễn đạt trùng điệp, tăng cấp.
Tóm lại, “Tun ngơn độc lập” của Hồ Chí Minh góp phần làm giàu đẹp lịch sử và nền văn học dân tộc, tơ
thắm tinh thần u nước, khát vọng độc lập, tự do của nhân dân ta./.
I. TÁC GIẢ VÀ XUẤT XỨ
1. Quang Dũng (1921 – 1988) tham gia kháng chiến, vừa làm lính đánh giặc vừa làm thơ. Một hồn thơ tài
hoa, bút pháp lãng mạn. Tập thơ tiêu biểu nhất của ơng: “Mấy đầu ơ”, trong đó có bài “Tây Tiến” viết năm 1948.
2. Tây Tiến là phiên hiệu của một đơn vị qn đội ta được thành lập vào đầu năm 1947, gồm nhiều thanh
niên học sinh Hà Nội, chiến đấu trên núi rừng miền Tây Thanh Hóa, tỉnh Hòa Bình tiếp giáp với Sầm Nứa, Lào.
3. Sau hơn một năm chiến đấu trong đồn binh Tây Tiến, Quang Dũng đi nhận nhiệm vụ mới, mùa xn
1948, viết “Nhớ Tây Tiến” sau đổi thành “Tây Tiến”.
II. CHỦ ĐỀ
Bài thơ nói lên nỗi nhớ và niềm tự hào về đồng đội thân u, những chiến sĩ hào hoa, dũng cảm, giàu lòng
u nước trong đồn binh Tây Tiến đã chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc.
III. NỘI DUNG
1. Dòng sơng Mã và đồn binh Tây Tiến gắn bó với tâm hồn nhà thơ bao nỗi nhớ chơi vơi, nhớ mãi, nhớ
khơng bao giờ ngi:
Lạc quan và u đời với những giấc mộng và mơ tuyệt vời. Bao chiến sĩ đã ngã xuống trên chiến trường, “đã
về đất” với manh chiếu – áo bào đơn sơ. Coi cái chết nhẹ tựa lơng hồng, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi xanh, đời xanh
cho Độc lập, tự do của Tổ quốc.
Đoạn thơ như một tượng đài bi tráng về anh bộ đội Cụ Hồ, những người con thân u của Hà Nội đã “Quyết
tử cho Tổ quốc quyết sinh”:
“Tây Tiến đồn binh khơng mọc tóc,
Qn xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sơng Mã gầm lên khúc độc hành!”
5. Ý thơ cổ “Nhất khứ bất phục hồn” được Quang Dũng diễn tả rất hay, rất xúc động ở khổ cuối. Thương
tiếc, tự hào, man mác:
“Tây Tiến người đi khơng hẹn ước.
Đường lên thăm thẳm một chia phơi
Ai lên Tây Tiến mùa xn ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xi”
Hoàng Cầm
I. TÁC GIẢ, XUẤT XỨ
1. Hồng Cầm - nhà thơ Kinh Bắc, nổi tiếng tài hoa. Có nhiều kịch thơ trước năm 1945: “Kiều Loan”; “Hận
Nam Quan”, “Lên đường”. Một số tập thơ, tiêu biểu nhất là “Mưa Thuận Thành”, “Về Kinh Bắc”…
Kháng chiến bùng nổ, Hồng Cầm đi bộ đội, làm cơng tác văn nghệ trong Qn đội.
2. Một đêm tháng 4/1948, tại Việt Bắc, được trực tiếp nghe tin giặc đánh phá q hương mình, Hồng Cầm
xúc động và ngay đêm ấy viết bài thơ “Bên kia sơng Đuống”, một trong những bài thơ hay nhất của ơng.
II. CHỦ ĐỀ
Bài thơ thể hiện tình u mến, thương nhớ và tự hào đối với q hương kinh Bắc; căm giận qn xâm lược
đang giày xéo q hương; niềm tin vào một ngày mai giải phóng, q hương trở lại thanh bình.
“Q hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khơ
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu…”
Xưa kia, vùng Thuận Thành, bên kia sơng Đuống, q hương thân u của nhà thơ là một vùng giàu đẹp, có
hương lúa nếp “thơm nồng”, có làng tranh Đơng Hồ nổi tiếng, sự kết tinh những tinh hoa văn hóa cổ truyền giàu bản
sắc dân tộc:
“Bên kia sơng Đuống
Q hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đơng Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
Nay giặc kéo đến thì “Ruộng ta khơ – Nhà ta cháy”, điêu tàn, tan tác, đau thương. Nỗi tang tóc trùm lên, đè
nặng mọi kiếp người. Hạnh phúc và ước mơ bị giày xéo, bị chà đạp. Sự sống bị hủy diệt đến kiệt cùng:
“Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang.
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đơi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu”
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
12
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Tranh Đơng Hồ trong thơ Hồng Cầm khơng chỉ là nét đẹp riêng rất tự hào của q hương mình mà còn là
một biểu tượng của hạnh phúc, đồn tụ, n vui trong thanh bình, là nỗi đau trước sự tàn phá, điêu tàn, tan tác của
một miền văn hóa lâu đời thời máu lửa.
Thuận Thành, Kinh Bắc có núi sơng mĩ lệ, chùa chiền thắng cảnh với bao lễ hội tưng bừng mang theo bao
huyền thoại, sự tích thần kỳ, với những gác chng, những tháp, những tượng Phật cổ kính bao đời nay. Chùa Phật
Tích, núi Thiên Thai, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, tượng Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Ca dao: “Dù ai đi đẩu đi
đâu - Cứ nhìn thấy tháp Chùa Dâu mà về”. Tục ngữ: “Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu
q cha đất mẹ”. Bài thơ “Bên kia sơng Đuống” giúp ta cảm nhận sâu hơn ý tưởng của Hơme. Con sơng Đuống và
Thuận Thành, Kinh Bắc là q hương nhà thơ. Nhưng người đọc thấy vơ cùng thân thiết gắn bó với mình. Cái ý vị,
cái hay của bài thơ là ở chỗ ấy. Câu thơ dào dạt theo cảm xúc rất hồn nhiên mà giàu nhạc điệu. Nhạc điệu ngọt ngào
của dân ca Quan họ. Sâu lắng, thiết tha, bồi hồi là âm hưởng, là sắc điệu trữ tình đã thấm sâu vào hồn ta tình u q
hương đất nước. “Bên kia sơng Đuống” xứng đáng là kiệt tác của thi ca Việt Nam hiện đại.
Giáo viên Nguyễn Thò Thúy Liễu
13
Trường THPT Phú Thònh Đề cương ôn tập Văn học 12
Nguyễn Đình Thi
I.TÁC GIẢ:
Tên tuổi Nguyễn Đình Thi gắn liền với những ca khúc như “Diệt phát xít”, “Người Hà Nội”, với tiểu thuyết
“Xung kích”, “Vỡ bờ”,… với một số vở kịch, với các tập thơ: “Người chiến sĩ”, “Dòng sơng trong xanh”, “Tia
nắng”,… Thành tựu nổi bật nhất của ơng là thơ: cảm xúc dồn nén, hàm súc, ngơn ngữ và hình ảnh đầy sáng tạo, tính
nhạc phong phú, hấp dẫn…
II. XUẤT XỨ
Bài thơ “Đất nước” in trong tập thơ “Người chiến sĩ”. Nguyễn Đình Thi đã sáng tác bài thơ này trong một
thời gian dài từ 1948 – 1955. Phần đầu khơi nguồn cảm hứng từ 2 bài thơ “Sáng mát trong” (1948) và “Đêm mít
tinh” (1949).
III. CHỦ ĐỀ
Bài thơ nói lên lòng u nước và niềm tự hào dân tộc; nghĩ về đất nước theo chiều dài lịch sử; tầm cao của
giống nòi; quyết chiến đấu và hy sinh để bảo vệ và xây dựng đất nước u q.
IV. NỘI DUNG
1. u những mùa thu q hương :
- Mùa thu Hà Nội q vãng đẹp mà buồn:
“Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu khơng ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.
- Mùa thu chiến khu, đất nước và con người dào dạt một sức sống và niềm vui thiết tha:
“Gió thổi rừng tre phấp phới.
Trời thu thay áo mới