ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THU TRANG
THáA THUËN PH¢N CHIA DI S¶N THõA KÕ
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THU TRANG
THáA THUËN PH¢N CHIA DI S¶N THõA KÕ
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số
: 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Phương
HÀ NỘI - 2020
7
THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
1.1.
Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế"
7
1.2.
Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
10
1.2.1. Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
10
1.2.2. Mục đích, nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
28
1.2.3. Hình thức thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
30
1.2.4. Hậu quả pháp lý trong trường hợp vi phạm các điều kiện có
Người thừa kế đang ở nước ngoài vào thời điểm thỏa thuận
52
phân chia di sản thừa kế (người Việt Nam và/hoặc người
nước ngoài đang ở nước ngoài)
2.2.
Người thừa kế vắng mặt tại thời điểm thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế
56
2.3.
Đại diện cho người thừa kế là người chưa thành niên, người
57
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành
vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
2.4.
Thực hiện nghĩa vụ tài sản để lại của người chết, quyền của chủ
59
nợ liên quan đến di sản thừa kế và chủ nợ của người thừa kế
66
nước ngoài
3.2.
Về đại diện trong thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
67
3.3.
Về thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản của người
69
chết để lại
3.4.
Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di
70
sản thừa kế, chủ nợ của người thừa kế
3.5.
Về di sản dùng vào việc thờ cúng
71
3.6.
VPCC
: Văn phòng công chứng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
bảng
2.1
Phí công chứng tính theo giá trị di sản
45
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự
Việt Nam và luôn được pháp luật quan tâm, bảo hộ. Chế định này điều chỉnh
mối quan hệ xã hội phổ biến và gần gũi đối với nhân dân. Nhận thức được vai
trò đặc biệt đó của thừa kế, từ những ngày đầu dựng nước, pháp luật về thừa
kế đã được ghi nhận trong nhiều quy định như trong chương "Điền sản" của
Bộ Quốc triều Hình luật dưới triều vua Lê Thái Tổ. Sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945, trải qua nhiều biến cố lịch sử, các quy định về thừa kế đã
Pháp luật dân sự nước ta luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên,
song việc thỏa thuận này phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Đối với
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, nội dung và hình thức của nó cần phải
bảo đảm chặt chẽ, đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Hiện nay, pháp luật đã có những quy định tương đối chi tiết và tiến bộ
hơn liên quan đến thỏa thuận phân chia di sản thừa kế so với trước đây, nhưng
do tính chất phức tạp của quan hệ thừa kế mà thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn
còn những hạn chế, chưa dự trù hết được những tình huống phát sinh trên thực tế
nên việc thỏa thuận phân chia di sản không tránh khỏi bất cập, hạn chế.
Do vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thừa kế nói chung
và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng, để phát hiện những bất cập
trong việc áp dụng và đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện,
nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế là rất cần thiết.
Vì những lẽ trên, tác giả lựa chọn đề tài "Thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế theo pháp luật Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thừa kế là chế định pháp luật phức tạp, có lịch sử hình thành và phát
triển lâu dài, thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học pháp lý.
2
Liên quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, có một
số sách chuyên khảo nổi tiếng, có thể kể đến như: "Bình luận khoa học về
thừa kế trong luật dân sự" của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện; "Luật thừa kế Việt
Nam - Bản án và bình luận bản án" của Tiến sĩ Đỗ Văn Đại; "Hỏi đáp về
pháp luật thừa kế" của Luật sư Trần Hữu Bền và Tiến sĩ Đinh Văn Thành;
"Luật Dân sự Việt Nam - Bình giải và áp dụng Luật Thừa kế" của Tiến sĩ
Phùng Trung Tập; "Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Minh Tuấn...
gia đình (HN&GĐ) năm 2014; Luật Đất Đai năm 2013, …và một số văn bản
hướng dẫn thi hành luật. Nội dung luận văn giới hạn trong vấn đề lý luận về
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được pháp luật Việt Nam quy định.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, luận văn tập trung
nghiên cứu các vấn đề sau:
Thứ nhất, những vấn đề lý luận liên quan đến quy định về thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế, bao gồm: khái niệm thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế; điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và các vấn
đề pháp lý khác có liên quan.
Thứ hai, nêu và phân tích thực trạng thi hành pháp luật Việt Nam về
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hiện nay.
Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất để thực hiện hiệu quả quy
định của pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu,
tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, tác giả đặt các vấn đề về thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế trong mối liên hệ mật thiết với nhau, không
phân tích riêng lẻ.
4
Phương pháp phân tích, diễn giải: Những phương pháp này được sử
dụng trong luận văn để làm rõ các quy định của pháp luật về thừa kế nói
chung và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng.
Phương pháp đánh giá, so sánh: Những phương pháp này được tác giả
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế.
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế hiện nay.
Chương 3: Một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật Việt Nam về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
1.1. Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế"
* Khái niệm "di sản thừa kế":
Có nhiều cách hiểu về di sản thừa kế. Nhưng đến nay, vẫn chưa có
một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm cụ thể về di sản thừa kế.
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học, di sản thừa kế là tài sản của
người chết để lại cho người còn sống kể từ thời điểm mở thừa kế [32, tr. 50].
Theo tác giả Phan Văn Nghĩa, di sản thừa kế là "toàn bộ tài sản có giá
trị vật chất hoặc giá trị tinh thần cùng với các nghĩa vụ về tài sản được lưu
truyền nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác" [14, tr. 7]. Vậy, theo quan
điểm này, di sản thừa kế không chỉ bao gồm các tài sản có giá trị vật chất
hoặc tinh thần mà còn bao gồm các nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại.
Dưới góc độ pháp lý, di sản thừa kế cũng được cụ thể hóa tại Điều 612
BLDS năm 2015: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của
người chết trong tài sản chung với người khác" [24, Điều 612]. Theo tinh thần
của BLDS năm 2015, khi một cá nhân chết đi có di sản để lại và có các nghĩa vụ
chưa được thực hiện thì phần di sản của người chết để lại sẽ được sử dụng để
thanh toán các nghĩa vụ đó trước, phần còn lại mới chia cho những người thừa kế.
Từ đó, có thể rút ra, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một hợp
đồng dân sự giữa những người thừa kế về việc chấm dứt tình trạng sở hữu
chung đối với di sản thừa kế sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu
có) từ phần di sản do người chết để lại.
* Ý nghĩa của sự thỏa thuận:
Trên thực tế, việc phân chia di sản thừa kế thông thường được thực
hiện thông qua sự thỏa thuận giữa những người thừa kế. Chỉ trong trường hợp
những người thừa kế không tự thỏa thuận được với nhau thì họ mới yêu cầu
phân chia di sản tại Tòa án và đó thường là những tranh chấp có tính chất
8
phức tạp. Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án có thể có những hệ lụy và
nhược điểm sau đây:
- Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án ảnh hưởng đến tình cảm của
các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người dân ở các nước Á Đông như
Việt Nam.
- Danh dự của cả gia đình có thể bị ảnh hưởng. Ví dụ bố hoặc mẹ mới
chết mà anh, chị, em đã tranh chấp tài sản được bố, mẹ để lại tại Tòa án sẽ
khiến hàng xóm láng giềng dị nghị, đàm tiếu.
- Việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế tại Tòa án kéo dài, phát
sinh nhiều chi phí và tốn nhiều công sức hơn so với việc tự thỏa thuận. Một
vụ án có thể kéo dài đến nhiều tháng, năm, đặc biệt là những vụ việc phức tạp
có thể được giải quyết qua nhiều cấp khác nhau.
- Chi phí để giải quyết một vụ án về thừa kế bao gồm: án phí, chi phí
thuê luật sư, chi phí đi lại, chi phí đi xác minh, thu thập chứng cứ… trong đó,
án phí được xác định theo % giá trị tài sản tranh chấp, tài sản có giá trị càng
lớn thì án phí cho vụ án đó càng cao.
- Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án sẽ phải thực hiện theo đúng
dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015, bao gồm các điều kiện
về chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức của thỏa thuận.
1.2.1. Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền và
nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, trong đó có quyền thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế.
* Tư cách chủ thể của người thừa kế:
Theo nguyên lý chung, khi tham gia vào các giao dịch dân sự, các chủ
thể phải có đủ tư cách chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực
hành vi dân sự. Tuy nhiên, pháp luật thừa kế không đặt ra điều kiện về tư cách
chủ thể đối với người thừa kế vì các lý do sau:
- Di sản mà người thừa kế thực chất được hưởng là số tài sản còn lại
sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại (nếu có).
10
Người thừa kế có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ này nhưng không vượt
quá phần tài sản mà họ nhận được. Nếu người thừa kế không có hoặc chưa có
đủ năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ (cha, mẹ
hoặc người giám hộ) sẽ đại diện cho họ dùng phần tài sản đó để thực hiện
nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại (nếu có). Vậy nên, không yêu cầu về
mặt năng lực chủ thể đối với người thừa kế.
- Người chưa thành niên hay người mất năng lực hành vi dân sự có thể
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thông qua người đại diện theo pháp luật.
Việc quản lý tài sản của những đối tượng này cũng do người đại diện theo
pháp luật của họ thực hiện và có sự giám sát chặt chẽ theo quy định của pháp
luật để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của họ.
- Người có quyền thừa kế vắng mặt tại nơi cư trú hoặc bị Tòa án tuyên
bố là mất tích thì việc quản lý tài sản của những người này sẽ được thực hiện
ai bao nhiêu phần trong số tài sản thuộc sở hữu của mình mà không phụ thuộc
vào việc người được hưởng thừa kế có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi
dưỡng hoặc thân thích với người lập di chúc hay không.
Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân (người trong hàng thừa
kế/ngoài hàng thừa kế) hoặc không phải là cá nhân (cơ quan/tổ chức).
* Người thừa kế theo di chúc là cá nhân:
Điều 613 BLDS năm 2015 quy định: "Người thừa kế là cá nhân phải là
người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm
mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết" [24, Điều 613].
Theo quy định của điều luật trên, cá nhân chỉ có thể trở thành người
thừa kế khi người đó thuộc một trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất, phải là người "còn sống vào thời điểm mở thừa kế".
Đặc trưng cơ bản của chế định thừa kế chính là sự tiếp nối quyền sở
hữu tài sản từ người đã chết sang người còn sống nên người tiếp nhận quyền
sở hữu tài sản đương nhiên phải là người "còn sống" vào "thời điểm mở thừa
kế". Có một số trường hợp tuy là một người đã chết trên thực tế nhưng họ lại
còn sống vào thời điểm mở thừa kế.
12
Mặt khác, cũng có trường hợp, người thừa kế không hiện diện vào
thời điểm mở thừa kế do mất tích nhưng người đó chưa được Tòa án tuyên bố
là đã chết nhưng ngày được coi là đã chết của họ được xác định sau ngày mở
thừa kế thì họ vẫn được coi là còn sống vào thời điểm mở thừa kế và có quyền
hưởng di sản. Nếu người thừa kế bị tuyên bố đã chết trước thời điểm mở thừa
kế mà sau này họ còn sống và quay trở về trước khi di sản được phân chia thì
người này được coi là còn sống và có quyền hưởng di sản nhưng họ phải yêu
cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố chết đối với mình.
Thứ hai, phải được "sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
thống với họ.
Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan
hệ cha, mẹ, con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với đứa trẻ
được sinh ra mặc dù có cùng mã gen.
Với trường hợp con được sinh ra do mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo, thì là con chung của vợ, chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con
được sinh ra.
Có thể thấy, nếu như trước đây, quan hệ huyết thống là căn cứ vững
chắc nhất để xác định cha, mẹ, con thì trong xu thế phát triển hiện đại của xã
hội, huyết thống không còn là cơ sở để xác định cha, mẹ, con trong mọi
trường hợp. Vì thế, không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống thì người
con mới được thừa hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ.
* Người thừa kế theo di chúc không là cá nhân:
Những chủ thể không là cá nhân (cơ quan/tổ chức) cũng có quyền
hưởng di sản thừa kế theo di chúc nhưng phải "tồn tại vào thời điểm mở thừa
kế". Trường hợp người thừa kế là pháp nhân, khi xác định tình trạng tồn tại
hay không tồn tại thì cần xét đến các trường hợp khác nhau. Theo quy định tại
Điều 96 BLDS năm 2015, pháp nhân chấm dứt tồn tại trong các trường hợp:
hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức, giải thể, phá sản pháp nhân.
Nếu vào thời điểm mở thừa kế, pháp nhân đã bị giải thể hoặc phá sản
thì được coi là chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại và không thể trở thành người
thừa kế. Phần di sản đáng lẽ pháp nhân đó được hưởng theo di chúc sẽ được
chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản.
15
Trong trường hợp pháp nhân chấm dứt tồn tại do hợp nhất, sáp nhập,
chia, chuyển đổi hình thức thì có hai quan điểm đối lập nhau về tình trạng
"tồn tại" theo quy định của pháp luật về thừa kế, cụ thể như sau:
hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này [24, Điều 644].
Để được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, người
thừa kế quy định tại Điều 644 nêu trên phải đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, những người này phải là những người mà người lập di chúc
không cho họ hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba
suất của một người thừa kế theo pháp luật (hai phần ba một suất theo pháp
luật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật).
Thứ hai, không thuộc trường hợp những người từ chối nhận di sản
theo quy định tại Điều 620 BLDS năm 2015.
Thứ ba, không thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng
di sản theo quy định tại Điều 621 BLDS năm 2015.
Về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc mà là con
chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì
việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ thông qua vai trò của người đại
diện hợp pháp. Lưu ý là người đại diện hợp pháp của những người này không
được phép tặng cho phần di sản của người mà mình đại diện được hưởng.
* Người được di tặng:
Tài sản dùng để di tặng là phần tài sản trong khối tài sản mà người
chết để lại, được chỉ định trong di chúc là dành phần di sản đó tặng cho người
nhất định.
Người được di tặng cũng phải đáp ứng các điều kiện chung về người
thừa kế. Người được di tặng có thể là cá nhân hoặc không phải là cá nhân.
Người được di tặng có quyền thỏa thuận phân chia di sản, họ có thể
tặng cho người khác phần di sản mà họ được nhận hoặc nhận phần di sản mà
người khác tặng cho.
17
1.2.1.2. Người thừa kế theo pháp luật