Bài thảo luận tài chính tiền tệ - Pdf 62

Trường Đại Học Thương Mại
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang vận động phát triển không ngừng đòi hỏi từng
quốc gia phải từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, để giảm khoảng
cách của sự nghèo nàn với các nước tư bản phát triển. Đặc biệt trong những
năm gần đây khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực kinh tế có thể nói là
năng động nhất trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực này
và cũng chịu ảnh hưởng của quy luật phát phát triển.
Trong mỗi một quốc gia thì vốn là không thể thiếu được, nó thúc đẩy
nền kinh tế của quốc gia đó phát triển. Đối với các nước phát triển thì có lượng
vốn vô cùng lớn và rất muốn đầu tư ra nước ngoài bằng cách có thể là đầu tư
trực tiếp và gián tiếp. Còn đối với các nước đang phát triển và các nước kém
phát triển là điêù kiện vô cùng thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong đó có Việt
Nam. Đầu tư là động lực quan trọng để tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.
Trong đó vốn đầu tư trực tiếp có tầm quan trọng đặc biệt, bởi muốn công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước cần có giải pháp để thu hút vốn.
Đặc biệt là trong thời kỳ hiện nay vấn đề này càng trở nên quan trong
hơn đối với một nước đang phát triển như Việt Nam mới bước ra từ khủng
hoảng. Chính vì vậy trong bài thảo luận này chúng tôi đề cập đến vấn đề: “Lợi
ích và bất lợi của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài. Liên hệ với thực tế
đầu tư nước ngoài ở Việt Nam?”

Thực hiện: Nhóm 5 Trang 1
Trường Đại Học Thương Mại
NỘI DUNG
I. SƠ LƯỢC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt động đầu tư nước ngoài nói
chung và hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng đang diễn ra hết sức
mạnh mẽ. nhưng đối với việt nam, đầu tư nước ngoài vẫn còn là một vấn đề hết
sức mới mẻ . do vậy để có một cái nhìn tổng thể, khai thác được những mặt
tích cực và hạn chế được những mặt tiêu cực của đầu tư nước ngoài nhằm thực

được lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định của
Luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại.
b. Phân loại đầu tư.
- Theo phạm vi quốc gia:
+ Đầu tư trong nước.
+ Đầu tư ngoài nước.
- Theo thời gian sử dụng:
+ Đầu tư ngắn hạn.
+ Đầu tư trung hạn.
+ Đầu tư dài hạn.
- Theo lĩnh vực kinh tế:
+ Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
+ Đầu tư vào sản xuất công nghiệp.
+ Đầu tư vào sản xuất nông nghiệp.
+ Đầu tư khai khoáng, khai thác tài nguyên.
+ Đầu tư vào lĩnh vực thương mại - du lịch - dịch vụ.
+ Đầu tư vào lĩnh vực tài chính.

Thực hiện: Nhóm 5 Trang 3
Trường Đại Học Thương Mại
- Theo mức độ tham gia của chủ thể quản lý đầu tư vào đối tượng mà
mình bỏ vốn:
+ Đầu tư trực tiếp.
+ Đầu tư gián tiếp.
Trên thực tế, người ta thường phân biệt hai loại đầu tư chính: Đầu tư trực
tiếp và đầu tư gián tiếp. Cách phân loại này liên quan đến việc tiếp nhận, quản
lý và sử dụng vốn đầu tư.
* Đầu tư gián tiếp: là hình thức mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn
không phải là một. Người bỏ vốn không đòi hỏi thu hồi lại vốn ( viện trợ không
hoàn lại ) hoặc không trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, họ

các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nếu nhà đầu tư nước ngoài góp
100% vốn thì doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành.
- Quyền lợi của các nhà ĐTNN gắn chặt với dự án đầu tư: Kết quả hoạt
động sản xuất kinh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của nhà đầu
tư. Sau khi trừ đi thuế lợi tức và các khoản đóng góp cho nước chủ nhà, nhà
ĐTNN nhận được phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định.
- Chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là các công ty xuyên
quốc gia và đa quốc gia ( chiếm 90% nguồn vốn FDI đang vận động trên thế
giới ). Thông thường các chủ đầu tư này trực tiếp kiểm soát hoạt động của
doanh nghiệp ( vì họ có mức vốn góp cao) và đưa ra những quyết định có lợi
nhất cho họ.
- Nguồn vốn FDI được sử dụng theo mục đích của chủ thể ĐTNN trong
khuôn khổ luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại. Nước tiếp nhận đầu tư chỉ
có thể định hướng một cách gián tiếp việc sử dụng vốn đó vào những mục đích
mong muốn thông qua các công cụ như: thuế, giá thuê đất, các quy định để
khuyến khích hay hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một lĩnh vực, một
ngành nào đó.
- Mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của Chính Phủ song có phần ít lệ thuộc
vào quan hệ chính trị giữa các bên tham gia hơn so với ODA.
- Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nước
chủ nhà, bởi nhà ĐTNN chịu trách nhiệm trực tiếp trước hoạt động sản xuất

Thực hiện: Nhóm 5 Trang 5
Trường Đại Học Thương Mại
kinh doanh của họ. Trong khi đó, hoạt động ODA và ODF ( Official
Development Foreign) thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài do hiệu quả sử
dụng vốn thấp.
II. Nước tiếp nhận đầu tư
1. Lợi ích
a, Đóng góp vốn lớn cho nền kinh tế.

Thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng có lợi, tăng thu ngân sách. Đầu tư nước ngoài đã và đang tạo ra
những ngành và sản phẩm mới có kỹ thuật, công nghệ cao, chất lượng cạnh
tranh, nhất là ngành công nghiệp, viễn thông. FDI thúc đẩy sự phát triển của
công nghiệp và các hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế Việt Nam. Hai khu vực
này có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nông nghiệp thúc đảy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng tích cực. Năm 2008, khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 44.4% giá trị sản xuất công nghiệp, trong đó
đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng cao.
f, Hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất
Đầu tư nước ngoài góp phần chủ yếu đẩy nhanh quá trình hình thành các
khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế trọng điểm, ngành công nghiệp
mũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam. FDI đã góp phần hình thành 3 vùng kinh
tế trọng điểm của 3 miền Bắc - Trung - Nam, mỗi vùng làm một khu vực tăng
trưởng nhanh, có tác dụng đầu tàu đối với kinh tế Việt Nam.
g, Khai thác hiệu quả tiềm năng tự nhiên sẵn có
Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng trong việc biến những tiềm
năng về đất đai, rừng biển và lao động Việt Nam trở thành hiện thực. Các dự
án thăm dò và khai thác dầu khí được triển khai trên vùng biển và thềm lục địa
Việt Nam trong những năm qua đã biến tiềm năng dầu khí thành sản phẩm xuất
khẩu dầu thô, biến dầu thô tư số không trở thành sản phẩm xuất khẩu có giá trị
lớn nhất của Việt Nam hiện nay. Các dự án sản xuất các mặt hàng công nghiệp
như điện tử, dệt, da, may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng, vô tuyến viễn thông
đã biến tiềm năng lao động và tay nghề của người Việt Nam thành sản phẩm
hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Thực hiện: Nhóm 5 Trang 7
Trường Đại Học Thương Mại
h, Không bị lệ thuộc vào nước đi đầu tư
Tiếp nhận FDI, không đẩy các nước vào cảnh nợ nần, không chịu sự

Trong ngành công nghiệp, công nghiệp nặng chiếm tỷ trọng lớn đặc biệt
là công nghiệp chế biến và chế tạo. Không tạo được sự phát triển đồng đều
giữa các ngành các lĩnh vực làm cho có thể nền kinh tế phát triển không cân
đối và vững trắc đòng thời tạo phân biệt các vùng miền càng trở nên rõ nét.
f, Tạo ra sự cạnh tranh gay gắt
Bên cạnh mặt tích cực sự cạnh tranh đó cũng xuất hiện nhiều yếu tố tiêu
cực ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp trong nước. Các
doanh nghiệp Việt Nam quá yếu kém về mọi mặt nếu so với các công ty liên
doanh, hay 100% vốn nước ngoài về vốn, công nghệ và đặc biệt là cách quản
lý, thiếu hẳn sự năng động và nhạy bén để thích nghi được với cơ chế thị
trường. Rõ nhất là sản xuất bia, bột giặt, dệt, da, lắp ráp điện tử, chế biến nông
sản, xi măng.
g, Các dự án và vấn đề quy hoạch
Mô hình khu công nghiệp, khu chế xuất tuy có nhiều ưu điểm, nhưng mô
hình này ở Việt Nam cũng xuất hiện những yếu tố hạn chế. Trước hết đó là xu
hướng phát triển tràn lan không theo quy hoạch, chạy theo số lượng mà chưa
tính đến hiệu quả. Ở các khu công nghiệp, khu chế xuất tổng diện tích là 9000
ha, nhưng mới lấp đầy 23% diện tích còn 77% còn lại vẫn còn chờ các chủ đầu
tư. Nước ta còn nghèo, nhưng Nhà nước đã dành hàng trăm triệu USD để xây
dựng kết cấu hạ tầng của các khu công nghiệp để mời gọi các nhà đầu tư trong
và ngoài nước, nhưng diện tích cho thuê được quá ít so với dự kiến. Không tận
dụng được nguồn lực sãn có.
III. Nước đi đầu tư
1. Lợi ích
a, Giúp sử dụng, quản lý tốt hơn các nguồn lực trong nước.
Khi các nguồn lực trong nước còn hạn chế thì việc sử dụng tiết kiệm và
có hiệu quả các nguồn lực là một tất yếu đối với chính phủ và các doanh
nghiệp trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế. Vì vậy khi các doanh nghiệp Vịêt
Nam đầu tư ra nước ngoài thì với mục tiêu là khai thác một cách có hiệu quả
các nguồn lực của nước ngoài thì nhờ đó mà các nguồn lực trong nước được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status