Thảo luận tài chính quốc tế - Pdf 62


CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI ( FDI ).
* * *
1.1.Khái niệm:
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI= Foreign Direct Investment) là hình thức
đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết
lập cơ sở sản xuất , kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm
quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
2.1.Hình thức đầu tư FDI:
• Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức song những hình thức chủ yếu là:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Là văn bản kí kết giứa 2 hoặc nhiều bên ( gọi là bên hợp doanh) quy định rõ
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đàu tư
sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một pháp nhân
Doanh nghiệp liên doanh:
Là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước
tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia
sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình
thức công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo pháp luật chung của nứơc tiếp
nhận đầu tư.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:
Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài ( tổ chức hoặc cá nhân
nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự
quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất và kinh doanh
3.1.Tác động của FDI đối với tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam:
3.1.1. Tác động tích cực: ( được đi sâu vào chi tiết ở cuối bài)
- Trong những năm qua đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một động lực quan
trọng góp phần đáng kể váo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.Thể hiện rõ qua
các tác động tích cực của nó đến cán cân thương mại quốc tế.( một trong những
khía cạnh chỉ tiêu thể hiện sức mạnh của nền kinh tế). Tác động tích cực của FDI

công nghiệp nặng có nguy cơ gây ô nhiễm cao đang dấy lên làn sóng cần phải
xem xét lại vai trò của FDI trong bối cảnh phát triển mới của Việt Nam. Vậy cần
nhìn nhận thế nào cho đúng vai trò của FDI ? và nên phải làm gì để nâng cao
vai trò của nguồn vốn quan trọng này đối với thực hiện các mục tiêu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế thế giới.Đó là 1 vấn đề lớn cần sự quan tâm đúng mức của các nhà
quản lý kinh tế Việt Nam.
CHƯƠNG 2. Thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI tại Việt Nam
* * *
2.1. Thực trạng thu hút FDI từ thập niên 80 đến nay
2.1.1Tình hình tăng vốn đầu tư.
• Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90:
Nhìn lại 20 năm trước, trong bối cảnh quốc tế: chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô và Đông Âu tan vỡ; các thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam
trên nhiều mặt. Thế giới có những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị và
an ninh quốc tế, sự phục hồi chậm của nền kinh tế thế giới và biến động giá cả
trên thị trường quốc tế... Các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Đông
Nam Á thực hiện cải cách kinh tế, trở thành khu vực phát triển năng động của
thế giới. Tình hình trong nước: Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bị
tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế ở tình trạng kém phát triển, sản xuất
nhỏ, mang nặng tính chất tự cấp tự túc, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao
cấp, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, mức lạm phát lên tới
trên 700% vào năm 1986, sản xuất đình trệ, cơ sở kỹ thuật lạc hậu và lâm vào
tình trạng thiếu vốn trầm trọng.
Với bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, để khôi phục và phát triển
kinh tế-xã hội, Đảng ta đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, thực hiện công cuộc
“đổi mới” toàn diện, trong đó có việc hoàn thiện, nâng Điều lệ Đầu tư năm
1977 thành bộ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, đã khẳng định sự
đúng đắn của chủ trương, đường lối mở cửa nền kinh tế của Đảng, góp phần
quan trọng vào thành công của sự nghiệp ĐỔI MỚI trong chặng đường vừa qua.

ổn, kinh tế của "người anh cả" không còn được huy hoàng như cũ. Và ông anh
quyết định rằng đã đến lúc các "em" phải đi bằng đôi chân của chính mình.
Người Việt Nam vẫn nói: "Trong cái khó ló cái khôn". Liên Xô cắt hoàn toàn
viện trợ có thể coi như một cú hích khiến Việt Nam đoạn tuyệt hoàn toàn với nền
kinh tế bao cấp và chuyển hẳn sang kinh tế thị trường.Luật Đầu tư nước ngoài
được ban hành từ năm 1988, nhưng đến 1991 mới thực sự đem lại những thành
quả của đổi mới. Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNN tại
Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với 1.781
dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn)
28,3 tỷ USD. Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam đã
bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so với một số nước
trong khu vực; sẵn lực lượng lao động với giá nhân công rẻ, thị trường mới, vì
vậy, ĐTNN tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lan tỏa tới các thành phần
kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của
đất nước. Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm
1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45%
so với năm trước.
• Giai đoạn từ 1997-1999
Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tụt dốc của nguồn FDI đăng ký, cụ thể là
49% năm 1997, 16% năm 1998 và 59% năm 1999, một phần là do khủng hoảng
tài chính châu Á. Năm nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam đều từ khu vực châu
Á và phải đối mặt với những khó khăn thực sự tại quốc gia của mình. Để bảo
đảm cho hoạt động kinh doanh tại nước mình, các nhà đầu tư này đã buộc phải
huỷ hoặc hoãn các kế hoạch mở rộng ra nước ngoài. Cuộc khủng hoảng cũng
buộc các nhà đầu tư phải sửa đổi thấp đi chỉ tiêu mở rộng sang châu Á.Cuộc
khủng hoảng cũng đã dẫn đến việc đồng tiền của các nước Đông Nam Á bị mất
giá. Việt Nam, do vậy, cũng trở nên kém hấp dẫn đối với những dự án tập trung
vào xuất khẩu. Hơn nữa, các nhà đầu tư nước ngoài cũng nhận ra rằng các dự
kiến về nhu cầu của thị trường đã bị thổi phồng. Các bức rào cản cho việc kinh
doanh cũng trở nên rõ ràng hơn. Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định rằng, mặc

22,6%, nhưng vẫn chưa được hai phần ba so với năm 1996. FDI đăng ký tăng
vào năm 2001 và 2002 là kết quả của dự án đường ống Nam Côn Sơn (2000) với
tổng vốn đầu tư là 2,43 tỷ đô-la Mỹ, và Dự án XD-KD-CG Phú Mỹ (2001) với
tổng vốn đầu tư là 0,8 tỷ đô-la Mỹ. Năm 2002, FDI đăng ký lại giảm xuống còn
khoảng 1,4 tỷ đô-la Mỹ, đạt khoảng 54,5% của mức năm 2001.Có rất nhiều
nguyên nhân làm FDI giảm xuống. Nguyên nhân thứ nhất là do sự xuống dốc
của nền kinh tế toàn cầu theo sau sự tan vỡ của bong bóng công nghệ cao tại Mỹ
cùng với khủng hoảng kéo dài tại Nhật bản đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các
nước châu Á.
• Giai đoạn từ 2003 đến 2008
Giai đoạn này vốn FDI vào Việt nam có xu hướng tăng đều.Năm 2003 (đạt 3,1 tỷ
USD), tăng 6% so với năm 2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt
4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng
75,4% và năm 2007 đạt mức 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng
hơn gấp đôi so với năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng. FDI
đăng ký cấp mới và tăng thêm tại Việt Nam năm 2008, tính đến 19/12, đã đạt
64,011 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2007, và gấp hơn hai lần so với con số
của hai năm 2006 và 2007 cộng lại.Nguyên nhân cơ bản có thể thể thấy là nền
kinh tế Việt Nam đã dần đi vào quỹ đạo,tăng trưởng kinh tế cao,cơ sở hạ tầng
phát triển mạnh đặc biệt là sự quan tâm của chính phủ đến việc cải thiện môi
trường đầu tư đã khiến cho tổng vốn FDI vào Việt Nam luôn tăng nhanh qua các
năm( cả vốn đăng ký và vốn thực hiện).
• Giai đoạn từ 2009 đến nay
Giai đoạn này FDI có phần giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế
toàn cầu .Năm 2009 tổng vốn đăng kí mới và tăng thêm đạt khoảng 23 tỷ
USD.Giảm khoảng 67% so với 2008 nhưng vẫn vượt mức kế hoạch đề ra. Đây
vẫn được xem là kết quả lạc quan trong bối cảnh nguồn vốn FDI trên toàn thế
giới năm qua suy giảm gần 40% do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu.
2.1.2. Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988 đến 2008.
• ĐTNN phân theo ngành nghề :

66,8% về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status