ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUANG PHONG
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
BẰNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUANG PHONG
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
BẰNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trịnh Quốc Toản
Hà Nội – 2020
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
VKSND
: Viện Kiểm sát nhân dân
TTHS
: Tố tụng hình sự
QCN
: Quyền con người
ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Tình hình thụ lý, giải quyết VAHS trong cả nước giai đoạn 2016-2018 .56
Bảng 3.2.. Thống kê các vụ án do người dưới 18 tuổi phạm tội từ 2016 đến tháng 6
năm 2019 ...................................................................................................................60
Bảng 3.3. Thống kê QĐHP với dưới 18 tuổi phạm tội .............................................61
iii
MỤC LỤC
2.2. Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về căn cứ quyết định
hình phạt ............................................................................................... 27
2.2.1. Quyết định hình phạt phải căn cứ vào các quy định của BLHS ........ 28
2.2.2. Cân nhắc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội ................................................................................................... 29
2.2.3. Cân nhắc nhân thân người phạm tội................................................... 31
2.2.4. Cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự ... 34
2.3. Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt
trong các trường hợp cụ thể ......................................................................... 37
2.3.1. Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng .............................. 37
2.3.2. Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt
trong trường hợp phạm nhiều tội ................................................................. 39
2.3.3. Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt .............................. 40
2.3.4. Bảo vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt
trong trường hợp đồng phạm ....................................................................... 43
2.3.5. Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi ............................... 45
2.4. Nhận xét chung về chế định quyết định hình phạt ................................ 49
2.4.1. Về những điểm mới về chế định quyết định hình phạt trong BLHS
2015 so với BLHS 1999 .............................................................................. 49
2.4.2. Những hạn chế về chế định quyết định hình phạt đã được khắc phục
và những vấn đề còn vướng mắc ................................................................. 53
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................... 55
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG
BLHS NĂM 2015 DƢỚI GÓC ĐỘ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI.... 56
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người luôn là mục tiêu cơ bản của nhân loại tiến bộ. Bảo vệ
con người xuất hiện rất sớm cùng với sự ra đời của Nhà nước và lúc đầu chỉ trong
phạm vi quốc gia, ngày nay là mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế [35, Tr 31].
Quyền con người cần được bảo vệ và thúc đẩy bằng nhiều hình thức, điều kiện khác
khau, trong đó có pháp luật. Cơ sở pháp lý về quyền con người bao gồm hai thành
phần chính là pháp luật quốc tế về quyền con người và pháp luật quốc gia về quyền
con người. Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, yêu
cầu các quyền con người được pháp luật bảo đảm thực hiện và được bảo vệ không bị
xâm phạm luôn được đặt lên như những ưu tiêng hàng đầu. Ghi nhận và tổ chức bảo
đảm quyền con người trên thực tế là thể hiện của một Nhà nước nhân bản, tiến bộ, dân
chủ, văn minh. Các quyền con người được bảo đảm thực hiện trong việc ghi nhận về
pháp lý, trong hoạt động thi hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật của Nhà nước.
Bảo đảm thực hiện quyền con người không chỉ là nội dung, bản chất mà còn trở thành
mục tiêu cao nhất trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở các quốc gia.
Quyết định hình phạt là lĩnh vực hoạt động nhà nước nhạy cảm liên quan đến
quyền con người. Hơn ở đâu hết, quyền con người dễ bị xâm phạm nhất trong quá
trình quyết định hình phạt và hậu quả của sự xâm phạm đó thường là rất nghiêm trọng
cả về vật chất, thể chất và tinh thần. Quyền con người nhìn nhận dưới góc độ QĐHP được xác lập và bảo vệ trên cơ sở cân nhắc rằng hoạt động QĐHP gắn liền với tội phạm
và chức năng của Nhà nước là phát hiện nhanh chóng, kịp thời và xử lý công minh
người phạm tội. Bảo đảm quyền con người bằng các quy định về QĐHP được thực
hiện bằng các phương thức, biện pháp khác nhau. Trong đó, các biện pháp quan trọng
nhất là bằng các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi trong pháp luật tố tụng hình sự và
đảm bảo thực hiện các quy định đó trên thực tế.
Quyết định hình phạt là công việc hết sức quan trọng và nặng nề trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự. Hình phạt được quyết định đúng pháp luật, công minh, tương
xứng với tội danh là tiêu chí để đánh giá chất lượng của hoạt động xét xử vụ án hình
sự và tính nghiêm minh của PLHS. Tuy nhiên, qua kết quả xét xử các vụ án hình sự
1
-TS. Trịnh Tiến Việt: Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình
sự trong BLHS năm 1999 và một số kiến nghị - Tạp chí Tòa án nhân dân số 13/2004;
- TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy: Nhân thân người phạm tội trongLuật hình
sựViệt Nam - Luận án tiến sĩ, 2005.
2
- Dương Tuyết Miên. Quyết định hình phạt trongLuật hình sựViệt Nam, Luận
án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003.
- Đinh Văn Quế,Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Mục VI,
Chương XIII “Quyết định hình phạt”, trong sách: "Bình luận khoa học Bộ luật
hình sự năm 1999 - Phần chung",. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.
- PGS.TS. Trịnh Quốc Toản Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
(Chương XVI “Quyết định hình phạt”, , trong sách: “Giáo trìnhLuật hình sựViệt Nam
phần chung” (tái bản lần thứ nhất), do TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội, 2003.
Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác giả mới ở dưới
dạng là các bài viết đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành, một phần, mục trong các
giáo trình, sách tham khảo hay sách bình luận. Có nghĩa là cho đến nay trong khoa
họcLuật hình sựcủa Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến chế định
QĐHP dưới góc độ bảo vệ quyền con người này một cách tương đối có hệ thống,
tương đối đồng bộ và ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học có gắn với việc nghiên
cứu thực tiễn xét xử của Toà án trên một địa phương nhất định. Hơn nữa, nhiều vấn đề
lý luận vàthực tiễn xung quanh chế định quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định cũng
đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn.
3. Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm sáng tỏ thêm cơ sở lý
luận và thực tiễn, nội dung của chế định QĐHP dưới góc độ bảo vệ quyền con người,
chỉ ra những kết quả và những bất cập còn tồn tại khi áp dụng các quy định về QĐHP
trong BLHS năm 2015
3. Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt và những
ảnh hưởng của hoạt động này đối với công tác bảo vệ quyền con người.
4. Chỉ ra những hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật, xây dựng đề xuất
những phương án góp phần nâng cao chất lượng hoạt động QĐHP cũng như tác động
đến quyền con người.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phân tích và phương pháp tổng
hợp kết hợp với việc phân tích thực tiễn áp dụng quyền tự bào chữa thông qua báo cáo
công tác của các cơ quan tư pháp và minh họa với các vụ án cụ thể, điều luật cụ thể để
tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng để nghiên cứu.
Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp
4
phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp lịch sử; kết hợp với
việc phân tích thực tiễn.
6. Bố cục của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
bao gồm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1. Một số vấn đề chung về bảo vệ quyền con người bằng những quy
định về quyết định hình phạt trong luật hình sự.
Chương 2: Các quy định về quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự năm
2015 dưới góc độ bảo vệ quyền con người.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng, yêu cầu và một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định về quyết định hình phạt trong Bộ
mà không có quyền lợi”, “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế
và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định” [24]; tương ứng với những
thời đại khác nhau và những cơ sở kinh tế - xã hội khác nhau thì có quyền khác nhau.
Nghĩa là, quan niệm về quyền con người không phải khái niệm, phạm trù bất biến, mà
6
chúng có sự biến đổi trong lịch sử, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh ở mỗi nơi chúng
tồn tại. Quyền con người, nếu xét một cách toàn diện, gồm quyền sống, quyền lao
động và quyền tự do. Bởi lẽ, các quyền này thể hiện ba phương diện cốt lõi của đời
sống con người: Con người trước hết phải được tồn tại (quyền sống); con người phải
được hoạt động (quyền lao động); con người phải được khẳng định, được phát triển
(quyền tự do).
Kế thừa và tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện thực tế tại
Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có những nhận định vô cùng xác đáng về
nhân quyền. Ở đây, quyền con người không chỉ là thuộc về từng cá nhân riêng lẻ, là
giá trị nhân văn cao nhất mà mỗi người đương nhiên có được, mà đó còn là giá trị văn
hóa của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Quyền con người gắn bó chặt chẽ với các quyền
dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia, là bộ phận không thể tách rời của
tiến trình lịch sử dân tộc. Điều đó cho thấy kết hợp tài tình giữa tinh hoa văn hóa nhân
văn nhân loại với những giá trị truyền thống của dân tộc. Sự phát triển khái niệm
quyền con người thành quyền dân tộc cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện
rõ nét trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945. Bằng những luận điểm đã được cộng
đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tất cả mọi người đều
sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm
được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phúc” [16]. Tại Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam, con người đã được xác
định là trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Trải qua quá
trình phát triển và mới đây nhất quyền con được ghi nhận ở Hiến pháp năm 2013, trong
phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [17].
Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nôi, tập thể tác giả định nghĩa quyền con người là “những nhu cầu,
lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc
gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [26]. GS.TSKH. Lê Văn Cảm đưa ra khái niệm
quyền con người như sau: “Quyền con người là một phạm trù lịch sử - cụ thể là giá trị
xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc
trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá
nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp
luật bởi các quốc gia – thành viên Liên hợp quốc cũng như bởi cộng đồng quốc tế”
[36, tr 224]. TS Trần Quang Tiệp định nghĩa về quyền con người một cách ngắn gọn,
theo đó, quyền con người “là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới
được hưởng trong những điều kiện chính trị, văn hóa kinh tế, xã hội nhất định” [37, tr
14]. Một định nghĩa được sử dụng tương đối phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về
8
nhân quyền ở nước ta hiện nay coi: “Nhân quyền (hay quyền con người) là những
năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng
nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc
tế” [38, tr 10]. Những định nghĩa này tuy có những điểm khác biệt, nhưng nhìn chung,
quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý
quốc tế.
Từ việc nghiên cứu, tổng hợp các khái niệm, các văn bản pháp lý, người viết có
thể đưa ra khái niệm về quyền con người như sau: Quyền con người là những quyền tự
nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền con người là những giá trị cao cả
cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch sử. Trong thời đại
phân tích sự phát triển của tư tưởng nhân quyền trong lịch sử nhân loại. Bên cạnh đó,
tư tưởng về QCN còn được phản ánh trong các học thuyết, ấn phẩm tôn giáo, chính trị
và pháp lý của nhân loại từ xưa cho đến nay. Thực tiễn đã chứng minh những tư tưởng
về QCN, cũng như những quy định trong pháp luật và thực tiễn bảo vệ QCN là sự
đóng góp chung của mọi quốc gia, dân tộc, qua các thời kỳ phát triển của lịch sử. Mỗi
bước tiến, nhân loại đều đánh dấu nấc thang mới trong nhận thức và việc thực hiện hóa
các QCN, vì vậy, QCN phát triển không ngừng, gắn liền với các hình thái kinh tế - xã
hội, với nền văn minh nhân loại. Như vậy, QCN vừa là sản phẩm của văn minh nhân
loại, vừa là sản phẩm đấu tranh lâu dài của con người chống lại áp bức, bóc lột, làm
chủ thiên nhiên và tự hoàn thiện chính mình. Ngày nay, những nguyên tắc và quy định
của luật Nhân quyền quốc tế được coi là mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia. Ở hầu
hết các nước, nội dung các công ước nhân quyền đã được nội luật hóa và từng bước tổ
chức thực hiện bảo đảm QCN trên thực tế. Là giá trị chung nên tất cả các dân tộc,
không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa đều có
quyền thụ hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị xã hội cao quý đó. Quan
điểm này có ý nghĩa quan trọng, chỉ rõ nguồn gốc của QCN, giúp chúng ta có cơ sở
bác bỏ các quan điểm, luận điệu sai trái, coi QCN là phát kiến, là giá trị riêng của giai
cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản phương Tây, do đó dẫn đến các biểu hiện phiến diện,
cực đoan: hoặc quay lưng, khước từ những giá trị tiến bộ, văn minh; hoặc áp đặt mô
hình của nước này cho nước khác.
Hai là, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc trong xã hội có phân chia
giai cấp. Quan điểm này được thể hiện trong Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12/7/1992 của
Ban Bí thư Trung ương Đảng, trong đó nêu rằng: “Trong xã hội có phân chia giai cấp
đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấp sâu sắc” [21]. Cũng liên quan
10
đến vấn đề này, Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg ngày 2/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ
viết: “… cuộc đấu tranh trên vấn đề nhân quyền là cuộc đấu tranh mang tính giai cấp
11
nhân dân. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định
đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới được ban
hành và sửa đổi. Khẳng định rõ các quyền con người, quyền công dân về chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến
pháp và pháp luật” [15]. Mặc dù luôn nhấn mạnh “quyền bẩm sinh” nhưng ngày nay,
ở các nước tư bản cũng như ở mọi quốc gia, QCN đều được ghi nhận và bảo vệ bằng
các hình thức pháp luật khác nhau. Thực tiễn Việt Nam và các nước trên thế giới cho
thấy đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để QCN
được thực hiện. Trong thời kỳ mới, Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng việc xây dựng
và hoàn thiện pháp luật; củng cố các cơ quan tư pháp và cơ chế nhằm bảo đảm ngày
càng tốt hơn các quyền của người dân. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII khẳng định:
“Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo
đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân” [15].
Năm là, quyền con người gắn liền với nghĩa vụ công dân. Chỉ thị số 12/CT/TW
ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, trong đó nêu rõ: “Quyền dân chủ,
tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Dân chủ
phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật…” [19]. Điều 15, Hiến pháp năm 2013 quy định:
“1) Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.
2) Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác.
3) Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.
4) Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi
ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”[1].
Đến nay, nhiều người vẫn cho rằng nói đến nhân quyền là nói đến nghĩa vụ của
Nhà nước, không thể đòi hỏi nghĩa vụ cá nhân. Điều này gây nhận thức mơ hồ trong
một bộ phận xã hội về trách nhiệm cá nhân khi hưởng thụ quyền. Bàn về vấn đề này,
Các Mác từng viết: “Không có quyền lợi nào mà ko có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ
nào mà không có quyền lợi” [24]. Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người (1948)
người liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự. Tại giai đoạn này, vấn đề số phận pháp
lý của một người được đưa ra xem xét, quyết định sau khi đã xác định được việc họ
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức bị coi là tội phạm. Quyết định hình
phạt có chính xác không chỉ góp phần đảm bảo các nguyên tắc của LHS, mặt khác còn
bảo vệ, bảo đảm quyền con người được thực thi trên thực tế. Nhìn ở góc độ trừng trị,
việc QĐHP chính xác tạo cơ sở khắc phục những thiệt hại do tội phạm gây ra, xử lý
thích đáng kẻ phạm tội và bảo vệ những khách thể được PLHS bảo vệ trong đó có
quyền con người. Ở một khía cạnh khác, vấn đề xác định chính xác hình phạt cũng góp
phần bảo vệ quyền con người cho chính người bị buộc tội. Bởi xét đến cùng trong mối
quan hệ TTHS, người bị buộc tội vẫn được coi là đối tượng ở nhóm yếu thế hơn so
13
với những cơ quan tiến hành tố tụng, trong mối quan hệ này, quyền lợi của người bị
buộc tội rất dễ bị xâm hại trong đó không thể không nhắc tới quyền con người. Quyền
con người dễ bị xâm hại trong các hoạt động TTHS nói chung và kèm theo đó là
những hậu quả về vật chất, tinh thần thậm chí là sức khỏe, tính mạng của người bị
buộc tội vô cùng to lớn. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là việc Nhà nước phải
ghi nhận quyền con người trong các văn bản QPPL mà còn phải xác lập cùng với đó
những cơ chế, cách thức, phương pháp nhằm đảm bảo cho quyền con người được thực
thi đầy đủ và hiệu quả trên thực tế. Việc công nhận và ghi nhận quyền con người trong
lĩnh vực TPHS nói chung hay trong chế định QĐHP nói riêng phải đảm bảo nội luật
hóa được những quy định được thừa nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế về quyền
con người, kế thừa những thành tựu trong lịch sử lập pháp nước nhà cũng như tính phù
hợp, tính khả thi khi áp dụng trên thực tế.
Với vai trò quan trọng như đã trình bày trên đây cùng những nghiên cứu về
quyền con người và quyết định hình phạt, người viết xin được đưa ra định nghĩa về
bảo vệ quyền con người thông qua các quy định về quyết định hình phạt như sau: “bảo
vệ quyền con người bằng các quy định về quyết định hình phạt trongLuật hình sựlà
Đối với Nhà nước, mục đích của hình phạt là cơ sở để xây dựng hệ thống hình
phạt bao gồm các loại hình phạt khác nhau và các chế định liên quan đến hình phạt...
Đây chính là những căn cứ pháp lý quan trọng cho việc quyết định hình phạt. Tuy
nhiên, để quyết định được một hình phạt đảm bảo tính công minh, đúng pháp luật, phù
hợp với lợi ích xã hội còn đòi hỏi các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải luôn có
nhận thức đúng đắn về mục đích của hình phạt và mục đích của việc áp dụng hình phạt
trong những trường hợp cụ thể. Hiện nay, mục đích của hình phạt được quy định tại
Điều 31 BLHS năm 2015 như sau: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp
nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy
tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương
mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” 5. Mặc dù
Điều 31 BLHS năm 2015 đã quy định rất cụ thể về mục đích của hình phạt nhưng việc
xác định hình phạt có bao nhiêu mục đích và đó là những mục đích gì thì vẫn còn là
vấn đề gây nhiều tranh luận trong khoa học pháp lý hình sự. Xuất phát từ những quan
điểm khác nhau về số lượng các mục đích của hình phạt và qua tham khảoLuật hình
sựcủa một số nước trên thế giới, chúng tôi nhận thấy có bốn quan điểm chính về mục
đích của hình phạt là: Quan điểm truyền thống coi các mục đích quan trọng hơn cả của
hình phạt là ngăn ngừa riêng và ngăn ngừa chung; Quan điểm nghiêng về trấn áp hình
sự coi mục đích của hình phạt chỉ là trừng trị; Quan điểm nghiêng về đạo đức coi mục
đích của hình phạt chỉ là giáo dục và cải tạo; Quan điểm mềm dẻo coi các mục đích
của hình phạt là cả trừng trị, cải tạo và giáo dục. Nhìn chung, tất cả các quan điểm này
15
tựu chung lại đều thừa nhận một trong hai hoặc cả hai mục đích chính của hình phạt là
trừng trị và giáo dục người phạm tội. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng trừng trị
không phải là mục đích của hình phạt mà là nội dung, là bản chất, là thuộc tính tất yếu
của hình phạt, là phương tiện để thực hiện hình phạt. Người viết hoàn toàn đồng ý
trừng trị là nội dung, là bản chất của hình phạt thể hiện ở sự tước bỏ quyền và lợi ích
càng không phải là sự đền bù ngang giá giữa tội phạm với Nhà nước là người đại diện
cho lợi ích xã hội. Việc Nhà nước áp dụng hình phạt đối với người phạm tội bị kết án
không phải là lấy cái ác để trừ cái ác mà khi trừng trị người phạm tội bằng hình phạt,
Nhà nước đã trực tiếp thực hiện việc “răn đe”, là biện pháp cần thiết để qua đó “cảm
hoá” người phạm tội, ngăn ngừa họ và người khác phạm tội. Chính việc trừng trị bằng
hình phạt đã tác động vào tâm lý làm cho con người biết sợ pháp luật, buộc người
phạm tội phải nhận thức ra những sai lầm của mình để từ đó sửa chữa, cải tạo thành
người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống
XHCN. Như vậy, thông qua trừng trị, răn đe, người phạm tội, hình phạt sẽ giáo dục,
cảm hoá người phạm tội (cũng như những người khác) từ bỏ con đường phạm tội, biết
kiềm chế mình nếu có ý định phạm tội và có ý thức cẩn thận hơn trong các xử sự dễ có
khả năng trở thành tội phạm. Đây mới chính là mục đích cuối cùng, chủ yếu và vì con
người của hình phạt trongLuật hình sựViệt Nam. Tựu chung lại, nếu hình phạt chỉ có
mục đích trừng trị thì chỉ có tác dụng làm cho con người run sợ và tạo điều kiện cho
việc xâm hại thô bạo các quyền con người mà không thể cải tạo, giáo dục được người
phạm tội. Ngược lại, nếu hình phạt chỉ có mục đích giáo dục sẽ làm cho con người coi
thường pháp luật và hình phạt cũng không có tác dụng gì đối với công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm. Với lý do đó, trừng trị và giáo dục là hai mục đích cơ bản của
hình phạt, cùng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất và giữa chúng luôn tồn tại mối
quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau. Trong hệ thống hình phạt của LHS, hình phạt tử
hình tuy chỉ nhằm trừng trị người phạm tội nhưng cũng có tác dụng giáo dục, phòng
ngừa chung hết sức to lớn. Vì vậy, dựa vào một số quan điểm đã nghiên cứu trước,
chúng tôi khẳng định rằng, trừng trị không những là mục đích trước tiên của hình phạt
mà còn là cơ sở của việc giáo dục và cũng chính là phương tiện mà chỉ thông qua nó
mới có thể đạt được mục đích cuối cùng, chủ yếu của hình phạt là giáo dục, cải tạo
người phạm tội. Ngược lại, đạt được mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội chính
là sự khẳng định vai trò, tác dụng và tính tích cực của mục đích trừng trị. Như vậy,
mục đích của hình phạt có đạt được hay không là phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết
định hình phạt của Hội đồng xét xử. Trong mọi trường hợp, mục đích của hình phạt