CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
HỒ SƠ XÉT CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến: Một sô giải pháp rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4
tuổi.
- Tác giả: Hoàng Thị Nhung
- Đơn vị công tác: Trường Mầm non Thiện Kế
- Chức vụ: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: CĐSP (Chuyên ngành Mầm Non)
Thiện Kế, tháng 01 /2019
Mẫu số 01
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên
a) Tác giả sáng kiến: Hoàng Thị Nhung
- Ngày tháng năm sinh: 19/06/1990.
Nam, nữ: Nữ
- Đơn vị công tác: Trường Mầm non Thiện Kế
- Chức danh: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: CĐSP (Chuyên ngành Mầm Non)
- Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến: 100%
dung giáo dục trẻ theo giai đoạn, chủ đề. Ví dụ:
+ Rèn kĩ năng tự đi vệ sinh khi có nhu cầu và đi vệ sinh đúng nơi qui định:
Đây là nội dung cần cô thực hiện ngay từ đầu năm hocjbowir trẻ mới đi học còn
nhút nhát chưa quen với các vị trí và hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Để việc rèn
luyện trẻ đạt hiệu quả thì giáo viên cần tìm hiểu khả năng của từng trẻ, nắm bắt
tâm lí của trẻ để biết lí do một số trẻ chưa biết tự đi vệ sinh đúng nơi quy định
bằng cách quan sát trẻ, hỏi trẻ và trao đổi trực tiếp với phụ huynh.
Với trẻ nhút nhát cô nên thường xuyên gần gũi để tạo tâm lí an tâm và thoải mái
cho trẻ. Giúp trẻ sẵn sàng chia sẻ mong muốn và nguyện vọng của mình. Dần
dần cô hướng dẫn trẻ cách đi vệ sinh đúng nơi quy định khi trẻ có nhu cầu.
+ Hướng dẫn trẻ rửa tay bằng xà phòng: Nội dung này cần được triển khai
ngay bởi rửa tay sạch sẽ không chỉ để tay sạch mà còn giúp phòng ngừa một số
bệnh liên quan đến vấn đề vệ sinh cá nhân. Cô trò chuyện cùng trẻ về lợi ích của
việc rửa tay sạch sẽ và các bước rửa tay với xà phòng, các thời điểm cần thiết
phải rửa tay sạch sẽ để trẻ thấy được sự cần thiết và hình thành thói quen vệ sinh
tốt. Cô làm mẫu cho trẻ xem, hướng dẫn cách làm và cho trẻ thực hành. Cô giáo
dục trẻ về lợi ích khi rửa tay sạch, các thời điểm cần phải rửa tay (Trước khi ăn,
sau khi ăn, trước và sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn…). Nhắc nhở trẻ thường
xuyên khi trẻ quên hoặc trẻ làm chưa đúng. Hoạt động này có thể thực hiện vào
buổi chiều hoặc lồng ghép vào các tiết học khám phá bản thân trẻ ở chủ đề “Bản
3
thân”, các hoạt động của trẻ ở trường mầm non ở chủ đề “Trường mầm non”,
hoặc giáo dục dinh dưỡng…. Việc giáo dục trẻ này cũng cần phối hợp với phụ
huynh cho trẻ thực hiện ở gia đình để tạo thói quen tốt cho trẻ.
+ Tập cho trẻ làm quen với việc xúc ăn: Việc tập cho trẻ tự xúc ăn là rất cần
thiết bởi đa số trẻ ở gia đình đều được ông bà bố mẹ bón cho trẻ nên trẻ chưa có
kĩ năng tự xúc ăn. Cô cần bao quát tìm hiểu từng trẻ và có biện pháp riêng. Với
những trẻ chưa biết xúc ăn, cô hướng dẫn trẻ cách cầm thìa và tập cho trẻ tự xúc
gọn gàng lên giá dép( Để dép quay mũi dép ra ngoài, để ngay ngắn trên giá dép,
để hai dép cạnh nhau) Nhắc nhở bố mẹ, ông bà để trẻ tự làm.
Các kĩ năng trên được thực hiện vào các tháng đầu năm học và có thể gắn
với chủ đề “Trường mầm non”, “Bản thân”, “Gia đình”. Việc giáo dục không trẻ
ở giai đoạnnày cần tỉ mỉ, cụ thể, rõ ràng, thực hiện một cách từ từ để trẻ nắm
vững được các kĩ năng, bước đầu hình thành kĩ năng cho bản thân. Trong quá
trình thực hiện cô tiến hành khảo sát và đánh giá trẻ dựa trên khả năng của từng
trẻ để tiếp tục xây dựng và điều chỉnh, bổ sung kế hoạch cho phù hợp.
+ Rèn kĩ năng cởi, mặc quần áo, đi tất, đi giày: Ở giai đoạn sau, khi trẻ đã
quen với các hoạt động ở lớp cô có thể rèn luyện và nâng cao dần yêu cầu và
dạy thêm các kiến thức, kĩ năng mới phù hợp giai đoạn, thời tiết và đặc điểm
tình hình. Như khi trời lạnh, cô rèn thêm kĩ năng cởi mặc áo, đi tất, giày…. Điều
này vừa giúp trẻ điều chỉnh thân nhiệt bản thân vừa rèn sự gọn gàng như: Hướng
dẫn trẻ cách cởi quần, mặc quần, mặc áo chui đầu, cởi áo khi nóng, mặc áo
khoác khi lạnh, đi tất, cởi tất. Ở giai đoạn này trẻ còn chưa thuần thục cô có thể
hướng dẫn trẻ thực hiện với sự giúp đỡ của cô hoặc người lớn, sau đó tập dần
cho trẻ tự thực hiện.
Ở giai đoạn sau khi trẻ đã có thói quen ban đầu thì cô tiếp tục rèn luyện cho
trẻ thực hiện bằng cách nhắc nhở hàng ngày và thi đua xem ai ngoan hơn. Như
tiếp tục rèn kĩ năng xúc ăn, rửa mặt, rửa tay hàng ngày, cất, xếp ghế gọn gàng
saukhi sử dụng, tập tự cất bàn cùng cô. Tự gấp áo để gọn gàng sau khi mặc. Tập
chải tóc cùng cô, chải tóc cho búp bê.
+ Hướng dẫn trẻ tự trải răng: Hướng dẫn trẻ cách lấy bàn trải, kem và nước,
cách trải răng mặt trong, ngoài, mặt nhai, súc miệng sạch sẽ cho hết kem. Giáo
dục trẻ thường xuyên đánh răng sau khi ăn tối, sáng ngủ dậy để phòng bệnh sâu
răng. Không ăn nhiều bánh kẹo, đồ ngọt. Cô có thể làm mẫu trên mô hình, thông
qua các trò chơi góc thực hành cuộc sống khi chơi góc hoặc thông qua các tranh
ảnh, video trên tivi.
Việc triển khai các nội dung trên có thể xây dựng kế hoạch theo 3 giai
đoạn: Giai đoạn 1 ( Từ tháng 9 – 11), ở giai đoạn này chú trọng việc làm mẫu
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 3 – 4 tuổi nói riêng giáo viên luôn
phải là hình mẫu cho trẻ noi theo. Cô phải luôn thực hiện các hoạt động vệ sinh
sach sẽ, gọn gàng và thường xuyên để trẻ quan sát và và thực hiện theo.
6
Giáo viên nhẹ nhàng hướng dẫn và nhắc nhở trẻ để trẻ thực hiện các thói
quen một cách tự nhiên mà không lo sợ. Từ đó trẻ dần dần hình thành kĩ năng
cho bản thân nhất là thói quen đi vệ sinh đúng nơi quy định.
Cô làm mẫu và giải thích tỉ mỉ, chi tiết cho trẻ đồng thời thường xuyên thực
hiện các thói quen vệ sinh để trẻ hình thành thói quen giống cô.
Trao đổi với phụ huynh trong buổi họp và đón trả trẻ về các nội dung cần
phối hợp để rèn thêm cho trẻ tai gia đình.
Giải pháp 4: Thực hiện các nội dung giáo dục thường xuyên và
nghiêm túc.
Việc rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ là một việc rất quan trọng đòi hỏi giáo
viên phải kiên trì và thực hiện thường xuyên. Nếu giáo viên không thường
xuyên cho trẻ được thực hiện các hành vi, thói quen tự phục vụ thì trẻ sẽ không
thể hình thành kĩ năng được.
Ví dụ: Phải thường xuyên cho trẻ rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn,
chuẩn bị đầy đủ đồ dùng vệ sinh để trẻ thực hiện. Chuẩn bị khăn mặt sạch cho
trẻ lau mặt, lau tay khi cần.
Giải pháp 5: Phối hợp với cha mẹ trẻ.
Việc rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ là một việc làm thường xuyên và rất
quan trọng, nếu không có sự phối hợp của gia đình thì việc giáo dục sẽ gặp
nhiều khó khăn.
Giáo viên tuyên truyền các nội dung giáo dục qua buổi họp phụ huynh
đầu năm: Cùng trao đổi với phụ huynh về các nội dung giáo dục và các biện
pháp. Cùng trò chuyện để hiểu hơn về trẻ và cùng tìm ra giải pháp phù hợp.
Trao đổi hàng ngày qua các buổi đón, trả trẻ. Cùng trao đổi về từng trẻ với
+ So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng sáng kiến:
- Đối với giáo viên:
+ Nắm chắc nội dung, phương pháp rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ.
+ Có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức hoạt động và truyền tải thông
tin tới trẻ.
+ Có ý thức trách nhiệm trong công việc.
- Đối với trẻ: Qua một thời gian áp dụng những biện pháp trên tôi nhận
thấy trẻ ở lớp tôi đang dạy có kĩ năng tự phục vụ tốt hơn rất nhiều, đã tự giác
tham gia các hoạt động và còn một số ít trẻ cần cô nhắc nhở thêm.
- Đối với phụ huynh: Đã có sự nhìn nhận thay đổi về giáo dục mầm non.
8
Kết quả đánh giá của trẻ được biểu hiện qua bảng sau
Bảng 1: Kết quả đạt được của trẻ
Dựa vào các tiêu chí trên tôi đã tiến hành khảo sát trẻ đầu năm và thu được kết
quả như sau:
Tổng
Đạt
số trẻ Tỉ lệ %
STT
Kĩ năng tự phục vụ
số trẻ
1
80%
Bảng 2: Bảng tổng hợp kết quả, khảo sát đánh giá trẻ giữa năm như sau
Tổng
Đạt
số trẻ Tỉ lệ %
STT
Kĩ năng tự phục vụ
số trẻ
1
2
3
Kiến thức
Kĩ năng
Thái độ, thói quen
25
25
25
21
21
21
9
- Có kế hoạch thực hiện nội dung giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ phù
hợp và đầy đủ.
- Tìm tòi các phương pháp giáo dục hấp dẫn tạo sự thu hút đối với trẻ.
- Nội dung tích hợp phù hợp với trẻ và bài học.
- Về giáo viên: Yêu nghề, yêu trẻ. Tự học tập, tìm tòi để trang bị cho mình
những kiến thức, kĩ năng cần thiết, học tập các phương pháp giáo dục sáng tạo,
hấp dẫn để thu hút trẻ tham gia đạt hiệu quả.
- Học sinh: Học sinh có sức khỏe tốt, đi học chuyên cần.
- Phụ huynh học sinh: Luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ với giáo viên, trao
đội tận tình và gần gũi, có tinh thần hợp tác.
đ) Về khả năng áp dụng của sáng kiến cho những đối tượng, cơ quan, tổ
chức nào hoặc những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu
(nếu có):
Sáng kiến này có thể áp dụng với tất cả các trẻ lớp 3 – 4 tuổi tại các trường
mầm non.
Tôi làm đơn này trân trọng đề nghị Hội đồng sáng kiến xem xét và công
nhận sáng kiến. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực,
đúng sự thật, không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác và hoàn
toàn chịu trách nhiệm về thông tin đã nêu trong đơn
Thiện Kế, ngày 25 tháng 01 năm 2019
NGƯỜI VIẾT ĐƠN
Hoàng Thị Nhung
10
- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Hoàng Thị Nhung.
- Tên sáng kiến: Một số giải pháp rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3- 4
tuổi.
- Lĩnh vực áp dụng: Áp dụng vào công tác chăm sóc rèn kĩ năng tự phục
vụ cho trẻ tai trường mầm non Thiện Kế.
Sau khi nghiên cứu đơn đề nghị công nhận sáng kiến.
- Tôi tên là: Ngô Thị Minh Hương.
- Chức vụ: Hiệu trưởng.
11
Thay mặt Nhà trường nhận xét, đánh giá như sau:
1. Đối tượng được công nhận sáng kiến:
Giải pháp: Rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3- 4 tuổi.
2. Nhận xét, đánh giá về nội dung sáng kiến:
a) Đảm bảo tính mới, tính sáng tạo: vì
- Không trùng với nội dung của giải pháp trong đơn đăng ký sáng kiến
nộp trước;
- Chưa bị bộc lộ công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kỹ thuật
đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được;
- Không trùng với giải pháp của người khác đã được áp dụng hoặc áp
dụng thử, hoặc đưa vào kế hoạch áp dụng, phổ biến hoặc chuẩn bị các điều kiện
để áp dụng, phổ biến;
- Chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc
phải thực hiện.
b) Giải pháp có khả năng mang lại lợi ích thiết thực:
Mang lại lợi ích cho trẻ: Hình thành kĩ năng tự phục vụ cần thiết cho trẻ.
c) Về khả năng áp dụng của sáng kiến cho những đối tượng, cơ quan,
tổ chức nào: Có khả năng áp dụng trong các trường Mầm non.
3. Kiến nghị đề xuất: