Một số biện pháp tạo hứng thú cho trẻ 5 - 6 tuổi làm quen v ới môi
trường xung quanh
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu:
Nhu cầu khám phá, tìm hiểu về thế giới xung quanh của con người đã
xuất hiện ngay từ khi còn nhỏ, từ lúc mới sinh ra, khi c ất ti ếng khóc chào
đời trẻ đã có nhu cầu tìm hiểu, nhu cầu giao tiếp, nhu c ầu khám phá v ề
thế giới xung quanh và khi trẻ càng lớn thì nhu cầu đó ngày càng l ớn h ơn,
trẻ muốn khám những điều mới lạ, thú vị đang diễn ra của m ột “xã hội
người lớn” nhưng vì trẻ nhỏ chưa có vốn sống, vốn kinh nghiệm, trẻ ch ưa
thể tự khám phá được về thế giới xung quanh nên người lớn phải giúp đỡ
trẻ, phải tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt động nh ằm cho tr ẻ
làm quen, khám phá về môi trường xung quanh. Khi trẻ được làm quen v ới
thế giới xung quanh sẽ giúp trẻ tích luỹ được vốn sống, vốn kinh nghiệm,
trẻ tích luỹ được những kiến thức, kỹ năng về tự nhiên và xã hội, giúp tr ẻ
khám phá ra những mối quan hệ và lý giải được nh ững câu h ỏi: Vì sao? T ại
sao? Sao lại như vậy?...
Thông qua việc cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh sẽ giúp
trẻ được phát triển toàn diện về các mặt về đạo đức, nhận thức, thể lực,
thẩm mỹ và lao động, nhân cách của trẻ được hình thành, phát triển và đó
là mục đích hàng đầu của ngành học mầm non nói riêng và ngành giáo dục
nói chung.
Mặt khác: Nhu cầu ham hiểu biết đã kích thích h ứng thú nh ận th ức ở
trẻ. Nó thể hiện ở mong muốn biết cái mới, làm rõ cái ch ưa bi ết v ề đ ặc
điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng xung quanh, muốn tìm hiểu bản
chất của sự vật hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng. H ứng thú nhận
thức thôi thúc trẻ tìm cách thoả mãn, tạo ra khoái cảm, sự thích thú và có
khả năng huy động sinh lực một cách tối đa để cố gắng đạt m ục đích.
Hứng thú nhận thức của trẻ thường được thể hiện trong các hoạt động
đặc trưng của lứa tuổi như vui chơi, học tập, lao động, sinh ho ạt hàng
Với những băn khoăn trên về thực tế công tác chăm sóc, giáo dục trẻ trong
các cơ sở giáo dục mầm non và với mong muốn cho trẻ mầm non được được
thỏa sức tham gia khám phá một thế giới sinh động, hấp dẫn đang diễn ra
trong mắt trẻ thơ. Tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp gây hứng thú cho
trẻ 5 – 6 tuổi trong giờ làm quen với môi trường xung quanh” để giúp
được phát triển một cách toàn diện, phát huy được tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của trẻ.
3. Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Thế
- Địa chỉ: Giáo viên - Trường mầm non Hoa Sen, huyện Lập Th ạch.
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Báo cáo sáng kiến kinh nghiệm là do bản thân t ự nghiên c ứu và đ ề ra
những giải pháp trong quá trình thực hiện công tác chăm sóc, giáo dục tr ẻ
tại trường mầm non Hoa Sen, huyện Lập Thạch.
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Báo cáo sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Một số biện pháp gây hứng
thú cho trẻ 5 – 6 tuổi trong giờ làm quen với môi tr ường xung
quanh” được áp dụng trong lĩnh vực phát triển nhận th ức dành cho trẻ
mầm non ở bộ môn Phương pháp cho trẻ làm quen v ới môi tr ường xung
quanh.
Mặt khác, đây là một đề tài mang tính thực tiễn, được áp dụng vào quá
trình giảng dạy không chỉ dành riêng cho môn học Làm quen v ới môi
trường xung quanh mà còn có khả năng áp dụng cho t ất c ả các môn h ọc
khác để tạo hứng thú cho trẻ như môn: Cho trẻ làm quen v ới tác ph ẩm văn
học, Làm quen với toán, tạo hình, âm nhạc…Hay khi tổ ch ức các hoạt động
khác như: Hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, ….
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng th ử:
Sau khi đề ra những giải pháp nhằm giúp cho trẻ có th ể lĩnh h ội
Trong đề tài nghiên cứu của tôi sử dụng khái niệm hứng thú của Trần
Thị Minh Đức làm công cụ: Khái niệm được định nghĩa như sau: “Hứng thú là
thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với
cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt
động”.
b. Khái niệm chú ý:
Từ xưa đến nay, trong hoạt động nhận th ức và hoạt động th ực ti ễn
của con người, chú ý giữ một vai trò rất quan trọng. Khi đánh giá vai trò
của chú ý, nhà sư phạm học người Nga K.D.Usinxki cho rằng, chú ý chính là
cánh cửa mà mọi sự vật của thế giới xung quanh muốn đi vào đ ược tâm
hồn của mỗi con người, đều phải đi qua nó.
Trong các hiện tượng tâm lí, chú ý là một hiện tượng tâm lí đ ộc đáo,
luôn xuất hiện kèm theo các hoạt động, cũng như luôn có m ặt trong các
quá trình nhận thức của cá nhân, làm cho chúng diễn ra v ới nh ững s ắc thái
khác nhau. Trong môi truờng xung quanh với vô vàn s ự v ật và hiện t ượng
tác động vào, ý thức con người phải biết lựa chọn, biết tập trung vào một
số sự vật, hiện tượng nào đó của hiện th ực hoặc một số thuộc tính c ủa
chúng, nhằm có sự phản ánh rõ ràng những sự vật, hiện t ượng hoặc
những thuộc tính của sự vật, hiện tượng đó, còn các sự v ật hiện t ượng
khác ta không để ý tới, hoặc để ý tới một cách m ơ h ồ không rõ ràng. S ự
tập trung tư tưởng để nhận thức một số đối tượng hay hiện tượng nào đó
gọi là chú ý
Vậy, “Chú ý là sự tập trung của hoạt động tâm lý vào một hoặc một số đối
tượng nào đó, nhằm phản ánh chúng một cách đầy đủ, rõ ràng nhất .”
c. Sự chuyển hoá từ chú ý không chủ định sang chú ý có chủ định và
ngược lại:
Trong quá trình dạy học khi tổ chức hoạt động chú ý cho tr ẻ, giáo viên
phải tạo ra sự chuyển hoá từ chú ý không chủ định sang chú ý có ch ủ đ ịnh
và ngược lại để đạt được hiệu quả cao hơn bằng cách: Trước hết, tạo ra
chỉ đánh giá xếp loại Khá, thậm chí có những tiết dạy xếp loại Đạt yêu
cầu.
b. Khảo sát thực tế:
Trước khi thực hiện đề tài nghiên cứu để đề xuất ra một số biện pháp gây
hứng thú cho trẻ trong giờ làm quen với môi trường xung quanh ở l ớp 5 –
6 tuổi A3 Trường Mầm Non Hoa Sen – Thị trấn Lập Th ạch – Huy ện L ập
Thạch – Tỉnh Vĩnh Phúc tôi đã có những tiết cho tr ẻ làm quen v ới môi
trường xung quanh như “Tìm hiểu về lớp học của bé”, “Tìm hi ểu về gia
đình bé” “Tìm hiểu về một số loại rau”…, tôi thấy trẻ chưa hứng thú, ch ưa
tập trung chú ý, chưa hưng phấn, sự tham gia tích cực của trẻ còn ít. Nhi ều
trẻ mệt mỏi, không tập trung, không hứng thú, chưa lĩnh hội được các ki ến
thức của bài học, chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục.
Trước những băn khoăn đó, tôi đã tiến hành khảo sát th ực t ế c ủa tr ẻ t ại
lớp 5 - 6 tuổi A3 trường Mầm non Hoa Sen – Huy ện L ập Th ạch – T ỉnh Vĩnh
Phúc do tôi phụ trách về khả năng hứng thú, tập trung chú ý, s ự tham gia
tích cực của trẻ trên tổng số 38 cháu trong giờ làm quen với môi trường
xung quanh như sau:
STT
Khả năng hứng thú, tập trung chú
ý
của trẻ
Kết quả
Số lượng
Tỷ lệ %
0
Như vậy, có 10/38 trẻ = 26,3% trẻ đã hứng thú và chú ý tốt trong quá
trình tôi tổ chức cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, có 15/38
trẻ = 39,5% cháu h ứng thú chưa nhiều chỉ ở mức độ Khá. Còn 13/38 =
34,2% trẻ hứng thú ở m ức độ Trung bình, ch ưa tập trung chú ý nhiều, còn
mệt mỏi trong quá trình học tập.
7.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến:
7.2.1. Biện pháp 1: Đồ dùng, đồ chơi phải đủ, đẹp, hấp dẫn, an toàn
cho trẻ.
Yếu tố quan trọng đầu tiên để lôi cuốn được sự hứng thú của trẻ là đồ
dùng, đồ chơi phải đẹp, hấp dẫn, phong phú sinh đ ộng nh ằm kích thích
hứng thú, tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ và đồ dùng đ ồ ch ơi ph ải đ ảm
báo an toàn cho trẻ trong quá trình sử dụng để tránh gây ra nh ững th ương
tích cho trẻ. Có như vậy thì trẻ mới hứng thú học bài. Cụ thể : Khi s ử dụng
tranh ảnh để dạy trẻ thì tôi đã chọn những tranh còn mới, có màu s ắc t ươi
tắn, đường nét rõ ràng, đẹp. Bức tranh vẽ phải gi ống v ới th ực t ế, có kích
thước vừa phải để trẻ tri giác.
Ví dụ: Khi tổ chức cho trẻ “Tìm hiểu về một số di tích lịch s ử c ủa quê
hương Lập Thạch” thì tôi đã sử dụng một số tranh vẽ về đền thờ Trần
Nguyên Hãn – là một di tích lịch sử nổi tiếng của Lập Thạch ở Xã S ơn
Đông, tranh vẽ về đền Xuân Trạch là một di tích l ịch s ử ở Xã Xuân Hoà –
Huyện Lập Thạch. Những bức tranh mà tôi lựa chọn là nh ững bức tranh
vẫn còn mới, có màu sắc tươi tắn, đường nét rõ ràng, đẹp và có kích th ước
vừa phải. Với những bức tranh đẹp như vậy trẻ rất h ứng thú và ghi nh ớ
rất nhanh về nội dung giúp trẻ lĩnh hội kiến th ức một cách sâu sắc.
Còn khi tôi sử dụng các loại đồ chơi để dạy trẻ thì tôi đã l ựa ch ọn nh ững
đồ chơi còn mới, sạch sẽ, có hình dáng đẹp, giống v ới th ực t ế, có màu s ắc
hứng thú cho trẻ, kích thích khả năng ham hiểu biết của tr ẻ và đ ồ dùng đ ồ
chơi phù hợp với nội dung của tiết học, phù h ợp v ới ch ủ đ ề, phù h ợp v ới
độ tuổi.
Sử dụng đầy đủ đồ dùng trực quan phong phú về chủng loại, đó là tôi đã
sử dụng các loại đồ dùng trực quan như tranh, ảnh, mô hình, đ ồ dùng, đ ồ
chơi, vật thật,… bởi vì trẻ luôn thích cái m ới, cái lạ, n ếu trong gi ờ h ọc tôi
chỉ sử dụng một loại đồ dùng trực quan hoặc tranh ảnh, hoặc đồ ch ơi,
hoặc mô hình thì sẽ gây cho trẻ sự chán nản, nhàm chán.
Ví dụ: Tổ chức cho trẻ “Tìm hiểu về một số loại rau” tôi đã s ử d ụng mô
hình vườn rau để trẻ tham quan, sử dụng rau thật như rau bắp cải, xu hào,
rau muống, rau ngót,…để trẻ quan sát về đặc điểm, hình dạng; sử dụng
rau bằng đồ chơi để cho trẻ chơi trò chơi luyện tập, củng c ố. K ết qu ả là
trẻ rất hứng thú và 100% trẻ trẻ nhận biết được tên gọi, đ ặc đi ểm c ủa
các loại rau đó.
Mặt khác, mỗi loại đồ dùng đồ chơi đều có một ưu đi ểm, h ạn ch ế riêng.
Tranh ảnh thì đẹp nhưng không sinh động, không th ể hiện hết đ ược
những đặc điểm của sự vật, hiện tượng. Vật thật thì giúp trẻ nắm bắt
được đầy đủ, chính xác các kiến thức về đối tượng và sinh động h ơn tranh,
ảnh nhưng không thể có đầy đủ các vật thật cho tất cả các tiết h ọc và
nhiều vật thật không thể cho trẻ chơi trò chơi được, cho nên tôi đã l ựa
chọn nhiều loại đồ dùng trực quan để đưa vào trong tiết dạy và phù h ợp
với nội dung tiết dạy của mình sao cho vừa có th ể thuận tiện cho việc
truyền thụ kiến thức của cô, vừa có thể gây được hứng thú cho tr ẻ, giúp
trẻ tập trung chú ý, quan sát đối tượng, tích cực hoạt đ ộng v ới đ ối tượng
để nắm bắt kiến thức một cách dễ dàng, nhanh chóng, đầy đủ và chính xác.
Việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan phải phù h ợp v ới n ội dung t ừng
tiết dạy. Đối với những tiết chủ đề về môi trường xã hội thì tôi đã l ựa
chọn tranh, ảnh để dạy trẻ.
cách kỹ lưỡng. Mặt khác, trẻ còn được khám phá đối tượng bằng cách
hành động như được sờ, được ngửi, được nếm,… với đối tượng đ ể khám
phá ra đặc điểm của đối tượng một cách dễ dàng, chính xác.
Hoặc khi cho trẻ làm quen với một số loại động vật thì tôi đã chuẩn bị
những con vật quen thuộc, dễ tìm như chó, mèo, gà, vịt, cá, tôm…đ ể cho tr ẻ
quan sát. Khi trẻ quan sát những con vật đó thì trẻ th ấy nó sinh đ ộng, đáng
yêu hơn vì nó là đối tượng quan sát động ch ứ không ph ải là tĩnh nh ư tranh.
Trẻ có thể nhìn thấy con vật nó đi lại, vểnh tai, nghiêng đ ầu, kêu, ăn,
bơi...cho nên với tính chất động của đối tượng quan sát sẽ lôi cu ốn trẻ, thu
hút sự tập trung chú ý của trẻ vào việc quan sát và khám phá đối t ượng.
Ví dụ: Cho trẻ tìm hiểu về “Một số con vật sống dưới nước”, tôi đã cho trẻ
quan sát con cá vàng thật. Trẻ được trực tiếp nhìn thấy con cá vàng bơi tung
tăng, nhìn thấy con cá bơi lên để đớp mồi,…trẻ rất thích thú và tập trung chú
ý quan sát.
Việc sử dụng các đồ dùng trực quan phải được giáo viên sử dụng
một cách linh hoạt sáng tạo. Trong một tiết dạy, cô không nên sử dụng
một loại đồ dùng từ đầu đến cuối mà cô ph ải biết phối h ợp s ử d ụng
nhiều loại đồ dùng trực quan sao cho phù h ợp, linh hoạt theo t ừng ph ần
để giúp trẻ không nhàm chán.
Ví dụ : Trong tiết dạy “Cho trẻ làm quen với một số loại Quả” tôi đã sử
dụng các loại đồ dùng như: Tranh lô tô, vật thật, màn hình, đồ chơi...kết hợp
với nhau sao cho linh hoạt và phù hợp như phần đầu giới thiệu bài cô có thể
cho trẻ đi thăm quan mô hình vườn cây ăn quả, phần cung cấp kiến thức cô
cho trẻ làm quen qua các loại quả thật, phần luyện tập cô cho trẻ chơi trò
chơi qua những đồ chơi quả nhựa, tranh lô tô và cô có thể sử dụng màn hình
đèn chiếu vào các phần trong tiết học sao cho phù hợp với nội dung tiết dạy
và sự thiết kế giáo án của cô.
Khi sử dụng biện pháp này tôi thấy hiệu quả của giờ học đạt rất cao. Nếu
tiện giao thông, được dùng xúc giác để sờ mó vào ph ương ti ện giao thông
để từ đó trẻ sẽ trẻ nắm bắt được những kiến thức về ph ương tiện giao
thông, trẻ có thể dễ dàng so sánh được sự khác nhau của m ột s ố ph ương
tiện giao thông một cách đầy đủ và chính xác nhất.
Ví dụ 3: Tiết dạy “Cho trẻ tìm hiểu về một số loại hoa” tôi đã cho trẻ
sử dụng khứu giác để ngửi xem bông hoa hồng có thơm không? Cho tr ẻ
dùng xúc giác để sờ vào cánh hoa xem cánh hoa có mịn màng không? Cho
trẻ sờ vào lá xem lá có răng cưa không?...
Việc tạo cơ hội cho trẻ sử dụng các giác quan phù h ợp là m ột biện pháp
đạt hiệu quả rất cao để tạo hứng thú, tập trung sự chú ý c ủa tr ẻ, vi ệc tr ẻ
được hành động với đối tượng là sờ mó, nếm, ngửi, nghe…sẽ giúp trẻ r ất
thú vị vì trẻ được trực tiếp hành động, trực tiếp tự mình khám phá - Đó
chính là nhu cầu của trẻ khiến trẻ sẽ có hứng thú, tích cực tham gia hoạt
động để tìm hiểu, khám phá về đối tượng và trẻ được t ự nói lên suy nghĩ,
ý kiến, nhận xét của mình về sự vật hiện tượng từ đó sẽ khắc sâu kiến
thức cho trẻ, giúp trẻ nắm bắt kiến thức một cách chắc chắn h ơn.
7.2.4. Biện pháp 4: Cho trẻ hành động với đối tượng.
Trẻ mẫu giáo có tính hiếu động, thích tò mò, khám phá đó chính là
nhu cầu thiết yếu của trẻ nên trong quá trình dạy trẻ bằng nh ững đ ồ
dùng trực quan cô phải cho trẻ được hành động với đối tượng thông qua
những việc làm cụ thể với đối tượng để thoả mãn nhu cầu của trẻ giúp
trẻ sẽ có hứng thú. Mặt khác, khi cho trẻ hành động v ới đối tượng sẽ giúp
trẻ nắm bắt kiến thức một cách dễ dàng, nhanh chóng và kh ắc sâu ki ến
thức cho trẻ.
Ví dụ: Tiết học “Cho trẻ làm quen với một số con vật”. Muốn cho trẻ
nhận biết được về tập tính như sự đi lại, chạy, nhảy, cách ăn uống của con
vật tôi đã chuẩn bị một số thức ăn cho con vật. Tôi không cho con v ật ăn
mà tôi cho trẻ tự tay đưa thức ăn cho con vật ( cho gà, cá ăn...). Khi trẻ
hấp dẫn cho trẻ mà tôi đã đưa ra những tình huống có vấn đề, những hình
thức sinh động, sáng tạo để lôi cuốn sự tập trung, chú ý, khơi dậy trí tò mò,
khám phá của trẻ
Phần giới thiệu bài cô có thể đưa ra những hình thức như cho trẻ chơi m ột
trò chơi nhỏ, cho trẻ đi thăm quan một vườn rau, vườn hoa.., cho trẻ đi
tham dự sinh nhật hoặc cô kể một câu chuyện ngắn h ấp dẫn t ạo ra tình
huống có vấn đề để lôi cuốn trẻ, thu hút sự chú ý c ủa trẻ.
Việc lựa chọn những hình thức thủ thuật để đưa vào trong phần gi ới thiệu
bài phải phù hợp với nội dung dạy, sao cho sinh động, hấp dẫn v ới tr ẻ.
Những hình thức giới thiệu bài phải luôn thay đổi trong các tiết h ọc đ ể cho
trẻ khỏi bị nhàm chán. Tôi đã sử dụng các loại hình th ức sau:
* Sử dụng mô hình: Mô hình là một loại hình thu nhỏ của các đối tượng. Khi
tổ chức cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh hay bất c ứ m ột ti ết
học nào khác trong chương trình Giáo duc mầm non thì hình th ức mô hình
được sử dụng tạo hứng thú rất hiệu quả.
Ví dụ: Phần giới thiệu bài của tiết dạy “Làm quen với một số loại rau” cô
tôi đã tổ chức cho trẻ chơi một trò chơi “Thi hái rau”. Tôi cho tr ẻ cùng nhau
thi đua chạy ra vườn rau (mô hình vườn rau mà tôi chuẩn bị có rất nhi ều
loại rau như rau xu hào, bắp cải, cà rốt,…) để hái nh ững cây rau r ồi mang
về và trẻ được thi đua như vậy trẻ sẽ rất thích thú, hăng hái mu ốn đ ược
kể về những cây rau mà trẻ mang về và mong muốn cùng cô và các b ạn
khám phá, tìm hiểu về những loại rau đó.
Hoặc đối với tiết dạy “Cho trẻ làm quen với một số loại hoa” ho ặc “Cho
trẻ làm quen với một số loại quả”….Tôi đã cho trẻ đi tham quan một vườn
hoa, cây ăn quả,…( mô hình mà cô chuẩn bị có nhiều loại hoa, qu ả có màu
sắc khác nhau, tươi, đẹp) trẻ sẽ được đi từ trong lớp ra ngoài sân, lúc đó,
trẻ sẽ có hứng thú và mong muốn được quan sát vườn hoa, quả đẹp mà cô
vừa giới thiệu. Mặt khác, trẻ được vận động, được đi ra ngoài tr ời sẽ t ạo
“Rềnh rềnh ràng ràng Chẳng thích khoe màu
Đi chợ mua hàng
Cô hoa lơ đấy
Nhìn các loại rau
Nấu ăn rất ngậy
Lẩn dưới đất sâu
Là bác đỗ xanh
Là anh cà rốt
Vừa ngọt vừa lành
Chín đỏ mi mắt
Rau lang, rau muống
Là chị cà chua
Nấu canh làm nộm
Nấu bát canh cua
Là bác xu hào
Mùng tơi với mướp
cao.
Ví dụ: “Tìm hiểu về một số con vật sống dưới n ước”. Khi tìm hi ểu v ề con
cua thì tôi đã sử dụng câu đố: “ Con gì tám cẳng hai càng
Một mai hai mắt, bò ngang suốt đời”
Hay tìm hiểu về con Tôm thì tôi sử dụng câu đố:
“ Chân gần đầu
Râu gần mắt
Lưng còng co quắp
Mà bơi rất tài
Là con gì? ”
Hay tìm hiểu về con Ốc thì tôi sử dụng câu đố:
“Nhà hình xoắn, ở dưới ao
Chỉ có một cửa ra vào mà thôi
Mang nhà đi khắp mọi nơi
Không đi đóng cửa, nghỉ ngơi một mình
Là con gì?”
Khi tôi vừa đọc câu đố thì trẻ đã rất hứng thú, chú ý lắng nghe xem câu đ ố
đó nói về con gì và trẻ phát biểu rất tích cực.
Như vậy, không những phần giới thiệu bài phải lựa chọn những hình th ức
sinh động, sáng tạo và thay đổi thường xuyên mà trong các ph ần c ủa ti ết
dạy cũng phải lựa chọn những hình th ức sinh động và không đ ược lặp đi
lặp lại nhiều lần.
Đối với phần cung cấp kiến thức cho trẻ thông qua việc cho trẻ tri giác đ ối
tượng tôi cũng đã tạo ra sự mới lạ, hấp dẫn đối với trẻ. Khi đưa ra đối
tượng tôi không cần đưa ngay ra để cho trẻ quan sát mà tôi đã kích thích
sự tò mò của trẻ, tôi đã dùng câu đố để trẻ đoán, có đ ối t ượng thì tôi l ại
đọc một đoạn thơ, hát một đoạn bài hát nói về đối tượng, có đối tượng thì
tôi lại cho vào túi, vào hộp và giới thiệu đó là món quà tặng lớp hoặc đó là
- Cách chơi: Cô chia cho mỗi cháu một bộ lô tô hoa và qu ả. Sau đó cho các
cháu tự lựa chọn các loại hoa sẽ kết thành quả rồi ghép với quả ấy. Thi
xem ai chọn và xếp đúng, nhanh sẽ được thưởng.
Qua trò chơi này trẻ rất hứng thú và khắc sâu được ki ến th ức về các lo ại
hoa, quả.
Với tính chất của trò chơi là vui nhộn, trẻ được hành động bằng tay, chân,
được chạy, nhảy, đi lại ở các trò chơi động và yếu tố thi đua v ới nhau ở
những trò chơi tĩnh đã lôi cuốn trẻ, thu hút s ự chú ý c ủa tr ẻ, giúp tr ẻ có
hứng thú tham gia tích cực vào trò chơi.
Khi đưa trò chơi vào trong tiết dạy, tôi đã chú ý đưa xen kẽ cả trò chơi động
và trò chơi tĩnh để thay đổi không khí cho trẻ và đảm bảo sức khoẻ cho trẻ.
Ví dụ: “Cho trẻ tìm hiểu về các loại quả” thì tôi đã sử dụng trò chơi tĩnh “Ai
nhanh nhất” bằng cách chia cho mỗi trẻ một bộ lô tô về các loại quả, sau mỗi
một hiệu lệnh của cô ví dụ như “Quả bưởi” thì trẻ phải tìm nhanh lô tô về
quả bưởi và giơ lên. Sau đó, tôi lại tổ chức cho trẻ chơi trò chơi động như trò
chơi “Hái quả” bằng cách chuẩn bị rất nhiều loại cây ăn quả, sau đó chiâ lớp
thành 3 tổ thi hái quả, mỗi tổ phải hái đúng một loại quả theo yêu cầu của cô
và khi đi hái quả thì phải vượt qua được các chướng ngại vật mà cô đã chuẩn
bị sẵn,…
Có rất nhiều trò chơi đã được biên soạn để cho trẻ chơi như trò ch ơi: “Thi
xem ai nhanh”, “Chiếc túi kỳ lạ”, “Cái gì biến mất, “Gieo h ạt”…. nh ưng cô
phải biết lựa chọn những trò chơi sao cho phù h ợp v ới n ội dung d ạy tr ẻ,
phải luân phiên thay đổi các trò chơi trong tiết học, không lặp đi lặp lại
nhiều lần và có thể cải biến trò chơi, sáng tạo ra nh ững trò ch ơi m ới đ ể
gây hấp dẫn và hứng thú cho trẻ.
Ví dụ: Trò chơi “Chiếc túi kỳ lạ”, cách chơi như sau: Tôi chuẩn bị một cái túi
trong đó đựng những đối tượng mà trẻ vừa học. Tôi cho m ột tr ẻ lên ch ơi
và nhắm mắt lại, khi tôi gọi tên đối tượng gì thì trẻ cho tay vào túi và ch ọn
+ 3 thảm cỏ làm chướng ngại vật, 3 lọ hoa
- Cách bố trí các đồ chơi: Trước mỗi tổ là thảm cỏ, tr ước thảm cỏ là 3
vườn hoa.
- Cách chơi: Cô cho trẻ xếp thành 3 hàng dọc theo 3 t ổ, c ả 3 t ổ cùng
thi đua với nhau bằng cách cô cho lần lượt cảc tr ẻ trong 3 t ổ lên b ật qua
thảm cỏ tới vườn hoa hái một bông hoa mang về cắm vào l ọ hoa c ủa t ổ
mình. Tổ hoa hồng chỉ được hái những bông hoa hồng, tổ hoa cúc chỉ đ ược
hái những bông hoa cúc và tổ hoa sen sẽ hái những bông hoa sen. Trong
một thời gian, sau một hiệu lệnh là bản nhạc không lời của bài hát “Màu
hoa” sáng tác của nhạc sỹ Hồng Đăng thì trò chơi dừng lại. Sau đó cô và tr ẻ
kiểm tra kết quả bằng cách: Cho cả lớp đếm số bông hoa c ủa m ỗi t ổ, t ổ
nào hái đúng loại hoa và hái được số lượng nhiều hơn là thắng cuộc.
Với những trò chơi mới mẻ, sinh động, hấp dẫn được tổ ch ức thay
đổi trong các tiết học vừa có tác dụng củng cố, ôn luyện ki ến th ức cho tr ẻ
vừa làm thoả mãn nhu cầu chơi của trẻ và khắc sâu được kiến th ức cho
trẻ. Kết quả là trẻ rất hứng thú, tích cực tham gia vào trò ch ơi và nắm bắt
kiến thức một cách chính xác hơn.
7.2.7. Biện pháp 7: Làm thí nghiệm.
Trẻ nhỏ có bản năng tò mò, ham thích khám phá thế giới xung quanh.
Tổ chức cho trẻ được làm các thí nghiệm là khuyến khích và nuôi d ưỡng
tính tò mò ấy. Cách tổ chức các thí nghiệm đơn giản, dễ làm, v ừa s ức v ới
trẻ sẽ kích thích khả năng sáng tạo, sự hứng thú và làm tăng v ốn hiểu bi ết
của trẻ về thế giới xung quanh.
Việc tổ chức cho trẻ làm các thí nghiệm như: Sự nảy mầm của h ạt, s ự tan
ra của đá, nước bốc hơi, vật nổi - vật chìm, cây cần ánh sáng… tr ẻ đ ược
nhìn nhận và tìm hiểu qua thực tế sẽ làm trẻ rất hứng thú.
Ví dụ 1: Làm thí nghiệm “Cây cần ánh sáng”
* Vật liệu:
- Một ít đất trồng cây trộn sẵn.
- Giấy thiếc, bạc (Có thể dùng giấy bọc kẹo, giấy gói hoa)
tượng đó.
Kết quả là: Khi tổ chức cho trẻ được làm những thí nghiệm d ưới s ự
hướng dẫn của cô trẻ rất hứng thú, 100% trẻ đều tích c ực tham gia vào
các hoạt động, kích thích sự tập trung tư duy của trẻ.
7.2.8. Biện pháp 8: Lời nói, thái độ, nét mặt của cô.
Trẻ mẫu giáo rất ưa thích sự nhẹ nhàng, tình cảm nên trong quá trình
dạy trẻ cô phải luôn có thái độ quý mến, gần gũi với trẻ, không đ ược quát
mắng trẻ. Cô luôn đối xử công bằng với tất cả các trẻ trong l ớp, luôn th ể
hiện sự dịu dàng, yêu mến trẻ, thường xuyên giao lưu tình cảm v ới trẻ. Nét
mặt, cử chỉ, ánh mắt dịu hiền với lời nói nhẹ nhàng sẽ giúp cho trẻ có cảm
giác được yêu mến, yên tâm và trẻ sẽ thấy thoải mái, vui tươi khi tham gia
vào các hoạt động. Nhờ vậy mà trẻ sẽ tự tin, vui vẻ, thích thú đ ể tham gia
vào các hoạt động.
Trong khi d ạy trẻ, tôi đã s ử d ụng nh ững l ời nói nh ẹ nhàng, tình
cảm. Cường độ giọng nói của tôi vừa phải, không nói quá to hoặc quá nh ỏ,
nếu nói quá nhỏ thì trẻ sẽ không đủ nghe, nếu nói quá to thì trẻ có c ảm
giác là cô mắng nên trẻ sợ hãi.
Lời nói của cô phải diễn cảm kết hợp với cử chỉ, điệu bô, ánh mắt để
thể hiện đúng nội dung câu nói, đúng hoàn cảnh, nói phải có ng ữ điệu,
ngắt, nghỉ đúng chỗ.
Ví dụ: khi sử dụng lời nói trong phần trò chơi, tôi ph ải nói v ới gi ọng
vui tươi, sôi nổi, thể hiện sự vui nhộn của trò chơi để tạo không khí vui v ẻ
cho quá trình chơi của trẻ từ đó sẽ hấp dẫn lôi cuốn tr ẻ tham gia vào trò
chơi một cách tích cực. Khi tôi nói trong ph ần truy ền đ ạt, cung c ấp ki ến
thức thì tôi phải nói chậm rãi nhưng rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu để trẻ dễ
dàng nắm bắt được kiến thức mà tôi muốn truyền đạt. Hoặc khi k ể m ột
câu chuyện nhỏ trong phần giới thiệu bài thì tôi phải kể diễn cảm th ể
hiện thể hiện được tính cách của nhân vật qua lời nói, k ể phải ch ậm rãi,
non để làm giáo án điện tử Microsoft Office PowerPoint và trình chi ếu cho
trẻ xem, những hình ảnh đó đã giúp trẻ hứng thú và giúp trẻ tìm hi ểu
được những quá trình phát triển của sự vật nào đó trong một th ời gian dài.
Ví dụ1: Khi cho trẻ tìm hiểu, khám phá về sự nảy mầm của h ạt hoặc
sự phát triển của con Bướm,…tôi đã tìm và sưu tầm được nh ững video v ề
quá trình đó và trình chiếu cho trẻ quan sát.
Ví dụ 2: Cho trẻ “Tìm hiểu về một số con vật sống trong rừng” tôi đã
tìm những hình ảnh về các con vật như con voi, con báo, con s ư tử, con h ổ,
con gấu,…và đưa vào Microsoft Office PowerPoint, sau đó trình chi ếu cho
trẻ quan sát. Trẻ được nhìn thấy những con vật thật qua màn hình máy
chiếu đã kích thích hứng thú và sự chú ý của trẻ.
Việc sử dụng màn hình, đèn chiếu cũng là một hình th ức s ử d ụng tr ực
quan đồng thời cũng là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong gi ờ
dạy. Thông qua những cảnh quay, đoạn băng được đưa lên màn hình sẽ t ạo
ra sự thay đổi, sự mới lạ cho trẻ bởi vì tất cả các s ự vật hi ện t ượng trên
thực tế đều có thể quay lại, chụp lại để đưa lên màn hình. Nh ững hình ảnh
có thể là tĩnh như ảnh chụp và có thể là động như cảnh quay và qua nh ững
cảnh quay đã diễn tả lại mọi hoạt động của các s ự vật hiện t ượng và v ới
màu sắc đẹp của hình ảnh, tính thực tiễn sẽ lôi cuốn trẻ, giúp trẻ có hứng
thú tham gia vào việc khám phá kiến thức về đối tượng.
Khi tổ chức các hoạt động giáo dục có sử dụng ứng dụng công ngh ệ thông
tin đã làm cho trẻ rất hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu bi ết ở tr ẻ.
Mặt khác qua việc sử dụng màn hình sẽ mở rộng được nhiều kiến th ức và
khắc sâu kiến thức cho trẻ hơn.
7.2.10. Biện pháp 10: Tổ chức cho trẻ dạo chơi, tham quan.
Dạo chơi, tham quan là hình thức giáo dục đạt hiệu quả cao. B ởi khi
trẻ được đi dạo chơi, tham quan là trẻ được thay đổi không khí môi
trường trong lớp học, trẻ được thay đổi hình thức hoạt động: đ ược đi,
được chạy,…trẻ sẽ rất hứng thú và lĩnh hội kiến th ức bằng cách trải
nghiệm thực tế. Vì vậy, những kiến th ức mà trẻ thu đ ược sẽ chính xác và
Sau khi áp dụng những biện pháp gây hứng thú cho trẻ trong gi ờ làm
quen với môi trường xung quanh vào trong quá trình d ạy trẻ, tôi th ấy có
những kết quả như sau:
+ Về kiến thức: Trẻ đã nắm được tên gọi, cấu tạo, đặc điểm, tính ch ất của
các sự vật hiện tượng. Trẻ phân biệt được sự giống và khác nhau gi ữa các
sự vật hiện tượng, biết được ích lợi, cách bảo quản, cách sử dụng, các mối
liên hệ, quan hệ….giữa các sự vật hiện tượng, trẻ biết đ ược đ ặc đi ểm, ý
nghĩa của một số hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã h ội. T ừ đó tr ẻ lĩnh
hội những kiến thức về khám phá khoa học và khám phá xã h ội m ột cách
tích cực, hứng thú.
+ Về kỹ năng: Trong quá trình cho trẻ làm quen v ới môi tr ường xung quanh
đã hình thành và rèn luyện ở trẻ một số kỹ năng nh ư khả năng quan sát,
khả năng diễn đạt, khả năng phân tích, so sánh, tổng h ợp, phân lo ại, phân
biệt, khả năng ghi nhớ có chủ định. Rèn luyện kỹ năng tô, vẽ, đếm, kỹ năng
vận động nhanh nhẹn, kỹ năng hợp tác,...
+ Về thái độ: Trong quá trình cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh
đã hình thành ở trẻ ý thức học tập, trẻ học ngoan, luôn tập trung chú ý
nghe cô giảng bài, trẻ học rất sôi nổi, hăng hái tham gia phát bi ểu ý ki ến,
nhiệt tình, tích cực tham gia vào các hoạt động, đặc bi ệt là ho ạt đ ộng
nhóm, trẻ luôn có sự phối hợp với nhau, trao đổi, hợp tác tích c ực, ch ủ
động tìm tòi để khám phá những điều mới lạ và lĩnh hội kiến thức một
cách chủ động, tích cực.
Áp dụng các biện pháp gây hứng thú cho trẻ khi tổ ch ức các hoạt động cho
trẻ làm quen với môi trường xung quanh và tổ chức kh ảo sát th ực tế trên
38 trẻ của lớp 5 – 6 tuổi A3 Trường Mầm non Hoa Sen, huy ện L ập Th ạch
về khả năng chú ý và sự hứng thú của trẻ, tôi đã thu được kết quả nh ư
sau:
STT
0
0
* Bảng tổng hợp, so sánh khả năng hứng thú, chú ý của tr ẻ:
Khi chưa áp dụng các Sau khi áp dụng các biện
Khả năng hứng thú, biện pháp gây hứng thú pháp gây hứng thú cho
trẻ
TT tập trung chú ý của cho trẻ
trẻ
Số
Số
Tỷ lệ %
T ỷ lệ %
lượng
lượng
1
Loại Tốt
10/38
26,3
33/38
86,9
2
tuổi trong giờ làm quen với môi trường xung quanh” thì đã được 3 giáo
viên trong tổ 5 – 6 tuổi của trường mầm non Hoa Sen, huyện Lập Thạch áp
dụng đối với các cháu tại lớp 5 tuổi A1, 5 tuổi A2, 5 tuổi A3 và giáo viên đã
thu được kết quả như sau:
Đã có thêm những kiến thức về đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ
để tạo hứng thú phù hợp cho trẻ.
Biết cách tạo hứng thú cho trẻ trong các hoạt động để phát huy đ ược
tính tích cực, chủ động, sáng tạo, kích thích được tính tò mò, ham hiểu biết
và áp dụng các biện pháp tạo hứng thú cho trẻ theo quan đi ểm “Giáo d ục
lấy trẻ làm trung tâm” khi giáo viên tổ chức các hoạt động.
Biết sử dụng linh hoạt các biện pháp tạo hứng thú cho trẻ theo n ội
dung của bài học.
Có nhiều tiết dạy tổ chức cho trẻ làm quen với môi tr ường xung
quanh được xếp loại Tốt.
Có nhiều kinh nghiệm trong việc gây hứng thú cho trẻ trong gi ờ làm
quen với môi trường xung quanh nói riêng và trong các ti ết dạy, các ho ạt
động khác nói chung.
11. Danh sách những cá nhân đã tham gia áp dụng th ử ho ặc áp d ụng
sáng kiến lần đầu:
Số
TT
1
2
3
Tên tổ chức/
Phạm vi/Lĩnh vực
Lập Thạch, ngày 02 tháng 3 năm
2017
Lập Thạch, ngày 02 tháng 3 năm
2017
Thủ trưởng đơn vị
Tác giả sáng kiến
Hà Thị Mai Hương
Nguyễn Thị Thế