SKKN một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp 5 tuổi a1 trường mầm non kim long, năm học 2018 2019 - Pdf 63

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục,
Người dạy rằng: “Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Thực hiện lời dạy của Bác Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến sự
nghiệp giáo dục và coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Nghị quyết Trung
ương II khóa VIII đã xác định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là
nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với ý tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây
dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại; Phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng
đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công
nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công
nghiệp, có tính tổ chức và kỉ luật; có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng
chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”.
Trẻ em hôm nay
Thế giới ngày mai
Trẻ em của thời hiện đại, đã được nghe và giáo dục từ rất sớm từ khi vẫn
còn trong lòng của người mẹ, vì vậy mà UNESCO, 8 tuổi đã là quá trễ để giáo
dục kỹ năng sống. Vì đến độ tuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các
giá trị; trừ khi có sự thay đổi sâu sắc về trải nghiệm trong đời, nếu không thì khó
mà lĩnh hội thêm giá trị sau độ tuổi này. Trẻ từ dưới 2 tuổi đã bắt đầu tiếp thu từ
môi trường sống xung quanh, như giọng nói của người lớn khi trò chuyện với
trẻ, cách thức tiếp xúc với trẻ,…tất cả đều tác động đến sự phát triển của trẻ. Vì
vậy việc hình thành và phát triển kỹ năng sống cần được tiến hành từ bậc học
mầm non.
Thuật ngữ “Kỹ năng sống” bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam vào
những năm đầu thập niên 90 – khi xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp

lý do đó mà tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ lớp 5 tuổi A1, trường mầm non Kim Long, năm học 2018-2019”.
Do khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên chắc chắn đề tài sẽ còn nhiều
thiếu sót, rất mong các bạn đồng nghiệp, các cấp lãnh đạo và hội đồng khoa học
đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn.
2. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp 5
tuổi A1 trường mầm non Kim Long, năm học 2018-2019”
3. Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Đàm Thị Thúy Mai
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường MN Kim Long, huyện Tam Dương.
2


- Số điện thoại: 0979.410.379
E_mail:đ[email protected]
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Đàm Thị Thúy Mai
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 4/2018
7. Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1. Về nội dung của sáng kiến:
7.1.1. Cơ sở lí luận của vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
7.1.1.1.Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về
Rèn luyện các Kỹ năng Cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving
Necessary Skills - SCANS). Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực
khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức…
nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công
việc thu nhập cao”. Cũng trong khoảng thời gian này, tại Úc, Hội đồng Kinh
doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và Phòng thương mại và

Tóm lại, dù xuất phát từ quan điểm chung về kỹ năng sống từ Tổ chức Y
tế thế giới hay UNESCO, nhưng ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt
về quan niệm và nội dung, có nước thực hiện theo đúng chuẩn kỹ năng nhưng
cũng có nước mở rộng thêm chứ không chỉ bao hàm kỹ năng sống là những khả
năng về tâm lý, xã hội. Kỹ năng sống được lồng ghép ở cả giáo dục chính quy
(giáo dục trong chương trình đào tạo) và cả giáo dục không chính quy (hoạt
động ngoại khóa – hoạt động ngoài giờ lên lớp). Những quan niệm, nội dung
giáo dục kỹ năng sống được triển khai vừa thể hiện nét chung vừa thể hiện nét
đặc thù, những nét riêng của từng quốc gia.
7.1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, nội dung giáo dục con người biết đối
nhân xử thế, kinh nghiệm làm ăn để đáp ứng và biến ứng với những thách thức
của thiên tai, … đã được phản ánh khá phong phú qua hệ thống danh ngôn, ca
dao, tục ngữ và những lời dạy của người xưa như :“Học ăn học nói, học gói học
mở”, hay “Lúa mùa thì cây cho sâu, lúa chiêm chì gẩy cành dâu mới
vừa”,...Còn đối với chức năng của giáo dục thì mục tiêu học để làm người hay
nói cách khác là học để biết đối nhân xử thế, học để sống tốt hơn và học để phục
vụ bản thân – gia đình và xã hội đã được quan tâm ngay từ những ngày đầu tiên
của giáo dục Việt Nam. Nhưng có lẽ với mục tiêu và nội dung như thế vẫn chưa
được gọi là kỹ năng sống mà tất cả như là những lời giáo dục để ứng phó với sự
thay đổi của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Thuật ngữ “Kỹ năng sống” bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam vào
những năm đầu thập niên 90 – khi xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp
4


– nền kinh tế thị trường và việc du nhập các nền văn hóa từ các nước bên ngoài
vào Việt Nam hay đó là sự biến đổi của môi trường tự nhiên đã tác động rất lớn
đến con người vì lẽ đó đòi hỏi mỗi người phải học cách thích nghi với những sự
thay đổi đó, từ đây những kỹ năng khác ngoài trình độ học vấn, tư cách đạo đức,

và của nền kinh tế tri thức.
5


Năm học 2007 – 2008, Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa ra phong trào thi
đua “Xây dựng trường học thân thiện , học sinh tích cực”. Phong trào này bắt
đầu được triển khai mạnh mẽ trong hầu hết tất cả các bậc học từ mầm non cho
đến đại học. Ngày 22 tháng 7 năm 2008, một lần nữa Bộ giáo dục và đào tạo đã
ra Chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013.
Kèm với Chỉ thị này là một thông báo về hướng dẫn triển khai phong trào “Xây
dựng trường học thân thiện , học sinh tích cực” năm học 2008 – 2009 và giai
đoạn 2008 – 2013 với mục tiêu liên quan đến kỹ năng sống là: “Rèn luyện kỹ
năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng
làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe,
kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích
khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo
lực và các tệ nạn xã hội”. Cũng trong thời điểm này, một số nhà chuyên môn
cũng bắt đầu nghiên cứu và viết một số tài liệu liên quan đến lĩnh vực kỹ năng
sống. Tác giả Nguyễn Thanh Bình khi tham gia dự án Đào tạo giáo viên Trung
học cơ sở đã cho ra đời Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống – Nhà xuất bản Đại
học Sư phạm Hà Nội năm 2007. Giáo trình đề cập chủ yếu đến những vấn đề đại
cương về kỹ năng sống, một số biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh, … Năm 2009 tác giả Huỳnh Văn Sơn cùng Nhà xuất bản Giáo dục cho ra
đời tài liệu Nhập môn kỹ năng sống với các nội dung cơ bản: những vấn đề
chung về kỹ năng sống và một số kỹ năng sống cơ bản, … Năm 2009, Trung
tâm hỗ trợ sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức diễn đàn Những kỹ năng
thực hành xã hội dành cho sinh viên và thông qua diễn đàn này tài liệu Những
kỹ năng thực hành xã hội dành cho sinh viên cũng đã được xuất bản. Tài liệu là
cẩm nang gồm một số kỹ năng sống và làm việc dành cho những người trẻ trong

phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,...;
- Học để chung sống (learning to live together): gồm các kỹ năng xã hội
như giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể
hiện sự cảm thông;
Như vậy theo quan niệm của UNESCO, KNS là năng lực cá nhân để họ
thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.
KNS còn có nghĩa là khả năng phân tích tình huống và hành vi, khả năng
phân tích hậu quả của hành vi và khả năng tránh một số tình huống nào đó
(UNAIDS, Thái Lan: 1995). Ngoài ra “Kỹ năng sống” còn có nghĩa là khả năng
ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống:
+ Đó là khả năng sống (lead daily life) cuộc sống hàng ngày của mỗi
người ( với nhiều tình huống khác nhau) một cách hợp lý và có ích cho người
khác.
7


+ Đó là khả năng mà mỗi người ứng xử, ứng phó trước các tình huống
trong cuộc sống.
+ Đó là khả năng của mỗi người làm chủ bản thân, ứng xử với những
người khác và với xã hội một cách hợp lý trong cuộc sống hàng ngày của mình.
Như vậy, có nhiều định nghĩa rất rõ về kỹ năng sống, nhưng có thể nêu
một cách ngắn gọn: kỹ năng sống là khả năng tự chủ, khả năng tự đưa ra quyết
định, khả năng nói không và khả năng thích nghi, biết chấp nhận, hóa giải được
những tác động tiêu cực trong cuộc sống xung quanh.
Giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xã
hội hiện đại . Giáo dục cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm
giúp trẻ có thể chuyển kiến thức , thái độ , cảm nhận thành những khả năng thực
thụ , giúp trẻ biết xử lý hành vi của mình trong các tình huống khác nhau trong
cuộc sống .
7.1.1.4. Sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

bước vào cuộc sống xã hội với mọi thứ đều mới mẻ, cho nên đồng hành với việc
dạy kiến thức cho trẻ, phải dạy cả các kỹ năng sống cơ bản: kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng bảo vệ, kỹ năng tự phục vụ bản thân... nhằm giúp trẻ phát triển một số
giá trị, nét tính cách, phẩm chất cần thiết phù hợp với lứa tuổi như: mạnh dạn, tự
tin, độc lập, sáng tạo, linh hoạt, tự giác, dễ hòa nhập, dễ chia sẻ... hình thành nếp
sống văn minh, có hành vi ứng xử, giao tiếp theo qui tắc, chuẩn mực phù hợp...
Không những vậy, kỹ năng sống còn rèn luyện cho trẻ biết cách xử lý tình huống
trong từng hoàn cảnh cụ thể, bày tỏ tình cảm phù hợp, đúng lúc, biết tránh
những vật, những nơi không an toàn, gây nguy hiểm đến tính mạng và cách
phòng tránh, tự lập trong các tình huống quen thuộc, có một số kỹ năng tự phục
vụ, hợp tác, có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng.
Trong nghị quyết 161 của Thủ tướng Chính phủ về các chính sách phát
triển giáo dục Mầm non có quy định Điều 3 về xây dựng và đổi mới chương
trình chăm sóc giáo dục mầm non. Trong chương trình giáo dục đó đã chú ý đến
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non thông qua các tình huống đặt ra hàng
ngày, qua truyện kể và qua trò chơi. Tuy nhiên, những yêu cầu này chưa được
đặt ra thành yêu cầu về nội dung có tính hệ thống mà mới chỉ được thực hiện lẻ
tẻ trong một vài chương trình ở một số cơ sở giáo dục mầm non. Cho nên vấn đề
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi không chỉ như
một mục tiêu giáo dục mà còn như một nhiệm vụ giáo dục cụ thể, cần thiết, vì
trẻ mẫu giáo lớn đã hình thành cơ sở ban đầu của hành vi, tính cách và nhân
cách, việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ không chỉ vì mục đích bảo vệ sức khỏe,
mà còn nhằm giáo dục hình thành nhân cách, tình cảm đạo đức và chuẩn bị tâm
thế tốt cho trẻ trước khi bước vào trường phổ thông.
Mỗi người khi sinh ra đều không thể có khả năng làm được mọi thứ một
cách ngẫu nhiên. Đó là kết quả của quá trình tiếp thu, thích nghi với các tri thức,
kinh nghiệm xã hội lâu dài. Và lẽ dĩ nhiên, trẻ em khi sinh ra không thể tự nhiên
có được kỹ năng sống như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng
9


diện, bền vững, có khả năng thích ứng và chống chọi với mọi biến động xã hội,
biết tự khẳng định mình trong cuộc sống...
Trẻ em là giai đoạn học, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triển
nhân cách, do đó cần giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để trẻ có nhận thức đúng và
có hành vi ứng xử phù hợp ngay từ khi còn nhỏ.
10


Ngày nay, cuộc sống no đủ hơn, cha mẹ tấp nập lo công việc, kiếm thật
nhiều tiền để lo cho con cuộc sống đầy đủ, thuê giúp việc chăm sóc cho con cơm
đưa tận miệng, quần áo có người mặc hộ, giày dép có người xỏ, quần áo có
người giặt, ngã thì có người nựng, người nâng... Lớn hơn một chút đi học có
người đưa đi, học bài thì có sách giải mà không cần suy nghĩ, đi học thì cô giáo
đọc cho chép về học thuộc, bị bắt nạt thì chỉ biết khóc hoặc mách cô giáo mà
không biết cách tự giải quyết, cả ngày chỉ biết lao vào học, điện tử, máy tính,...
Cha mẹ luôn cho rằng con nhỏ thì không nên bắt con vào khuôn phép mà
mất đi nét hồn nhiên của trẻ vì vậy luôn bao bọc, nựng con, tất cả mọi việc đều
làm giúp con, không cho con ra chơi ngoài vì sợ bị ngã đau. Nhưng cha mẹ có
biết chính cha mẹ đã tước đi quyền tự do của con, không cho con được nói,
không cho con được làm và đến khi quay đầu lại cha mẹ mới biết con mình nó
quá thụ động, nhu nhược, quá nhút nhát, quá hiếu động, vô nguyên tắc… Và cha
mẹ nhận ra rằng có điều gì đó thật sự không ổn với con của chính mình. Càng lo
lắng hơn, bạn càng cố giữ con trong vòng tay bảo vệ của bố mẹ, và thế là như
một cái vòng luẩn quẩn. Con càng ngày càng mất đi năng lực thích nghi và điều
khiển chính cuộc sống của mình lúc đó mới đi tìm đến những cơ sở giáo dục để
định hướng lại nhân cách cho con. Nhưng cha mẹ đâu có biết, cái nôi của sự
giáo dục nguyên tắc của con đều xuất phát từ gia đình. Ngay từ đầu cha mẹ thổi
nguyên tắc vào cho con, dạy con biết nói cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi, dạy con biết
cách tự lập như phục vụ bản thân, dạy con biết bảo vệ bản thân “ngã phải tự
đứng lên, phải làm gì khi bị người khác bắt nạt mà không phải mách cô giáo,

- Nhận thức về tình cảm, ý tưởng và giá trị của mình;
- Tự chấp nhận bản thân trước khi trẻ chấp nhận người khác một cách tự
nguyện, cảm nhận sự chấp nhận của người khác (Người thân, cô giáo, bạn bè…)
và sự chấp nhận của trẻ đối với mọi người.
* Nội dung rèn luyện kĩ năng tự nhận thức
Để hình thành kĩ năng tự nhận thức, giáo viên và các bậc phụ huynh cần
giúp các con tìm hiểu bản thân thông qua một số câu hỏi như:
- Con là ai?
- Con thấy mình như thế nào? Con có những đức tính tốt đẹp nào?
- Con thích điều gì/cái gì ? và không thích điều gì/cái gì ?
- Con thường làm tốt những việc gì và chưa làm tốt những việc gì ?
- Con mong muốn điều gì?
- Con có những thuận lợi gì để thực hiện mong muốn ấy?
- Điều gì gây khó khăn cho con khi thực hiện mong muốn ấy?
Giáo viên cũng có thể khuyến khích trẻ khám phá bản thân một cách
khách quan bằng cách tìm kiếm những người đáng tin cậy của trẻ như cha mẹ,
bạn bè,…để phân tích khả năng của mình.
- Bạn bè nhận xét về con như thế nào?
- Có những điểm gì khác biệt giữa những cảm nhận của con với những
nhận xét của mọi người?
12


- Con sẽ làm gì đối với những việc con làm chưa tốt? Ai có thể giúp đỡ
con làm tốt những việc đó?
* Cách tiếp cận trong giáo dục và rèn luyện kĩ năng nhận thức ở trẻ
- Chấp nhận sự đa dạng ở trẻ và giúp trẻ chấp nhận lẫn nhau (Không chê
trách trẻ, luôn nói đến ưu điểm của trẻ,…)
- Nhấn mạnh sự giống nhau nhưng trân trọng sự khác biệt.
+ Giáo viên không nên phân biệt đối xử với bất kỳ trẻ nào, giáo viên nên

nhân ái nhanh chóng đẩy lùi tính ích kỷ và nhỏ nhen khi nào cũng chỉ biết chăm
lo cho cá nhân mình mà thôi.
* Nội dung hoạt động phát triển kĩ năng tự phục vụ
13


Đối với trẻ mẫu giáo lớn, trẻ đã có khả năng làm những công việc tự phục
vụ như:
- Kê bàn ghế
- Mặc, cởi quần áo
- Tự buộc, cởi dây giày
- Cất đồ dùng cá nhân: ba lô, giày, mũ,.. đúng nơi quy định
- Lấy và cất đồ dùng đồ chơi đúng vị trí
- Phơi khăn, úp cốc.
- Tự rửa tay, rửa mặt, chải răng hàng ngày
- Chải đầu, buộc tóc
- Gấp chăn
- Tự xúc ăn và dọn dẹp bàn ăn
- Biết đi vệ sinh đúng nơi quy định và sử dụng một số dụng cụ vệ sinh.
7.1.1.6.3. Hình thành sự tự tin
* Thế nào là tự tin?
- Tự tin là một đức tính chỉ có thế có được nhờ vào việc rèn luyện và học
hỏi. Sự tự tin lớn dần lên nhờ vào cảm giác được yêu thương, tôn trọng và thấy
mình có giá trị.
- Tự tin là mạnh dạn, không sợ nói trước đông người.
- Tự tin là dám làm điều mình nghĩ.
- Tự tin là bày tỏ cảm xúc của mình với người khác mà không e ngại.
* Làm thế nào để phát triển sự tự tin ở trẻ?
- Tôn trọng trẻ, giúp trẻ xây dựng hình tượng tốt của chính mình
+ Bất kì ai cũng có lòng tự tôn và nhu cầu được người khác tôn trọng. Sự

những điều mà trẻ không tự tin.
7.1.1.6.4. Kĩ năng quan hệ xã hội
* Kĩ năng quan hệ là gì?
+ Kĩ năng quan hệ của một cá nhân là cách tạo quan hệ và tương tác cũng
như cảm giác thoải mái mà người đó có khi đồng hành cùng một người hoặc một
nhóm người khác. Phát triển kĩ năng này là một nhiệm vụ phức tạp đối với trẻ.
+ Trẻ ứng xử theo cách trẻ chấp nhận được trong những tình huống khác
nhau. Trẻ biết điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với hoàn cảnh.
+ Để thực hiện tốt kĩ năng quan hệ xã hội trẻ cần có kỹ năng giao tiếp và
kỹ năng lắng nghe
* Nội dung phát triển các kĩ năng quan hệ xã hội.
- Trẻ học cách giao tiếp ứng xử với mọi người.
- Trẻ học cách kiểm soát những cảm xúc riêng của mình
+ Tất cả mọi người đều có cảm xúc và cảm xúc của trẻ cũng quan trọng
như cảm xúc của người khác.
15


+ Có những cảm xúc tích cực: Vui sướng, thân thiện, yêu thương, thoải
mái, ...
+ Có những cảm xúc tiêu cực : tức giận, sợ hãi, ghen ghét,...
+ Những cảm xúc của con người là hết sức bình thường
+ Bày tỏ cảm xúc của mình cho người khác: cha mẹ, cô giáo, bạn bè,... là
rất quan trọng.
+ Cần phải học cách thể hiện những cảm xúc tiêu cực một cách phù hợp.
Biết kiềm chế cảm xúc tiêu cự khi được người khác động viên, an ủi.
- Trẻ đối mặt với những kinh nghiệm giải quyết vấn đề : Khi trẻ có cơ hội
giải quyết vấn đề, chúng sẽ học được cái gì là đúng, cái gì là sai. Cũng như vậy
nếu người lớn hỗ trợ cho trẻ thì trẻ sẽ học được cách đưa ra quyết định khi gặp
khó khăn.

Hợp tác là cùng nhau làm một việc vì một mục đích chung ;
Hợp tác là cùng nhau làm việc bằng sự kiên nhẫn và lòng thích thú.
* Tầm quan trọng của hợp tác và chia sẻ
16


Hợp tác là quan trọng vì có những việc mỗi cá nhân không thể tự làm
được, nếu được người khác giúp đỡ thì ta sẽ hoàn thành được công việc một
cách nhẹ nhàng hơn. Khi chúng ta kết hợp năng lực làm việc của mình với người
khác theo cùng một mục đích chung, đó chính là sự hợp tác. Nhờ đó ta mới có
thể hoàn thành nhiệm vụ của mình nhanh chóng và dễ dàng hơn là tự mình làm
lấy. Qua đó, ta có niềm vui, có bạn bè bên cạnh chia sẻ công việc.
* Nôi dung phát triển kỹ năng hợp tác, chia sẻ:
- Thúc đẩy sự phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ bằng cách giúp trẻ học
cách hòa nhập với những trẻ khác.
- Tạo các cơ hội cho trẻ chơi và làm việc với những trẻ khác.
- Giúp trẻ học cách tham gia vào một trò chơi.
- Tạo những sự cảm nhận giúp trẻ tôn trọng những quyền lợi của trẻ khác
qua việc chia sẻ.
+ Chỉ cho trẻ thấy khi nào là chia sẻ.
+ Hướng dẫn trẻ cách cư xử lịch sự với các bạn trong lớp
+ Cho trẻ cơ hội để được tham gia cùng nhau trong một nhóm.
Ý nghĩa: Khi mỗi người luôn luôn chú ý đến kỹ năng hợp tác và chia sẻ
trong khi sống và làm việc cùng với người khác thì tính khả thi của vấn đề được
giải quyết một cách nhanh nhất. Mỗi người sẽ học được nhiều điều từ người
khác. Đó cũng chính là xu thế trong thời buổi của “nền kinh tế tri thức” và sự
phát triển ngày cao của xã hội.
7.1.2.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
a) Thuận lợi
Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Sở, Phòng giáo dục, ban giám hiệu

rèn luyện thường xuyên.
Kĩ năng tổ chức các hoạt động giáo dục còn hạn chế.
Giáo viên còn ngại trong việc thiết kế và sưu tầm các trò chơi mới lạ cho
trẻ, đa số là sử dụng những trò chơi cũ, không mang lại hứng thú cho trẻ, do đó
trẻ không tích cực và hứng thú tham gia hoạt động.
Trình độ chuyên môn, kĩ năng tuyên truyền của giáo viên không đồng đều
làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác truyền thông. Nội dung công tác phối
hợp còn sơ sài, đôi khi thiếu tính thực tế và không phù hợp và chưa được cập
nhật thông tin kịp thời dẫn đến hiệu quả chưa cao, chưa thu hút được sự quan
tâm của các bậc phụ huynh.
Khối lượng công việc lớn, nên thời gian dành cho công tác phối hợp với
cha mẹ trẻ, cộng đồng còn chưa được nhiều.
* Về phụ huynh
18


Nhận thức của các bậc phụ huynh chưa đồng đều. Một số cha mẹ trẻ luôn
nóng vội trong việc dạy con, do đó khi trẻ đi học về mà chưa biết đọc, biết viết
biết làm toán là cảm thấy lo lắng một cách thái quá. Bên cạnh đó thì một số phụ
huynh lại nuông chiều, bao bọc con quá khiến trẻ trở nên thụ động và ít có khả
năng tự phục vụ theo lứa tuổi.
Một số phụ huynh chưa phối hợp tốt với giáo viên trong công tác chăm
sóc, giáo dục trẻ.
* Về trẻ:
Trẻ chưa có những kĩ năng cơ bản: kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng hợp tác, chia sẻ, …
Trẻ chưa tích cực trong các hoạt động, một số trẻ còn nhút nhát, ngại giao
tiếp với giáo viên và người lạ.
Trẻ chưa biết chia sẻ, giao lưu hợp tác với bạn, thể hiện: khi chơi chưa
biết ngường nhịn bạn, còn tranh giành đồ chơi của nhau, chơi riêng lẻ, ít phối

26/34

77

2

Kỹ năng tự phục vụ

15/34

44

19/34

56

3

Hình thành sự tự tin

12/34

35

22/34

65

4


Trước thực trạng trên, với trách nhiệm là một nhà giáo tôi nhận thấy cần
phải có biện pháp để nâng cao chất lượng trong việc giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ. Qua nghiên cứu tôi thấy có rất nhiều biện pháp để giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ sau đây tôi xin đưa ra một số biện pháp mà bản thân đã áp dụng có hiệu
quả:
7.2.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường học tập an toàn, lành mạnh
và đầy hứng khởi.
Môi trường (môi trường vật chất, môi trường tinh thần) học tập rất quan
trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Ở một môi trường trẻ cảm thấy thực
sự an toàn và thoải mái thì trẻ mới tự do khám phá và thể hiện mình.
 Cách tiến hành:
- Môi trường tinh thần: Giáo viên luôn giữ bầu không khí vui vẻ thoải
mái, không quát mắng, dọa nạt trẻ luôn tạo cho trẻ cảm giác an toàn và được yêu
thương.
- Môi trường vật chất:
+ Trang trí lớp học đẹp mắt phù hợp với chủ đề giáo dục.
+ Sắp xếp các góc chơi hợp lí, nên thay đổi góc chơi để thu hút sự chú ý
của trẻ.
+ Bổ sung đồ chơi thường xuyên và theo chủ đề giáo dục.
 Yêu cầu sư phạm
- Đồ chơi phải đảm bảo thẩm mĩ, an toàn với trẻ và có tính giáo dục.
- Tránh lạm dụng tranh ảnh, tranh phải treo vừa tầm mắt của trẻ không
treo quá cao hay quá thấp.
- Sắp xếp đồ chơi hợp lí không quá cao đối với trẻ.
- Sắp xếp các góc chơi tạo không gian mở cho trẻ hoạt động.

( Ảnh trang trí nhóm lớp theo chủ đề )
7.1.2. Biện pháp: Làm gương, làm mẫu
20


+Tiếng động: Giáo viên sử dụng ngôn ngữ của mình và của trẻ làm cho
không khí được vui vẻ, thu hút được trẻ vào các hoạt động.
+ Hình dáng: Giáo viên tạo dáng điệu, cử chỉ ngộ nghĩnh, hài hước thu
hút sự chú ý của trẻ. Có thể nhập vai một số nhận vật thiếu nhi mà trẻ yêu thích
hoặc tạo dáng những con vật đồ vật đáng yêu, gần gũi với trẻ.
- Giới thiệu trò chơi: Có thể lồng trò chơi vào các câu chuyện cổ tích,
chuyện vui để tạo sự háo hức, hứng thú. Tuy nhiên cần ngắn gọn và hấp dẫn.
- Hướng dẫn cách chơi, luật chơi: Tuỳ theo mỗi trò chơi mà giáo viên
linh động hướng dẫn. Có những trò chơi phức tạp cần hướng dẫn đầy đủ trước
rồi mới chơi, nhưng cũng có những trò chơi đơn giản thì có thể chơi ngay, vừa
chơi thử vừa giải thích, làm sao cho dễ hiểu, dễ nắm bắt như vậy mới thu hút trẻ.
- Chơi thử:
+ Nếu thử nhiều: khi chơi thật sẽ nhàm chán.
+ Nếu không chơi thử hoặc chơi thử quá ít thì trẻ chưa nắm được cách
chơi sẽ gây khó khăn cho giáo viên khi hướng dẫn chơi.
- Tổ chức cho trẻ chơi thật.
- Phân tích và rút ra bài học.
 Yêu cầu sư phạm:
- Khi chơi giáo viên nên cùng chơi với trẻ để tránh khoảng cách và động
viên khích lệ người chơi cần trọng tài.
- Khi chơi giáo viên phải quan sát người chơi (vòng tròn) nhất là khi chơi
với trẻ em để biết được thái độ, cử chỉ, phong cách … từ đó giáo dục điều chỉnh
phong cách của mình.
- Trong quá trình chơi, giáo viên có thể chuyển hướng khác với dự kiến
ban đầu, khéo léo linh động dẫn đắt. Đừng quá nguyên tắc, cứng nhắc làm mất
không khí vui tươi.
- Giáo viên phải công bằng xử lý tình huống một cách khách quan, không
thiên vị, không quá dễ dãi.
- Tác phong giáo viên phải chuẩn mực, ngôn ngữ phải sư phạm không thô
thiển, phong cách vui tươi, dí dỏm, duyên dáng.

- Không nên phê bình, chê bai trẻ một cách quá thẳng thắn.

( Ảnh trẻ đạt giải bé thông minh nhanh trí)
7.1.5. Biện pháp 5: Thiết kế và phát huy năng lực điều khiển hoạt động
nhóm.
Biện pháp này nhằm giúp mọi trẻ tham gia một cách chủ động. Tạo cơ hội
cho trẻ có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề.
Nhờ việc thảo luận trong nhóm nhỏ mà sự hiểu biết của trẻ trở nên sâu sắc và
bền vững hơn. Trẻ sẽ nhớ nhanh và lâu hơn do được giao lưu với những thành
viên trong nhóm. Không khí thảo luận trong nhóm khiến trẻ thoải mái, tự tin và
học được cách lắng nghe hoặc trình bày ý kiến của bản thân một cách tốt hơn.
 Cách tiến hành:
- Giáo viên nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo
luận cho nhóm, quy định thời gian thảo luận, phân công vị trí của mỗi nhóm để
tiến hành thảo luận.
- Các nhóm tiến hành thảo luận.
- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của các nhóm. Các
nhóm lắng nghe, chất vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến.
- Giáo viên tổng kết các ý kiến.
24


 Yêu cầu sư phạm
- Có thể vận dụng nhiều cách khác nhau để chia nhóm như: điểm danh,
theo giới tính, theo màu sắc, theo biểu tượng…
- Số lượng trẻ ở mỗi nhóm tuỳ thuộc vào vấn đề thảo luận. Tuy nhiên,
không nên quá đông hoặc quá ít.
- Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau.
- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và kết quả thảo luận cho các nhóm.
- Cần bầu ra trưởng nhóm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status