1
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ
RỦI RO TRONG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN XIN VAY VỐN TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH
NAM HÀ NỘI
1. Mục tiêu định hướng hoạt động tín dụng năm 2009
Căn cứ vào kết quả đạt được trong năm 2008 và tình hình thực tiễn, những
xu hướng triển vọng trong năm tới, kế hoạch hoạt động kinh doanh của chi
nhánh dự kiến năm 2009 với những mục tiêu như sau:
- Nguồn vốn huy động tại địa phương: tăng 15% so với năm 2008.
- Dư nợ địa phương: 2.020 tỷ đồng, tăng 10% so với năm trước.
- Tỷ trọng dư nợ trung dài hạn: 50% tổng dư nợ địa phương.
- Tỷ lệ nợ xấu: 2%/tổng dư nợ địa phương
Kế hoạch tăng trưởng dư nợ cho vay doanh nghiệp năm 2009 như sau:
TT Chỉ tiêu Dư nợ
Dự kiến
tăng trưởng
năm 2009
I Dư nợ cho vay theo loại hình DN 1,758,281 2,109,937
- DN lớn 715,316 858,380
- DN nhỏ và vừa 1,042,964 1,251,557
II Cơ cấu đầu tư vốn tín dụng 0
1 Cho vay ngắn hạn 1,051,984 1,262,381
1.
1
Cho vay các ngành KT 1,051,984 1,262,381
2
1
Cho vay Nông nghiệp nông thôn(thu
mua gao)
0
Thứ hai, thu nhập thông tin từ bên ngoài hệ thống ngân hàng:
Ngân hàng nên phát triển hệ thống thu thập thông tin bên ngoòai hệ thống
thông qua việc kết nối mạng lưới máy tính của ngân hàng với ngân hàng nhà
nước, với các ngân hàng thương mại khác, với các trung tâm thông tin trong
nước cũng như quốc tế. Đây sẽ là kho dữ liệu để ngân hàng khai thác.
Bên cạnh đó, để có các thông tin chính xác hơn về tình hình tài chính, về
quan hệ thanh toán… của chủ đầu tư, ngân hàng có thể khai thác thông tin từ cơ
quan thuế, các bạn hàng của chủ đầu tư để từ đó so sánh, đối chiếu với thông tin
do doanh nghiệp cung cấp.
Ngoài thu thập thông tin thì xử lý thông tin và lưu trữ thông tin cuãng là
vấn đề quan trọng. Do nội dung đa dạng, thông tin lại thu thập từ nhiều nguồn
chính vì vậy xử lý thông tin cần phải nhanh chóng, chính xác và hợp lý. Thông
tin sau khi đã được xử lý thì cần phải được các cán bộ lưu trữ lưu giữ lại để làm
cơ sở tham khảo cho những lần đánh giá sau.
2.2.Giải pháp về cán bộ thẩm định cả về số lượng và chất lượng
4
Trong hoạt động đánh giá rủi ro trong thẩm định thì năng lực, chất lượng
của đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thẩm định rủi ro. Trong thời gian tới ngân
hàng cần quan tâm tới việc cải thiện tình hình cán bộ cả về chất lượng và số
lượng.
Để nâng cao chất lượng của công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định thì
ngân hàng cần phải có một chiến lược dài hạn về nguồn nhân lực. trong chiến
lược này thì cần nêu rõ những yêu cầu, mục tiêu hướng tới trong chiến lược phát
triển của ngân hàng. Một cán bộ thẩm định giỏi là cán bộ có kiến thức chuyên
môn tốt và có đạo đức nghề nghiệp, đây là hai yếu tố để tạo nên một cán bộ có
chất lượng. Để đạt được hai yêu cầu đó, ngân hàng noogn nghiệp và phát triển
nông thôn cần chú ý tới một số giải pháp sau:
Về số lượng: Ngân hàng cần tiết tục tổ chức các cuộc thi tuyển để nhanh
chóng đạt tới con số cần thiết, từ đó giảm bớt được gánh nặng và cường độ công
Thứ tư, ngân hàng cần có chế độ đãi ngộ thích hợp. trong quá trình hoạt
động kinh doanh, ngân hàng cần có chính sách tốt nhằm kích thích tinh thần làm
việc, sự sáng tạo của nhân viên thông qua chính sách khen thưởng thành tích,
xây dựng các chương trình phúc lợi cho cán bộ nhân viên…
6
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một giải pháp tốt và là cơ sở để
ngân hàng phát triển trong dài hạn. Nó không chỉ có tác động tích cực tới công
tác đánh giá rủi ro mà còn với mọi hoạt động khác của ngân hàng.
2.3.Đẩy mạnh công tác hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro
Qua phân tích ví dụ minh họa ở chương 2, chúng ta nhận thấy quy trình quản lý
rủi ro trong hoạt động thẩm định dự án nhỏ của ngân hàng còn sơ sài, bởi vậy
ngân hàng cần khắc phục bằng cách đánh giá rủi ro trên tất cả cấc khía cạnh của
tất cả các dự án theo sơ đồ sau:
Thẩm định cơ sở pháp lý của dự ánThẩm định về thị trường, sản phẩmThẩm định khả năng cung cấp, đáp ứng nguyên vật liệu đầu vàoThẩm định các điều kiện vĩ môThẩm định về kỹ thuật, công nghệ
Rủi ro về cơ chế chính sáchRủi ro về thị trườngRủi ro về cung cấpRủi ro kinh tế vĩ môRủi ro về kỹ thuật, vận hànhRủi ro về thi công, xây dựng
Thẩm định về phương diện tổ chức, quản lý thực hiện dự án
Thẩm định hiệu quả tài chính dự án
Rủi ro về khả năng trả nợ của dự án
Rủi ro tổng hợp về dự án xin vay vốn
7
2.4.Đa dạng hóa các phương pháp phân tích rủi ro.
Có thể thấy, ngân hàng chủ yếu sử dụng các phương pháp định lượng để
đánh giá rủi ro của dự án đầu tư. Tuy nhiên, các phương pháp định tính mới chỉ
đánh giá được rủi ro trên các khía cạnh độc lập. Để khắc phục hạn chế đó, ngân
hàng cần sử dụng các phương pháp định tính khác như phương pháp ma trận
SWOT, mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter….
Phương pháp ma trận SWOT:
8
S – Strength ( điểm mạnh ) W – Weakness ( điểm yếu )
O – Opportunity ( cơ hội ) T – Threat ( thách thức)
- Đối thủ của công ty đang làm gì?
- Đang có những thay đổi gì liên quan tới sản phẩm của công ty?
- Thay đổi công nghệ có ảnh hưởng tới vị trí của công ty hay không?
Tiến hành phân tích này đồng nghĩa với việc chỉ ra những gì cần thiết để
làm và đặt các vấn đề vào tầm ngắm. Điểm mạnh và điểm yếu thường là xuất
phát từ nội tại trong tổ chức của mỗi doanh nghiệp. Cơ hội và nguy cơ thường
liên quan tới những nhân tố từ bên ngoài. Vì thế có thể coi SWOT là một công
cụ quan trọng do có tầm quan sát lớn đối với một tổ chức.
10
Phương pháp ma trận BCG
Phương pháp này tập trung vào phân tích 2 yếu tố: tỷ lệ tăng trưởng và
mức chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm dự án. Mô hình này nên áp dụng khi
phân tích rủi ro về cung cầu thị trường của sản phẩm dự án.
Tỷ lệ tăng trưởng
I IV
II V
Mức chiếm lĩnh thị trường
Ma trận BCG hay còn gọi là ma trận quan hệ tăng trưởng và thị phần được
xây dựng vào cuối thập kỷ 60 thế kỉ XX. Nguyên tắc cơ bản của ma trận này
chính là đề cập tới khả năng tạo ra tiền thông qua việc phân tích danh mục sản
phẩm của công ty và đặt nó vào ma trân như trên.Các công ty sẽ phải xác định
được tốc độ tăng trưởng của từng sản phẩm cũng như thị phần của từng sản
phẩm này để đặt vào trong ma trận. Ma trận BCG đơn giản hóa chiến lược thông
qua hai yếu tố là tốc độ tăng trưởng sản phẩm và thị phần. Nó giả định rằng để
có được tốc độ tăng trưởng cao thì phải sử dụng nhiều nguồn lực ( và tiền) hơn.
Nó không chỉ áp dụng cho sản phẩm mà có thể sử dụng để phân tích các bộ phận
hay công ty con của công ty giúp phân phối lại nguồn lực trong công ty.
Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter
Đe dọa từ đối thủ tiềm ẩn