Phương pháp dạy luyện từ và câu khái niệm từ láy - Pdf 63

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Tiểu học là bậc học rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình
thành nhân cách của học sinh. Nội dung chương trình ở bậc Tiểu học có nhiều môn
học, các môn học này rất đa dạng và phong phú. Song chúng luôn tác động cho nhau
giúp học sinh phát triển toàn diện. Trong nội dung các môn học thì môn Tiếng Việt là
môn học hết sức quan trọng. Nó là công cụ cần thiết để học tốt các môn học khác. Học
tốt môn Tiếng Việt sẽ góp phần giáo dục nhân cách và cung cấp cho các em kiến thức
cơ bản để hình thành những kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe- nói- đọc- viết) đáp ứng
nhu cầu cuộc sống và yêu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ. Trong môn Tiếng việt có phân
môn Luyện từ và câu nó có tính chất tổng hợp, có mối quan hệ chặt chẽ với việc học
tập: tập đọc- kể chuyện-luyện từ và câu- tập làm văn. Đây là nơi tiếp nhận và cũng là
nơi luyện tập ngày càng nhuần nhuyễn kỹ năng và kiến thức của các phân môn trên.
Phân môn Luyện từ và câu trở thành sản phẩm tổng hợp là nơi trình bày kết quả đích
thực nhất của việc học Tiếng việt. Phân môn Luyện từ và câu là một tên gọi mới
trong chương trình thay sách giáo khoa sau năm 2000, thực chất nó là phân
môn bao gồm nội dung hai phân môn trong chương trình cũ là Ngữ pháp và Từ
ngữ. Phân môn Luyện từ và câu là một trong những phân môn quan trọng trong
môn Tiếng việt. Nó bao gồm toàn bộ các quy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kết
hợp từ thành cụm từ, câu, các quy tắc liên kết cấu tạo thành đoạn văn và văn
bản (ở Tiểu học gọi là đoạn và bài). Luyện từ và câu còn chi phối việc sử dụng
các đơn vị ngôn ngữ để tạo thành lời nói, làm cho ngôn ngữ thực hiện được
chức năng công cụ giao tiếp trong đời sống xã hội. Luyện từ và câu có vai trò
quan trọng trong việc tổ chức hoạt động tạo lập và lĩnh hội ngôn bản, hướng
dẫn học sinh nghe- nói- đọc- viết. Luyện từ và câu là một yếu tố quan trọng để
phát triển năng lực trí tuệ, kỹ năng giao tiếp, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp
của học sinh. Việc dạy Luyện từ và câu trong Tiểu học có một vai trò đặc biệt
quan trọng. Ngay từ ngày đầu đến trường các em đã được bắt đầu làm quen với
Luyện từ và câu, nó được dạy trong tất cả các phân môn Tiếng việt, ở đâu có
dạy tiếp nhận và sản sinh lời nói thì ở đó dạy Luyện từ và câu. Ngoài ra Luyện

(đơn vị nhỏ của câu). Là một giáo viên được nhà trường phân công dạy lớp 4, tôi
thấy việc giảng dạy cho học sinh nắm rõ khái niệm từ, biết vận dụng từ vào thực tế
bài học, vào cuộc sống giao tiếp là điều hết sức quan trọng. Mặt khác, học sinh
muốn viết câu đúng ngữ pháp, câu có hình ảnh, cảm xúc phải hiểu rõ từ. Hình ảnh,
cảm xúc được thể hiện rõ ở các từ đơn, từ ghép, từ láy (đặc biệt là từ láy).
Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ dạy ngữ pháp ở Tiểu học là giúp cho học
sinh nhận diện, phân loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các qui tắc cấu tạo và sử dụng
các đơn vị này trong hoạt động giao tiếp của mình. Đồng thời, ngữ pháp còn có
nhiệm vụ rèn luyện tư duy giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
Do đó, việc giảng dạy cho học sinh cần nắm chắc, phân biệt rõ cấu tạo các từ
sẽ là cơ sở cho việc viết văn hay, đúng ngữ pháp.
Chính vì vậy, từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: Phương pháp dạy Luyện
từ và câu “Khái niệm từ láy” . Với mong muốn tìm ra cách dạy tốt nhất để các em
hiểu và nắm chắc cấu tạo từ láy và vận dụng hết các tác dụng của nó vào quá trình sử
dụng ngôn ngữ trong học tập vào đời sống hằng ngày một cách chính xác, có hiệu
quả cao làm cho cuộc sống thêm giàu hình ảnh, giàu màu sắc, tươi tắn, vui vẻ hơn.
II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Tạo điều kiện để học sinh có cơ hội tham gia vào các hoạt động nhận thức,
khám phá, chiếm lĩnh các tri thức một cách tốt nhất để có điều kiện khắc sâu, nhớ
lâu, vận dụng tốt.
- Giúp học sinh nắm vững khái niệm ngữ pháp, biết vận dụng để giải các bài
tập, học tốt các bộ môn khác của Tiếng Việt cũng như trong ngôn ngữ giao tiếp
thông qua “Cách” phân tích dữ liệu.
2


- Đối với giáo viên cung cấp một số phương pháp mới, cách thức để hoàn
thành việc dạy khái niệm Luyện từ và câu thông qua việc “phân tích ngữ liệu” mới
để làm rõ những dấu hiệu bản chất của khái niệm.

năm học 2013-2014

3


PHẦN II: NỘI DUNG
I- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Cơ sở của bài viết này dựa trên cơ sở khoa học của phương pháp dạy học của
môn Tiếng Việt nói chung và cơ sở khoa học của phương pháp dạy Luyện từ và câu
nói riêng.
1- Cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Triết học Mác - Lênin là cơ sở phương pháp luận của phương pháp dạy
Tiếng Việt, giúp ta hiểu được đối tượng của khoa học ngôn ngữ một cách sâu
sắc, trang bị cho chúng ta phương pháp nghiên cứu đúng đắn.
Trong học thuyết Mác-Lênin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp
quan trọng của loài người, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất mà còn là phương tiện đặc trưng của loài người. Không có ngôn
ngữ, xã hội không thể tồn tại. Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, trao đổi tư
tưởng tình cảm thì nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của nhà trường là phát triển
ngôn ngữ cho học sinh. Tất cả các giờ dạy Tiếng Việt phải đi theo khuynh
hướng toàn diện đó là (nói, đọc, viết, nghe) và đặc biệt với phân môn Luyện từ
và câu phải đi nghiên cứu về ngữ pháp, từ ngữ... Học sinh cần phải hiểu rõ
người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình và cho người khác. Cho nên
ngôn ngữ cần sắc bén, rõ ràng, đúng đắn, dễ hiểu và chuẩn về ngữ pháp”. Các
Mác cho rằng “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy”.
Thật vậy, ngôn ngữ luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy, ngôn ngữ là phương
tiện diễn đạt tư duy của loài người. Tư duy của loài người không thể phát triển
nếu thiếu ngôn ngữ. Việc chiếm lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra những tiền đề phát
triển tư duy trong việc dạy học (Việc giải nghĩa từ) cũng có thể đi từ tư duy đến

đức, phát triển óc, thẩm mỹ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động.
Dạy cho các em học sinh Tiểu học hình thành các khái niệm từ láy cơ bản
vào trong quá trình nhận thức, nguyên tắc gắn lý thuyết với thực hành, nguyên
tắc trực quan, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc giáo dục và
phát triển của dạy học... do đó học sinh vận dụng những từ ngữ chuẩn mực đạt
đúng câu, hiểu rõ thực tế của từ, câu để áp dụng vào đặt câu, áp dụng tốt hơn
các môn học khác.
4 -Cơ sở tâm lý học:
1-Bản chất tâm lý quá trình hình thành khái niệm từ láy:
Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học về tri giác mang tính đơn giản, đại
khái, ít đi vào cụ thể chi tiết, không chủ động...
Đặc điểm này thể hiện ở chỗ các em rất khó khăn phân biệt chính xác sự
khác nhau và giống nhau giữa các sự vật. Trong khi đó các khái niệm ngữ
pháp hoàn toàn mang tính chất lý thuyết trừu tượng, cụ thể bằng các ngôn
liệu trực quan.
Ở cuối bậc Tiểu học, tuy ghi nhớ có chủ định của các em phát triển mạnh
nhưng ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quan trọng, ở giai đoạn này các
em phải ghi nhớ một cách máy móc, mà các khái niệm ngữ pháp được xây
dựng trên cơ sở ngữ liệu Tiếng Việt, trong khi Tiếng Việt là một ngôn ngữ hết
sức phức tạp khiến cho việc nắm các khái niệm ngữ pháp là rất khó khăn.
Quá trình dạy hình thành về khái niệm học sinh sẽ lĩnh hội được ở nhiều
mức độ khác nhau, có học sinh chỉ nắm được những thuộc tính bề ngoài ứng
mới một vài khái niệm của bản thân, có học sinh do không hiểu bản chất
khái niệm nên không thể dùng lời nói để diễn đạt nội dung khái niệm.
Trình độ lĩnh hội khái niệm có thể các mức độ:
+ Mức độ mô tả, tái hiện.
+ Mức độ giải thích vận dụng.
+ Mức độ chỉ dẫn biến hoá.
2- Dạy cho học sinh nắm khái niệm một cách vững chắc:
Lựa chọn hiện tượng, sự vật, các ví dụ điển hình để hình thành khái niệm

dễ phân biệt. Trong đó, vấn đề “Từ láy” bài dạy mới nên giáo viên cần nắm được quan
điểm của giáo trình và quan điểm sách giáo khoa Tiểu học để cung cấp cho học sinh
những khái niệm về “Từ láy” để các em nắm được và vận dụng vào bài học một cách
chính xác, đúng đắn kiến thức của bài học.
Khi dạy học giáo viên trung thành với sách giáo khoa, chưa có sự sáng tạo,
phương pháp giảng dạy chưa phù hợp, giáo viên chưa quan tâm đến mức độ tiếp thu bài
của học sinh để có biện pháp dạy học tốt hơn
Việc học, tự học , bồi dưỡng thường xuyên giáo viên còn chưa đầu tư thời gian
vẫn còn xem nhẹ
Học sinh nắm và hiểu kiến thức còn lơ mơ
Việc học về từ láy đối với các em rất ngại. Các em sợ mình còn nói sai. Thời gian
học phần từ láy còn ít
Giáo viên dạy theo kiến thức sách giáo khoa, chưa nâng cao thêm kiến thức
Năm học 2012- 2013 tôi được Ban giám hiệu phân công giảng dạy lớp 4. Sau khi
học xong phần từ láy. Tôi kiểm tra , đánh giá kết quả của học tập của học sinh đầu năm.
Thống kê kết quả khảo sát học tập của học sinh đầu năm:
6


Sĩ số
HS

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu


3

8,6

Qua khảo sát, tôi rút ra một số ưu, nhược điểm sau:
*Ưu điểm:
-Học sinh đã dần làm quen với cách thức học mới.
-Tich cực chủ động tham gia xây dựng bài, hăng hái phát biểu ý kién.
*Nhược điểm:
-Còn một số em học sinh trung bình, yếu vẫn còn nhận thức chậm, thậm chí
không biết tìm từ.
Sau khi học hết phần từ láy( Cuối học kì I), tôi đã kiểm tra các kiến thức có liên
quan đến từ láy. Lớp tôi chủ nhiệm, tôi thấy học sinh nhận thức còn nhầm:
-Khái niệm từ láy.
-Phân biệt từ láy với từ ghép.
-Chưa hiểu nghĩa của từ láy
Qua kiểm tra đánh giá tôi thấy học sinh trong lớp nhận thức từ láy chưa tốt do
một số nguyên nhân sau:
-Nắm chưa đúng khái niệm về từ láy.
-Còn nhầm lẫn giữa từ láy với từ ghép.
-Hiểu nghĩa của từ chưa đúng.
Từ những nguyên nhân trên, tôi cần đưa ra một số giải pháp sau:
+Cung cấp đầy đủ về khái niệm từ láy để giúp các em hiểu từ láy.
+Giúp học sinh phân biệt được từ láy và từ ghép.
+Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của từ láy.
Qua đợt khảo sát cuối học kì I, kết quả đạt như sau:
Thống kê kết quả khảo sát học tập của học sinh cuối học kì I:
Sĩ số
HS


15

42,9

8

22,8

0

0

Qua khảo sát, tôi rút ra một số ưu, nhược điểm sau:
* Ưu điểm:
+Giáo viên đã gây hứng thú học tập cho học sinh thông qua các giờ học trên lớp.
+Khuyến khích được học sinh có thành tích học tập tốt.
7


*Nhược điểm:
-Một số học sinh học lực yếu, nhận thức còn chậm
Quy trình áp dụng: Theo phương pháp đổi mới dạy học lấy học sinh làm
trung tâm, phát huy tính tích cực của người học, tôi đã xây dựng nên giáo án
đổi mới về phương pháp dạy học, nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh.
Các em biết được cách học không tiếp thu bài một cách thụ động mà nhằm để
các em nắm bắt đúng bản chất của vấn đề thông qua bài dạy.
* Hiệu qủa khi áp dụng vào thực tế lớp học.
Để giúp cho việc triển khai áp dụng phương pháp dạy học đạt kết quả tốt,
tôi đã đi sâu nghiên cứu phương pháp hướng dẫn học sinh Phương pháp dạy
luyện từ và câu “Khái niệm từ láy”. Song giáo viên phải vận dụng một cách

57,1

12

34,4

3

8,5

Yếu
TS

%

Với phương pháp này tôi vận dụng vào việc bồi dưỡng học sinh giỏi. Qua
kì thi giao lưu học sinh giỏi lớp 5 cấp Tỉnh năm học 2013- 2014 tôi đã đạt được
kết quả như:

Năm học
2013 2014

Tổng số
HS đạt giải
5

Nhất

Học sinh giỏi cấp Tỉnh
Nhì

có nghĩa) và “Từ láy” ( láy lại toàn bộ hoặc bộ phận hình thức âm thanh của
tiến gốc.
Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 định nghĩa về Từ láy: Từ láy là từ do hai hay
nhiều tiếng láy tạo thành”. Định nghĩa này chưa nói rõ cơ chế tạo từ trong từ
láy là cơ chế “Láy lại toàn bộ hoặc bộ phận tiếng gốc.” Cạnh đó, nếu chỉ nhấn
mạnh dấu hiệu “hai hay nhiều tiếng tạo thành” thì các từ ghép như : mặt mũi, đi
đứng, buôn bán, tươi tốt, nhỏ nhẹ.... cũng có đặc trưng ấy.
Nhưng mặt hợp lý của định nghĩa về từ láy trong sách giáo khoa Tiểu
học là nhấn mạnh các dấu hiệu hình thức của từ láy, giúp học sinh Tiểu học dễ
dàng nhận biết được từ láy trong văn bản. Đó cũng chính là mức độ cần dạy
cho học sinh Tiểu học về khái niệm “Từ láy” trong Tiếng Việt.
Cách phân loại từ láy dựa vào bộ phận được giữ lại trong âm tiết của hình
vị cơ sở.
a- Từ láy toàn bộ:
* Ví dụ: Xanh xanh, tim tím, xinh xinh.
Hình vị láy có thể lặp lại toàn bộ âm tiết cơ sở theo quy tắc biến âm
hoài thanh.
+ Quy tắc biến âm theo quan điểm truyền thống chia thành 2 nhóm:
- Nhóm cao có các thanh: Thanh không, thanh hỏi, thanh sắc.
- Nhóm thấp có các thanh: Thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng.
b- Từ láy bộ phận:
Là những từ láy có hình vị láy lặp lại một bộ phận âm tiết của cơ sở. Chia
thành 2 loại: láy âm, láy vần.
Ngoài ra còn có thể phân loại từ láy dựa vào vị trí của hình vị cơ sở so với
hình vị láy kết hợp với việc dựa vào sự khác nhau của bộ phận bị thay đổi.
- Từ láy âm có hình vị cơ sở ở trước.
- Từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau.
+ Việc nhận diện và phân biệt từ láy với nội dung từ đơn âm, đa âm, từ
ghép có những khó khăn nhất định.
+ Ta có thể dựa vào quy tắc chuyển hoá thanh điệu để xác định các từ láy đôi.

- Từ láy âm có hình vị cơ sở ở trước.
- Từ láy âm có hình vị cơ sở ở sau.
+ Các từ láy mà hình vị cơ sở đã mất nghĩa bởi vì ngoài chức năng gọi tên
chúng còn có chức năng miêu tả.
*Ví dụ: ồn ào, ấm ấp, êm ái, ốm o, ầm ĩ, óc ách, inh ỏi...
+ Trường hợp các tiếng trong từ cùng vắng khuyết đi phụ âm đầu khi đối
chiếu sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học ta có thể nghĩa rằng các từ trên không
phải là từ láy. Nhưng các từ trên đều giống nhau về hình thức ngữ âm cho nên một
số quan điểm cho rằng đó là từ láy nhưng những từ láy không điển hình.
+ Có quan điểm cho rằng do các âm tiết (tiếng) được biểu hiện trên chữ
viết chung có phụ âm đầu các nhà nghiên cứu Tiếng Việt có hai ý kiến. Một
cho rằng ở vị trí đầu mỗi tiếng một phụ âm các thanh hầu ( phương thức phát
10


âm phụ âm này là phương thức tắc, bộ phận tham gia và thanh hầu) các phụ
âm đó không dược thể hiện trên chữ Việt (giống như các thanh điệu của
Tiếng Việt).
- Ý kiến hai cho rằng ở vị trí này của âm tiết (tiếng không có phụ âm đầu) cả
hai cách hiểu trên đều cho rằng đó là từ láy. Khi dạy cho học sinh Tiểu học thì
giáo viên xem đây là những từ láy đặc biệt. Đặc biệt là ở chỗ nó không giống
các từ láy bình thường về hình thức ngữ âm.
* Ví dụ: ồn ào, ấm áp, ép uổng, êm ái, im ắng...
Thoạt nhìn và đối chiếu với định nghĩa v ề “từ láy” trong sách giáo khoa
Tiếng Việt Tiểu học, ta có thể nghĩ rằng các từ trên không phải là từ láy. Nhưng
nếu quan sát kĩ, ta thấy các từ trên đều giống nhau về hình thức ngữ âm: ở các
tiếng trong từng từ cùng vắng khuyết phụ âm đầu. Bên cạnh đó, đặc trưng ngữ
nghĩa của các từ này cũng gần giống với đặc trưng ngữ nghĩa nói chung của từ
láy. Vì vậy, một số người co rằng những từ này cũng là “từ láy”
*Ví dụ: Ồn ã, ấm áp, ép uổng, im ắng, ế ẩm, êm ả, ít ỏi, oi ả, ôm so, ao

viên quy nghĩa của tất cả các từ láy vào một trong hai dạng “ giảm nhẹ” hoặc “
mạnh hơn” (so với nghĩa của tiếng gốc) thì sẽ khó tránh được sự máy móc,
cứng nhắc, khiên cưỡng và hình thành ở học sinh một nhận thức không đầy đủ
rằng: nghĩa của từ này chỉ có hai dạng ấy mà thôi.
*Chú ý: Đối với các từ láy không xác định được tiếng gốc: (Ví dụ: lững thững,
thướt tha, nhỉ nhảnh, đủng đỉnh, bâng khuâng, thì thào, khúc khích....), đặc
trưng chung về nghĩa của những từ này cũng vẫn là tính chất cụ thể xác định,
gợi tả, gợi cảm.
*Cách phối hợp về âm thanh của các tiếng trong từ láy.
-Lặp lại một bộ phận hoặc toàn bộ âm thanh của các tiếng.
-Có sự hài hoà về âm thanh trong các bộ phận của tiếng.
Sự lặp lại và sự phối hợp hài hoà về âm thanh các tiếng có tác dụng tạo
sắc thái nghĩa cho từ láy.
* Các kiểu từ láy trong tiếng việt:
Trong Tiếng việt có 3 kiểu từ láy
1. Láy âm: Cả tiếng được láy (lặp) lại
Ví dụ: khó khăn, đỡ đần, sạch sành sanh.
2. Láy vần: Bộ phận vần được láy ( lặp) lại
Ví dụ: Bồn chồn, lẩm bẩm, lào xào,
3.Láy cả âm và vần : bộ phận phụ âm và bộ phận vần được láy ( lặp) lại.
Ví dụ: ngoan ngoãn, dửng dưng, tim tím, trăng trắng...
* Định nghĩa: Từ láy là từ do hai tiếng hay nhiều tiếng tạo thành các tiếng trong từ
láy có thể có một bộ phận hay toàn bộ âm thanh lặp lại.
Có những từ phức gồm một tiếng có nghĩa ghép với tiếng không có nghĩa
hoặc các tiếng đều không có nghĩa ghép lại với nhau để tạo nên từ mới. Các
tiếng này được láy phần âm hoặc phần vần hoặc cả phần âm và phần vần, đây
là các từ láy.
Ngoài ra trong Tiếng việt, từ láy thường có 3 dạng khác nhau:
1.Láy đôi: Từ láy có 2 tiếng
Ví dụ: tan tành, lủng củng, canh cánh, tà tà...

hạn chế. Đặc biệt là đối với địa bàn là giáo viên vùng sâu, vùng xa còn gặp rất
nhiều khó khăn trong việc giảng dạy đối với học sinh bậc Tiểu học.
Khi dạy học giáo viên chỉ thường trung thành với sách giáo khoa ít có sự sáng
tạo, chưa mạnh dạn có ý kiến đề xuất đến nội dung bài dạy, phương pháp giảng dạy
chưa phù hợp. Giáo viên còn chưa quan tâm đến mức độ tiếp thu bài của học sinh
để có biện pháp điều chỉnh hình thức tổ chức dạy học. Về kiến thức “Từ láy” đây là
một vấn đề khó, nan giải đối với những nhà biên soạn giáo trình để đào tạo giáo
viên, dẫn đến giáo viên còn nắm lơ mơ chưa rõ ràng về kiến thức. Vậy nên khi dạy
cho học sinh không thể có được những sáng tạo về hình thức tổ chức dạy học, chưa
mạnh dạn tự tin trong dạy học dẫn đến học sinh không nắm vững về ngữ pháp, vận
dụng vào thực hành lúng túng, làm bài lâu, không chính xác.
Học sinh nắm bắt kiến thức lơ mơ, thụ động. Từ thực tiễn trên làm cơ sở
để xây dựng nên những giải pháp về dạy khái niệm “Từ láy”.
Để nhận biết khái niệm “Từ láy” giáo viên cần tạo hứng thú cho học sinh
học tập.
Trong dạy học, tạo hứng thú cho học sinh là rất quan trọng. Nó gần như quyết
định hiệu quả của việc dạy học. Luyện từ và câu được đánh giá là khô khan trong
các phân môn Tiếng Việt. Vì vậy tạo hứng thú cho học sinh lại càng quan trọng.
13


Khi học sinh có hứng thú, các em sẽ tự giác, chủ động học tập thì giờ dạy mới diễn
ra nhẹ nhàng, học sinh chủ động nắm được kĩ năng, kiến thức.
Để tạo hứng thú cho học sinh, tôi thường tạo cho các em không khí sẵn sàng
học tập ngay trong từng hoạt động như sau:
Giới thiệu bài : Đây cũng là một bước quan trọng. Đó không chỉ đơn giản là
nêu mục đích, yêu cầu của tiết học mà còn là bước tạo không khí sôi nổi, thu hút
các em vào giờ học. Có thể giới thiệu bài bằng nhiều cách : liên hệ kiến thức cũ
trong bài trước đã học bằng trò chơi, hỏi đáp….
Giúp các em biết thêm nhiều từ, nắm được khái niệm Từ láy


14


Bài 4: Các tổ hợp: loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghêng nghênh, người người,
ngành ngành tổ hợp nào là từ láy?
Bài 5: -Tìm 5 từ láy chỉ giọng nói của trẻ em
-Tìm 5 từ láy nói về tình cảm phẩm chất của con người.
-Đặt câu với trong số từ đã tìm
Bài 6: Chọn từ láy trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau: (liếp
nhiếp, từ từ, tấp lập, líu lo, là là, tíu tít, hối hả, ríu rít)
Tiếng chim .......(1)........(2)..........báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt
trời ......(3).........nhô lên từ sau luỹ tre xanh. Khói bếp nhà ai .....(4)......... bay trong
gió. Đàn gà con .......(5)........ gọi nhau, .....(6)..........theo chân mẹ. Đường làng
đã ....(7).........mọi người ......(8).......ra đồng làm việc.
Bài 7:
Xếp các từ sau đây thành 2 nhóm( từ ghép, từ láy): châm chọc, chậm chạp,
mê mẩn, mong ngóng, nhỏ nhẹ, mong mỏi, tươi tốt, tươi tắn, phương hướng, vấn
vương, tre pheo, bếp núc, xe cộ.
Bài 8:
Phân loại các từ sau thành các nhóm theo 2 cách: núi đồi, rực rỡ, chen chúc,
đi đứng, dịu dàng, ngọt, thành phố, ăn, đánh đập, sáng sớm, sung sướng, sinh sôi,
suy sụp, sơ sài, sóng sánh, sơ sinh, sinh sự.
Bài 9:
Hãy xếp các từ sau thành 2 nhóm và đặt tên cho mỗi nhóm: ngoằn ngoèo,
khúc khích, đủng đỉnh, lêu nghêu, vi vu, líu lo, thiết tha, sừng sững, rì rầm, cheo leo.
Bài 10: Tìm các từ láy âm đầu trong đó có
a, Vần ấp ở tiếng đứng trước.
M: khấp khểnh
b,Vần ăn ở tiếng đứng sau:

Kết quả thực hiện
Tổng
số
HS
35

Điểm 10

Điểm 9

Điểm 8

Điểm 7

Điểm 6

Điểm 5

Điểm dưới
5

T
S

%

T
S

%

5

12,
3

3

8,9 2

%

%

%

5,7

Trong một lớp học bao giờ cũng có nhiều đối tượng như học sinh khá,
giỏi, học sinh trung bình và cũng có thể có cả học sinh yếu. Các bài tập trong
sách giáo khoa theo yêu cầu của Chuẩn kiến thức, kĩ năng thì mọi đối tượng
học sinh đều phải đạt được. Ngoài ra, vì là lớp học 2 buổi/ ngày có thời gian
rèn luyện thêm vào buổi chiều nên bản thân tôi thấy cần phải có các bài tập
dành cho học sinh khá, giỏi từng bước nâng cao chất lượng học sinh trung bình
và yếu. Sau giờ học buổi sáng, các em đã được làm các bài tập trong sách giáo
khoa. Đến buổi chiều, tôi cho các em rèn luyện thêm các bài tập mở rộng thêm.
Với bài tập này, học sinh khá, giỏi làm được. Tuy nhiên với học sinh trung bình
và yếu còn lúng túng thì giáo viên nên hướng dẫn học sinh.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy việc quan tâm đến các đối tượng học
sinh là một việc làm quan trọng, không thể thiếu trong quá trình giảng dạy nhất
là lớp học 2 buổi / ngày. Với những bài tập rèn luyện thêm vào buổi chiều đã

tích cực trong giờ học.
2-Giáo viên hướng dẫn học sinh cần phân biệt từ láy với từ ghép.
Ví dụ:
-Từ ghép: mặt mũi, đi đứng, buôn bán...
-Từ láy: xinh xinh, xấu xí, bồn chồn....
Từ đó giúp học sinh thấy được sự giống và khác nhau giữa từ láy và
từ ghép.
3- Giáo viên giúp học sinh hiểu rõ nghĩa của từ láy.
Với biện pháp này tuỳ theo trình độ học sinh trong lớp, nếu lớp có học
sinh trung bình nhiều thì tôi có thể giúp các em bằng cách cho các em đặt câu.
Ví dụ: Đặt câu với từ nhỏ nhẹ, nhỏ nhắn
- Nhỏ nhẹ : Cô ấy ăn nói nhỏ nhẹ.
-Nhỏ nhắn: Ngôi nhà nhỏ nhắn rất đẹp.
Nếu học sinh yếu không đặt được câu thì giáo viên giúp các em tìm ra
nghĩa của từ láy ( có thể dùng từ điển Tiếng Việt). Với biện pháp này vừa thu
hút được sự chú ý vừa giúp học sinh nhớ bài tốt hơn.
2- Mô tả các bước tiến hành dạy 1 giờ Luyện từ và câu Lớp 4
Trong quá trình giảng dạy Luyện từ và câu về khái niệm “Tứ láy” cùng với sự
tìm hiểu thực trạng giáo viên, học sinh nhà trường chúng tôi đã xây dựng cho mình
phương pháp dạy học, nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh. Các em biết được
17


cách học, không tiếp thu bài một cách thụ động mà nhằm để các em nắm bắt đúng
bản chất của vấn đề thông qua bài dạy

Ngày soạn 13/9/2013
Ngày giảng

Thứ ba ngày 17 tháng 9 năm 2014


-HS đọc nội dung bài tập và gợi
ý
-Tìm từ phức trong đoạn văn
=> HS và GV kết luận.
-Từ phức “thì thầm” do các
tiếng có âm đầu th) lặp lại tạo
thành.
-Hỏi: từ phức “lặng im” do 2
tiếng nào có nghĩa tạo thành?
+ Những từ phức nào do
những tiếng có âm đầu hoặc
vần lặp lại nhau tạo thành ?
+Những từ thì thầm, chầm
chậm, cheo leo, se sẽ gọi là từ
láy
+Những từ phức như thế nào
gọi là từ láy

HỌC SINH

1. Thế nào là từ phức ? Thế
nào là từ đơn ?
2. Từ phức khác từ đơn ở điểm
nào? Nêu ví dụ
-Cả lớp đọc thầm
-1Hs đọc câu thứ nhất
-1 em đọc khổ thơ tiếp theo

thì thầm, chầm chậm, cheo

xác định các tiếng trong các từ
phức (in nghiêng) có nghĩa hay
không. Nếu cả 2 từ đều có
nghĩa là từ ghép, mặc dù
chúng có thể giống nhau ở âm
đầu hay vần
VD: dẻo + dai = dẻo dai
-Những từ in đậm trong SGK là
tiếng có nghĩa giúp học sinh dễ
dàng nhận ra từ ghép.
- Giáo viên chốt lời giải đúng
Từ ghép
Câu a

-HS đọc các từ vừa in nghiêng
vừa im đậm.

- Từ phức lặng im do 2 tiếng
“lặng + im” tạo thành.
- Trong từ cheo leo, 2 tiếng cheo
và leo có vần eo lặp lại. Các từ
chầm chậm, se sẽ lặp lại cả âm
đầu và vần.
- Gọi 2 HS đọc ghi nhớ
- Gọi 1 HS lên bảng làm
- Cả lớp làm vở

ghi nhớ, đền thờ, bờ bãi,
tưởng nhớ
Câu b

Trong trường hợp có học
sinh
nói rằng “Cứng cáp “ là từ
ghép, GV cần giải thích cho
HS nghĩa của từng tiếng trong
từ ghép phải hợp với nghĩa
của cả từ. Trong từ “cứng
cáp”: tiếng “cứng” có nghĩanghĩa này hợp với nghĩa của
từ; tiếng “cáp”, nếu coi là có
nghĩa (chỉ loại dây điện to,
dây điện cao thế) thì nghĩa
này không hợp với nghĩa của
từ “cứng cáp” chỉ trạng thái
đã khoẻ, không còn yếu ớt. Vì
vậy trong từ “Cứng cáp” chỉ
tiếng “cứng” có nghĩa, tiếng
“cáp” không có nghĩa. Hai
tiếng này lặp lại âm đầu C
nên là từ láy.
-HS hoạt động nhóm
Bài tập 2: Nêu yêu cầu
-Gọi 1 HS đọc yêu cầu của bài
tập
- Yêu cầu HS hoạt động nhóm
- Phát phiếu cho các nhóm làm
bài
- Đại diện mỗi nhóm lên trình
bày
- HS
-HS hoạt động nhóm

nghĩa “ngay” trong “ngay
thẳng”, còn “ngay” trong “ngay
ngáy” không có nghĩa
4.Củng cố GV nhận xét tiết học
Yêu cầu mỗi HS về nhà tìm 5 từ
láy và 5 từ ghép chỉ màu sắc
Rút kinh nghiệm giờ dạy:..........................................................................................
.....................................................................................................................................
IV- KẾT QUẢ

Khi áp dụng những biện pháp trên vào việc giảng dạy phân môn Luyện
từ và câu, tôi thu nhận được một số kết quả sau:
-Các em yêu thích học phần từ láy.
-Tự tin, mạnh dạn hơn trong học tập và giao tiếp.
-Tỉ lệ học sinh dùng từ chính xác, tìm đúng từ và biết phân biệt được từ
láy , từ ghép
Lớp tôi trực tiếp giảng dạy có 100% học sinh là con em nông dân. Do
vậy cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dạy và học của nhà trường. Song
trong những năm gần đây, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã đã có sự
thay đổi nhận thức, tập trung chăm lo cho giáo dục nhất là giáo dục Tiểu
học. Được sự hỗ trợ của Nhà nước, nhà trường đã có một ngôi trường mới
khang trang sạch đẹp. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh của
trường đã có nhiều cố gắng. Nhà trường đã đạt trường Tiểu học chuẩn quốc
gia “Mức độ một”.
Song song với sự đổi thay về cơ sở vật chất, Ban giám hiệu nhà trường đã tập
trung chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng phương pháp mới lấy học
sinh làm trung tâm, phát huy vai trò tích cực của người học. Ngay từ những năm
đầu thực hiện chương trình thay sách giáo khoa mới, nhà trường đã triển khai
chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học. Với sự cố gắng nỗ lực của đội ngũ giáo
viên, chất lượng giáo dục của nhà trường đã có nhiều thay đổi.

sinh nắm thao tác so sánh tổng hợp.
+ Trình bày khái niệm chính xác hoá bản chất của dấu hiệu và các mối
quan hệ giữa chúng.
+ Cụ thể hoá khái niệm ngữ pháp được xem xét trên tài liệu ngôn ngữ mới,
ứng dụng kiến thức vào hoạt động lời nói thông qua các bài tập, những bước
trên là các giai đoan hình thành khái niệm ngữ pháp tương ứng với bài tập
Luyện từ và câu lớp 4.
+ Khi dạy Luyện từ và câu người giáo viên cần có thái độ mềm dẻo, không
tuyệt đối hoá, phiến diện, cứng nhắc, phải biết chọn những ngữ liệu điển hình, tránh
các trường hợp mơ hồ, có vấn đề còn nhiều tranh cãi.
+ Khi trình bày phải theo quan điểm sách giáo khoa Tiểu học. Việc lựa
chọn ngữ liệu, chọn thủ thuật trình bày khác với sách giáo khoa và hướng dẫn
giảng dạy, không có nghĩa là đưa ra một quan niệm ngược với quan điểm của
sách giáo khoa. Bên cạnh đó phải có một cái nhìn hệ thống nhất quán, thống
nhất trong cấp học.
22


+ Cần có chương trình bồi dưỡng thường xuyên để giáo viên nâng cao về
trình độ và kiến thức Luyện từ và câu vì có thể nói giáo viên Tiểu học đang
thiếu hụt về kiến thức Tiếng Việt và từ loại.
* BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Một là: Giáo viên trực tiếp giảng dạy phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, phù
hợp với điều kiện thực tế của lớp mình giảng dạy.
Hai là: Người giáo viên phải có tâm huyết với nghề, đặc biệt có năng lực
chuyên môn tốt, say sưa với công việc giảng dạy.
Ba là: Nhà trường phải thường xuyên mở những chuyên đề về môn Tiếng
việt, tổ chức tuyển chọn đội ngũ giáo viên có năng lực, có tinh thần trách
nhiệm cao với công việc giảng dạy Tiếng việt.

đến tất cả đối tượng học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên không ngừng học tập nâng
cao trình độ, tích luỹ kinh nghiệm, học hỏi đồng nghiệp phải luôn tích cực tìm tòi
cái mới áp dụng vào công việc dạy học nhằm đạt kết quả cao nhất.
Vì thời gian và phạm vi của đề tài có hạn nên tôi chưa có thể trình bày hết quá
trình thực hiện. Chỉ có điều cần khẳng định là việc đặt ra vấn đề cải tiến phương
pháp dạy học, tìm tòi để dùng các phương pháp vận dụng vào dạy hình thành các
khái niệm “Từ láy” là rất cần thiết. Vì vậy yêu cầu giáo viên phải đầu tư nhiều về
mặt thời gian để nghiên cứu về nội dung bài dạy, nghiên cứu thêm các loại tài liệu
để tìm ra các phương pháp phù hợp với bài dạy. Như vậy thì quá trình giảng dạy sẽ
đạt hiệu quả cao hơn. Bên cạnh những kết quả mà bản thân đã đạt được thì cũng
không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
*MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Thông qua nội dung của bài dạy thực nghiệm về hình thành khái niệm “ Từ
láy” bản thân tôi có những kiến nghị như sau:
Một là: Cần bồi dưỡng thêm về trình độ kiến thức môn Tiếng Việt nói
chung về phân môn Luyện từ và câu nói riêng, tăng cường cho giáo viên học tập
đổi mới phương pháp. Giáo viên cần thường xuyên trao đổi chuyên môn nghiệp
vụ với những người công tác lâu năm, giàu kinh nghiệm để đúc rút kinh nghiệm
trong quá trình giảng dạy, soạn bài theo hướng đổi mới phương pháp.
Hai là: Giáo viên cần lưu ý về nguyên tắc lập quan hệ hình thức và nội
dung, từ hình thức và nội dung tính bằng ngữ liệu do đó không nên dập khuân
theo một phương pháp nào cả mà phải căn cứ vào đối tượng học sinh để lựa
chọn phương pháp cho phù hợp.
Ba là: Khi dạy Tiếng việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói
riêng việc dùng trật tự cú pháp và quan hệ từ làm phương tiện ngữ pháp là một
đặc điểm nổi bật. Trật tự sắp xếp các từ trong câu là phương tiện chính để biểu
thị mối quan hệ ngữ pháp giữa các từ.
Bốn là: Cán bộ quản lý cần động viên, khuyến khích kịp thời những giáo viên

(Nhà xuất bản giáo dụcTrí)
4- Bài giảng về phương pháp dạy học Tiếng việt ở Tiểu học
(TS Phạm Thị Hoà - Trường ĐHSP Hà Nội II)
5- Sách hướng dẫn giảng dạy Tiếng việt Lớp 4 (Tập 1)
(Nhà xuất bản Giáo dục)
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status